B QUC PHềNG
HC VIN CHNH TR
NGUYN NG AN LONG
QUảN Lý KIểM ĐịNH CHấT LƯợNG GIáO DụC
CáC TRƯờNG TRUNG HọC CƠ Sở ở THàNH PHố Hồ
CHí MINH TRONG BốI CảNH ĐổI MớI GIáO DụC
LUN N TIN S QUN Lí GIO DC
H NI - 2019
B QUC PHềNG
HC VIN CHNH TR
NGUYN NG AN LONG
QUảN Lý KIểM ĐịNH CHấT LƯợNG GIáO DụC CáC
TRƯờNG TRUNG HọC CƠ Sở ở THàNH PHố Hồ CHí
MINH TRONG BốI CảNH ĐổI MớI GIáO DụC
Chuyờn ngnh
: Qun lý giỏo dc
Mó s
dục các trường trung học cơ sở
1.2
Các công trình nghiên cứu có liên quan đến quản lý kiểm định chất
lượng giáo dục trường trung học cơ sở
1.3
Đánh giá khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố và
những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết
Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG
GIÁO DỤC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRONG BỐI CẢNH
ĐỔI MỚI GIÁO DỤC
2.1
Những vấn đề lý luận về kiểm định chất lượng giáo dục trường trung
học cơ sở
2.2
Những vấn đề lý luận về quản lý kiểm định chất lượng giáo dục trường
trung học cơ sở trong bối cảnh đổi mới giáo dục
2.3
Những yếu tố tác động tới quản lý kiểm định chất lượng giáo dục
trường trung học cơ sở trong bối cảnh đổi mới giáo dục
Chương 3
CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG
GIÁO DỤC CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
3.1
Khái quát giáo dục trung học cơ sở và công tác kiểm định chất lượng
giáo dục ở thành phố Hồ Chí Minh
3.2
Khái quát về điều tra khảo sát thực trạng
3.3
5
15
15
23
36
42
42
65
86
94
94
101
105
120
129
130
137
137
139
164
189
193
194
203
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo
viên và kiểm định viên về mức độ quan trọng
của hoạt động kiểm định chất lượng các
trường trung học cơ sở ở thành phố Hồ Chí
Minh hiện nay
Kết quả đánh giá của các lực lượng tham gia
khảo sát về việc thực hiện các nội dung tự
đánh giá của hoạt động kiểm định chất lượng
các trường trung học cơ sở ở thành phố Hồ
Chí Minh hiện nay
Kết quả đánh giá của các lực lượng tham gia
khảo sát về việc thực hiện quy trình tự đánh
giá của hoạt động kiểm định chất lượng các
trường trung học cơ sở ở thành phố Hồ Chí
Minh hiện nay
Thực trạng đội ngũ kiểm định viên cấp trung
học cơ sở thành phố Hồ Chí Minh
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
75
94
94
95
95
96
96
96
98
98
102
105
106
107
111
17
18
19
Bảng 3.15
Bảng 3.16
Bảng 4.1
Bảng 4.2
Tổng hợp kết quả việc thực hiện nội dung hoạt
động đánh giá ngoài các trường trung học cơ
sở ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Đánh giá của các lực lượng tham gia khảo sát
về quy trình đánh giá ngoài các trường trung
học cơ sở ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Kết quả khảo sát năng lực làm việc của đội ngũ
tham gia đánh giá ngoài trường trung học cơ sở
thành phố Hồ Chí Minh
Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý,
kiểm định viên, giáo viên về quản lý kiểm
định chất lượng các trường trung học cơ sở
thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Đánh giá của các lực lượng tham gia khảo sát về
việc xây dựng kế hoạch tự đánh giá và đánh giá
ngoài các trường trung học cơ sở ở thành phố Hồ
Chí Minh hiện nay
Đánh giá của các lực lượng tham gia khảo sát
về mức độ tổ chức tự đánh giá và đánh giá
ngoài các trường trung học cơ sở ở thành phố
Hồ Chí Minh hiện nay
Đánh giá của các lực lượng tham gia khảo sát
về việc chỉ đạo thực hiện tự đánh giá và đánh
giá ngoài các trường trung học cơ sở ở thành
phố Hồ Chí Minh
127
129
167
169
29
30
31
32
33
34
35
Bảng 4.3
hiện nay
Tính tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi
171
Bảng 4.4
của các biện pháp
So sánh tương quan thứ hạng tính cần thiết và
Bảng 4.5
Bảng 4.6
ở nhóm thử nghiệm
Kết quả đánh giá việc huy động nhân lực để
182
kiểm định chất lượng giáo dục các trường
trung học cơ sở thành phố Hồ Chí Minh ở
37
Bảng 4.11
nhóm đối chứng
Bảng tần suất và tần suất tích lũy về kỹ năng
183
kiểm định chất lượng giáo dục các trường
trung học cơ sở của các kiểm định viên tham
gia thử nghiệm
184
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ
TT
1
Tên biểu đồ
Nội dung
112
Biểu đồ 3.3
cơ sở ở thành phố Hồ Chí Minh
Mối tương quan đánh giá mức độ năng lực làm
119
Biểu đồ 4.1
việc của đoàn đánh giá ngoài
Biểu đồ tương quan giữa tính cần thiết và tính khả
172
Biểu đồ 4.2
thi của các biện pháp
Biểu đồ tổng hợp đánh giá việc huy động nhân lực để
3
4
5
65
kiểm định chất lượng giáo dục các trường trung học
6
180
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài luận án
Giáo dục đào tạo đóng vai trò quan trọng đối với sự hưng thịnh của dân tộc, là
chìa khóa, động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Giáo dục nước ta đang trong bối
cảnh thế giới có nhiều thay đổi nhanh và phức tạp. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc
tế về giáo dục đã trở thành xu thế tất yếu. Cách mạng khoa học công nghệ, công
nghệ thông tin và truyền thông, kinh tế trí thức ngày càng phát triển mạnh mẽ, tác
động trực tiếp đến sự phát triển của các nền giáo dục trên thế giới. Đổi mới để nâng
cao chất lượng giáo dục đáp ứng được yêu cầu thay đổi của khoa học công nghệ và
toàn cầu hóa là nhiệm vụ được chú trọng hàng đầu với mọi nền giáo dục.
Ở Việt Nam, chất lượng giáo dục, quản lý chất lượng và nâng cao chất lượng
giáo dục đang là những vấn đề được Nhà nước và xã hội quan tâm. Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ XI đã nhấn mạnh phải “Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục,
đào tạo ở tất cả các bậc học” [2]. Trong Luật giáo dục năm 2005 cũng nêu rõ “Kiểm
định chất lượng giáo dục là biện pháp chủ yếu nhằm xác định mức độ thực hiện
mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục đối với nhà trường và cơ sở giáo dục
khác. Việc kiểm định chất lượng giáo dục được thực hiện định kỳ trong phạm vi cả
nước và đối với từng cơ sở giáo dục. Kết quả kiểm định chất lượng giáo dục được
công bố công khai để xã hội biết và giám sát. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo có
trách nhiệm chỉ đạo thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục” [6].
Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 - 2020 cũng đã xác định: Để đạt
được mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục, chúng ta cần thực hiện tốt 8 giải pháp,
trong đó “Đổi mới quản lý giáo dục” là giải pháp mang tính đột phá, giải pháp đã
nêu rõ: “Tập trung vào quản lý chất lượng giáo dục: chuẩn hóa đầu ra và các điều
kiện đảm bảo chất lượng trên cơ sở ứng dụng các thành tựu mới về khoa học giáo
các cấp học nói chung và cấp học trung học cơ sở nói riêng. Các Phòng Giáo dục và
Đào tạo và các trường trung học cơ sở trên địa bàn thành phố đã xây dựng kế hoạch
và triển khai các biện pháp quản lý, thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục.
Thực trạng công tác kiểm định chất lượng giáo dục dưới sự chỉ đạo của lãnh
đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo, sự cố gắng của Sở Giáo dục và Đào tạo cùng với sự nỗ
lực của các trường đạt được những kết quả bước đầu đáng ghi nhận. Tuy nhiên,
trong quá trình thực hiện công tác kiểm định chất lượng giáo dục, vẫn còn một số đơn
vị, cá nhân thực hiện thiếu quy trình, chưa đúng hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào
tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo. Còn một bộ phận cán bộ, giáo viên, nhân viên trong các
nhà trường chưa nhận thức đúng về kiểm định chất lượng, chưa hiểu rõ bản chất, quy
trình, cách triển khai tự đánh giá, chưa cập nhật thường xuyên, đầy đủ các văn bản chỉ
7
đạo của các cấp có liên quan đến giáo dục để vận dụng trong quá trình triển khai nhiệm
vụ. Quá trình thực hiện hoạt động tự đánh giá, một số trường đã hiểu sai về mục đích, ý
nghĩa, vai trò của công tác kiểm định chất lượng, triển khai không đủ quy trình nên
hiệu quả của hoạt động này không cao, thậm chí là hình thức (chỉ tập trung hoàn thành
báo cáo tự đánh giá, không triển khai hoạt động tự đánh giá theo quy trình 6 bước).
Một số đoàn đánh giá ngoài chưa làm tốt công tác tư vấn, hỗ trợ các nhà trường trong
việc đánh giá chính xác hiện trạng và xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng; còn
buông lỏng, nể nang, xuê xoa, chạy theo thành tích, đánh giá không sát kết quả mà nhà
trường đạt được... Quản lý công tác kiểm định chất lượng giáo dục còn bộc lộ những
hạn chế hạn chế, tồn tại như chưa nâng cao nhận thức về kiểm định chất lượng giáo
dục, chỉ đạo thiếu cương quyết, chưa có kế hoạch cụ thể, chất lượng báo cáo công tác
tự đánh giá và đánh giá ngoài chưa bảo đảm được tốt theo yêu cầu.
Có thể nói, chưa bao giờ chất lượng được toàn xã hội quan tâm và mong chờ
như ngày hôm nay, đặc biệt, khi mà giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu và là
động lực phát triển của toàn xã hội. Chúng ta chưa thể quên tình trạng học hết cấp
trung học cơ sở và trung học phổ thông nhưng chưa viết thành chữ trong các kỳ thi
hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học cơ sở ở Thành phố Hồ
Chí Minh trong bối cảnh đổi mới giáo dục.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận giải cơ sở lý luận về kiểm định chất lượng giáo dục và quản lý kiểm định
chất lượng giáo dục trường trung học cơ sở trong bối cảnh đổi mới giáo dục.
Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng kiểm định chất lượng giáo dục và quản
lý kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học cơ sở ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Đề xuất các biện pháp quản lý kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học
cơ sở ở Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh đổi mới giáo dục.
Tiến hành khảo nghiệm tính cần thiết, tính khả thi và thử nghiệm các biện
pháp đã đề xuất.
3. Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và giả thuyết khoa học
Khách thể nghiên cứu
Hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục các trường trung học cơ sở.
Đối tượng nghiên cứu
Quản lý kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học cơ sở ở Thành phố
Hồ Chí Minh trong bối cảnh đổi mới giáo dục.
9
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu quản lý kiểm định chất
lượng giáo dục trường trung học cơ sở công lập ở Thành phố Hồ Chí Minh đề xuất
và thử nghiệm 1 biện pháp quản lý kiểm định chất lượng giáo dục các trường trung
học cơ sở ở Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh đổi mới giáo dục.
Phạm vi về khách thể khảo sát: Gồm 18 trường trung học cơ sở (trong 3 quận
nội thành và 3 huyện) đại diện cho các trường: trường ở vùng khó khăn, trường
vùng nông thôn, trường ở khu đô thị mới, trường trong nội thành, Cụ thể là:
Cán bộ Sở Giáo dục và Đào tạo, cán bộ Phòng Giáo dục và Đào tạo, hiệu
trưởng, phó hiệu trưởng là 30 người.
cơ sở ở Thành phố Hồ Chí Minh và các quan điểm tiếp cận sau:
Tiếp cận hệ thống - cấu trúc
Quá trình giáo dục và đào tạo là một hệ thống trong đó có sự tương tác giữa
các thành tố như: Mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục,
môi trường giáo dục... Theo quan điểm hệ thống, nghiên cứu quản lý kiểm định chất
lượng giáo dục các trường trung học cơ sở ở Thành phố Hồ Chí Minh trong bối
cảnh đổi mới giáo dục phải được đặt trong mối quan hệ với mục tiêu, nội dung kiểm
định chất lượng giáo dục trường trung học cơ sở.
Tiếp cận lịch sử, xã hội
Quản lý kiểm định chất lượng giáo dục các trường trung học cơ sở ở Thành
phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh đổi mới giáo dục nói riêng luôn gắn với lịch sử, văn
hóa của từng quốc gia, vùng miền và phù hợp với sự phát triển của thời đại. Do vậy,
trong mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử, xã hội, quản lý kiểm định chất lượng giáo
dục các trường trung học cơ sở ở Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh đổi mới
giáo dục đòi hỏi có sự tương thích với xã hội về mục đích, nội dung, phương pháp, cách
thức tổ chức... Quản lý kiểm định chất lượng giáo dục các trường trung học cơ sở ở
Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh đổi mới giáo dục không tách rời với các yêu
cầu đòi hỏi của xã hội trong từng thời kỳ và xu thế đổi mới trong giáo dục.
Tiếp cận thực tiễn
Thực tiễn là nguồn gốc, là động lực, là mục tiêu, là tiêu chuẩn để đánh giá
kết quả của mọi hoạt động. Những yêu cầu của thực tiễn giáo dục sẽ là những
tiêu chí cụ thể để đánh giá kiểm định chất lượng giáo dục và quản lý kiểm định
11
chất lượng giáo dục các trường trung học cơ sở ở Thành phố Hồ Chí Minh . Bởi
vậy, khi nghiên cứu quản lý kiểm định chất lượng giáo dục các trường trung học cơ
sở ở Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh đổi mới giáo dục phải dựa trên cơ sở
thực tiễn về đối tượng, địa bàn nghiên cứu, điều kiện thực hiện cụ thể nhằm làm
sáng tỏ thực trạng quản lý kiểm định chất lượng giáo dục các trường trung học cơ
lượng giáo dục theo quan điểm thực tiễn là thỏa mãn các nhu cầu của người học, vì vậy
kiểm định chất lượng giáo dục phải trên cơ sở các nhu cầu của người học để xây dựng
các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng. Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên
cứu của khoa học chuyên ngành và liên ngành, bao gồm:
Phương pháp quan sát: Thu thập trực tiếp thông tin về tất cả những gì đang diễn
ra trong thực tế hiện nay ở các trường trung học cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh và
ghi chép trung thực những nhân tố có liên quan đến đối tượng và mục đích nghiên cứu.
Phương pháp tọa đàm trao đổi: Tọa đàm, trao đổi với Hiệu trưởng, giáo viên ở
các bộ môn và cán bộ quản lý cấp phòng và cấp sở, học sinh ở các trường, từ đó rút
ra những kết luận phục vụ nghiên cứu.
Phương pháp điều tra: Thu thập, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp các tài liệu
đã có ở các trường trung học cơ sở ở Thành phố Hồ Chí Minh làm tư liệu cho luận
án. Qua quá trình điều tra chọn lựa các biện pháp thích hợp để đảm bảo tính ổn định
và làm sáng tỏ khả năng thực hiện các biện pháp.
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Qua nhiều năm bản thân đã tham gia
giảng dạy, làm công tác quản lý, tổng kết rút kinh nghiệm trong công tác, nay được
tham gia lớp cao học chuyên ngành quản lý giáo dục. Từ những kiến thức lý thuyết
và những bài học thực tiễn đã được tổng kết rút kinh nghiệm, đúc kết lại thành
những ý kiến tham gia xây dựng các biện pháp.
Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: Thu thập, phân tích các sản phẩm minh
chứng kết quả hoạt động giáo dục và quản lý nhà trường của cán bộ quản lý, giáo
viên, học sinh. Từ sản phẩm đối chiếu với mục tiêu đã xác định, làm cơ sở xác định
các chỉ báo, tiêu chí, tiêu chuẩn trong kiểm định chất lượng giáo dục.
Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Xin ý kiến chuyên gia, các nhà khoa học,
cán bộ quản lý giáo dục về sử dụng tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường
trung học cơ sở, trao đổi phỏng vấn hoặc phản biện về nội dung nghiên cứu có liên
quan đến đề tài luận án.
13
14
đánh giá chất lượng trường trung học cơ sở. Trên cơ sở tiếp cận theo mục tiêu quản lý
và chức năng quản lý, tác giả đã đi sâu phân tích mục tiêu và chức năng quản lý kiểm
định chất lượng giáo dục trường trung học cơ sở thông qua các khâu lập kế hoạch, tổ
chức thực hiện, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra đánh giá việc thực hiện hoạt động kiểm
định chất lượng giáo dục trường trung học cơ sở.
Ý nghĩa thực tiễn
Vận dụng lý luận trên vào đánh giá vấn đề cơ bản của thực trạng là: Thực
trạng kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học cơ sở qua các khâu tự đánh
giá và đánh giá ngoài theo tiêu chuẩn và thực trạng quản lý kiểm định chất lượng
giáo dục tại Thành phố Hồ Chí Minh qua các khâu: Lập kế hoạch - tổ chức - chỉ đạo
- kiểm tra. Trong đó, khâu tổ chức tập huấn chuyên môn về kiểm định chất lượng
giáo dục là yếu tố quan trọng của công tác tổ chức. Ngoài ra, luận án còn phân tích
đánh giá chuyên sâu thực trạng về nội dung đào tạo kiểm định viên cũng như năng
lực kiểm định viên phổ thông hiện nay. Luận án đã rút ra được những nhận định về
thực trạng quản lý kiểm định chất lượng giáo dục thông qua yếu tố như về phân cấp
quản lý, nhận thức, kiểm định viên, tiêu chuẩn, chính sách,…
7. Kết cấu của luận án
Luận án gồm: Mở đầu, 4 chương, kết luận và kiến nghị; Công trình khoa học
của tác giả đã công bố; Danh mục tài liệu tham khảo; Phụ lục.
15
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến kiểm
định chất lượng giáo dục các trường trung học cơ sở
Kiểm định chất lượng giáo dục đã được hình thành và phát triển từ lâu. Hiện
nay, hoạt động này ngày càng phổ biến và trở thành một xu hướng toàn cầu trong
quỹ liên bang. Do đó, kiểm định phục vụ mục đích đảm bảo chất lượng học tập cho
sinh viên và công chúng, tạo điều kiện cho sinh viên tiếp cận các quỹ liên bang để
vay vốn và các loại quỹ hỗ trợ khác, dễ dàng chuyển giao các khóa học và chương
trình giữa các trường cao đẳng và đại học cũng như đáp ứng niềm tin của người sử
dụng lao động.
Tương tự, Hội đồng các Bộ trưởng Giáo dục Đông Nam Á (South East Asian
Ministers of Education Organization - SEAMEO) (2012) xác định, kiểm định chất
lượng là quá trình đánh giá của bên ngoài về chất lượng và hiệu lực của các yếu
tố/quá trình (của hệ thống quản lý) trong việc thực hiện sứ mệnh, mục tiêu của nhà
trường; so sánh nhà trường với các chuẩn mực chất lượng chung (của khu vực và
thế giới) để công nhận về chất lượng giáo dục, được công bố công khai để xã hội
biết và giám sát [109].
Trải qua quá trình phát triển, với những ưu thế nhất định, kiểm định chất lượng
đã được các bậc giáo dục khác ngoài đại học sử dụng để kiểm định các chương trình
giáo dục cũng như các cơ sở giáo dục. Theo đó, khái niệm kiểm định chất lượng đã
được mở rộng hơn. Basso (2003) cho rằng, kiểm định là một quy trình được sử
dụng bởi các trường công lập và tư thục để đánh giá hiệu quả giáo dục theo quy
định. Mặc dù kiểm định được xem xét như một chỉ số chất lượng cho trường học,
nhưng mục tiêu chính của quy trình kiểm định là cải tiến trường học liên tục [69].
Tương tự, Vlãsceanu và cộng sự (2007) cho rằng, kiểm định chất lượng là quá trình
mà một tổ chức chính phủ hoặc tư nhân đánh giá chất lượng của toàn bộ cơ sở giáo
dục hoặc của một chương trình giáo dục cụ thể nhằm chính thức công nhận cơ sở
hoặc chương trình đã đáp ứng các tiêu chuẩn hoặc tiêu chí tối thiểu nào đó do tổ
chức đánh giá đặt ra [115]. Đồng quan điểm, Hala A. Sabri (2006) nhấn mạnh, kiểm
định liên quan đến một quá trình đánh giá và xem xét cho phép khóa học hoặc cơ sở
đào tạo giáo dục được công nhận hoặc chứng nhận đáp ứng các tiêu chuẩn quy định.
Trên bình diện quốc tế, kiểm định thường là một trong những bộ phận chính của
đảm bảo chất lượng, trong đó đề cập đến các quy trình xem xét, đánh giá và giám
sát đang diễn ra áp dụng cho tất cả các nhà cung cấp giáo dục được công nhận để
Tạo điều kiện cho sự dịch chuyển của người học [96].
Theo Bộ Giáo dục Hoa Kỳ, trong khi bằng cấp hoặc chứng chỉ từ một trường
được công nhận phù hợp có thể mang lại khoản đầu tư hoàn vốn đặc biệt, thì việc
chứng nhận từ một trường không được công nhận có thể là một sự lãng phí rất lớn
18
cả về tiền bạc và thời gian. Đó là một phần khiến cho việc kiểm định cơ sở đào tạo
và chương trình cấp bằng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Tại Hoa Kỳ, công
nhận là một quá trình đánh giá tự nguyện, phi chính phủ. Nói cách khác, các
trường không phải được công nhận để mở cửa hoặc cung cấp chương trình giáo
dục. Theo Bộ Lao động Hoa Kỳ, mục tiêu của kiểm định là để đảm bảo rằng các tổ
chức giáo dục đáp ứng mức độ chất lượng chấp nhận được. Mục tiêu này được
thực hiện bằng cách công nhận các cơ quan kiểm tra cá nhân các trường học và
chương trình để đảm bảo tiêu chuẩn giáo dục tối thiểu được đáp ứng. Mặc dù, các
cơ quan kiểm định khác nhau về quy mô và phạm vi, họ chia sẻ mục tiêu chung là
đảm bảo tất cả các tổ chức giáo dục theo cùng tiêu chuẩn chất lượng hàng năm.
Trong khi một số trường học và chương trình được công nhận trong khu vực,
những trường khác được cung cấp công nhận bởi một cơ quan kiểm định quốc gia.
Ngoài ra, các trường khác có thể được công nhận bởi các cơ quan kiểm định
chuyên ngành tập trung vào các ngành hoặc loại chương trình giáo dục cụ thể.
Nhìn chung, các bước trong quy trình kiểm định bao gồm: (1) Chuẩn bị và tự kiểm
tra: Các trường chuẩn bị các tài liệu (báo cáo bằng văn bản) thể hiện kết quả thành
tích của tổ chức, đảm bảo làm nổi bật những thành tựu cụ thể giúp tổ chức đáp
ứng các tiêu chuẩn của cơ quan kiểm định và chứng nhận; (2) Đánh giá đồng cấp:
Sau khi nộp giấy tờ chính thức, các đồng nghiệp hành chính và giảng viên tiến
hành đánh giá chuyên sâu các tài liệu đã chuẩn bị, báo cáo bằng văn bản và các
hoạt động chung của trường; (3) Tham quan và kiểm tra: Sau khi đánh giá đồng
nghiệp đã được hoàn thành, hầu hết các tổ chức kiểm định cử một nhóm chuyên
gia đến thăm trường. Đội ngũ này thường gồm các đồng nghiệp và các thành viên
cơ quan kiểm định cơ sở đào tạo và chương trình giáo dục, Hoa Kỳ đang trở thành
một quốc gia xuất khẩu đáng kể về đảm bảo chất lượng bằng cách kiểm định và
công nhận giáo dục sau trung học ở các quốc gia phát triển (CHEA, 2008) [70].
Theo CHEA, vào năm 2006 - 2007, 40 cơ quan kiểm định đã hoạt động tại 52 quốc
gia, công nhận 385 tổ chức và chương trình không thuộc Hoa Kỳ. Ewell (2008) chỉ
rõ, sự công nhận của Hoa Kỳ có thể cung cấp một bước đệm bổ sung trong một thị
trường địa phương cạnh tranh, đặc biệt là cho các tổ chức tư nhân [78]. Hayward
(2002) cũng nêu rõ, trong giáo dục đại học, một số trường đại học và cao đẳng nước
ngoài muốn sự công nhận của Hoa Kỳ bởi vì, ít nhất là tại thời điểm này, đây là
“Tiêu chuẩn vàng” trong nhiều lĩnh vực của giáo dục đại học. Việc các tổ chức ở
Nam Mỹ, châu Á, Đông Âu được các chính phủ khuyến khích tìm kiếm sự kiểm
định quốc tế, đặc biệt là Hoa Kỳ, thực sự đã góp phần vào sự thịnh vượng của sự
kiểm định của Hoa Kỳ trên toàn thế giới [84].
20
1.1.2. Các công trình nghiên cứu ở trong nước
Trong những năm gần đây, một trong những chuyển biến mạnh mẽ, có chiều
sâu, thực chất, hiệu quả của nền giáo dục nước ta là công tác bảo đảm, kiểm định
chất lượng được triển khai rộng rãi. So với nhiều quốc gia khác, hoạt động kiểm
định chất lượng ở Việt Nam vẫn là một lĩnh vực hoạt động còn khá mới mẻ song đã
nhận được sự quan tâm, chú trọng của ngành giáo dục. Điều này xuất phát từ nhu
cầu tất yếu khách quan của công tác đào tạo nguồn nhân lực cho công cuộc phát
triển kinh tế - xã hội đất nước, đặc biệt là trong bối cảnh Chính phủ chủ trương đổi
mới cơ bản, toàn diện nền giáo dục.
Ở nước ta, Bộ Giáo dục và Đào tạo lựa chọn kiểm định chất lượng giáo dục
như một biện pháp chính thức để nâng cao chất lượng giáo dục. Được triển khai bắt
đầu từ năm 2002 với mô hình kiểm định chất lượng giáo dục đại học, đến nay, công
tác kiểm định chất lượng đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Kiểm định chất
lượng giáo dục ở nước ta đã từng bước được triển khai thực hiện ở tất cả các bậc
Xuân Sang và Trần Thị Kim Oanh (2017) khẳng định, đánh giá và kiểm định chất
lượng giáo dục là hoạt động cần thiết và quan trọng tại các cơ sở giáo dục. Đối với
nước ta, hoạt động này ngày càng trở nên phổ biến bởi nó là một công cụ hiệu quả giúp
các trường kiểm soát và đảm bảo chất lượng đào tạo nhằm nâng cao năng lực cạnh
tranh. Kiểm định chất lượng giáo dục giúp các trường có cơ hội xem xét lại toàn bộ
hoạt động của tổ chức một cách hệ thống, từ đó điều chỉnh các hoạt động theo một
chuẩn mực nhất định [62]. Theo đó, kết quả kiểm định chất lượng giáo dục của các
trường đạt hay không so với tiêu chuẩn quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ góp
phần định hướng cho các hoạt động sau của xã hội: giúp học sinh và phụ huynh lựa
chọn trường, làm cơ sở để nhà trường kêu gọi đầu tư từ các tổ chức xã hội, định hướng
phát triển cho các trường nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh trên tất cả các lĩnh vực
về giáo dục (Trần Thanh Bình, 2009) [5].
Thực tiễn kiểm định chất lượng giáo dục khá đa dạng và phức tạp, tuy nhiên theo
tổng kết của Trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội thì ở
Việt Nam, kiểm định chất lượng giáo dục đại học hay phổ thông đều có điểm chung là
thực hiện theo quy trình đánh giá (bao gồm tự đánh giá, đánh giá ngoài và thẩm định
công nhận chất lượng) dựa trên các tiêu chuẩn, tiêu chí để xác định mức độ nhà
trường/chương trình đào tạo đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng giáo dục. Hiện nay, quy
trình kiểm định chất lượng giáo dục phổ thông ở nước ta được thực hiện theo quy trình
gồm 4 bước: (1) Tự đánh giá của các cơ sở giáo dục; (2) Đăng ký đánh giá ngoài của