(Luận văn thạc sĩ) quản lý công tác xã hội hóa sự nghiệp giáo dục mầm non ở huyện thạch thất thành phố hà nội trong bối cảnh phát triển hiện nay - Pdf 70

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

ĐỖ THỊ TH NGA

QUẢN LÝCƠNG TÁC XÃ HỘI HỐ SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC
MẦM NON Ở HUYỆN THẠCH THẤT THÀNH PHỐ HÀ NỘI

TRONG BỐI CẢNH PHÁT TRIỂN HIỆN NAY

Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đặng Quốc Bảo

HÀ NỘI - 2009


NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BC
Biên chế
BT
Bình thường
BKC
Bán kiên cố
CBQL
Cán bộ quản lý

Cao đẳng

MG
Mẫu giáo
NT
Nhà trẻ
NN
Nơng nghiệp
NV
Nhân viên
NXB
Nhà xuất bản
P
Phịng
SDD
Suy dinh dưỡng
SL
Số lượng
TC
Trung cấp
TCCN
Trung cấp chuyên nghiệp
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
TS
Tổng số
UBND
Uỷ ban nhân dân
XDCB
Xây dựng cơ bản


Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CƠNG TÁC XÃ
HỘI HỐ SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC M ÂM NON ...............................

8

1.1. Tổng quan .......................................................................................

8

1.2. Những khái niệm và quan điểm cơ bản của đề tài .............................. 11
1.2.1. Quản lý giáo dục .............................................................................
1.2.2. Xã hội hoá .......................................................................................
1.2.3. Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục ........................................................
1.2.4. Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục Mầm non ........................................

11
15
15
18

1.3. Quản lý về cơng tác xã hội hố sự nghiệp giáo dục Mầm non .......... 22
1.3.1. Bản chất của cơng tác xã hội hố sự nghiệp giáo dục Mầm non ............ 22
1.3.2. Vai trị của cơng tác xã hội hoá sự nghiệp giáo dục Mầm non
trong giai đoạn hiện nay ............................................................................ 22
1.3.3. Đặc điểm quản lý xã hội hoá sự nghiệp giáo dục Mầm non ............. 24
1.3.4. Biện pháp quản lý công tác XHH-SNGDMN .................................. 5
1.3.5. Nội dung và nguyên tắc chỉ đạo thực hiện xã hội hoá sự nghiệp
giáo dục Mầm non .................................................................................... 25
1.3.6. Con đường thực hiện xã hội hoá sự nghiệp giáo dục Mầm non ....... 27

3.1.3. Định hướng phát triển xã hội hoá sự nghiệp GDMN giai đoạn
2006 – 2010 .............................................................................................. 67
3.1.4. Mục tiêu chung ...............................................................................

8

3.1.5. Phương hướng phát triển xã hội hoá sự nghiệp giáo dục Mầm
non của huyện Thạch Thất đến năm 2015 ................................................ 68
3.2. Biện pháp quản lý ............................................................................. 73
3.2.1. Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác xã hội hóa
sự nghiệp giáo dục Mầm non trong đời sống cộng đồng .......................... 73
3.2.2. Phát huy tác dụng nhà trường Mầm non vào đời sống cộng đồng .... 78


3.2.3. Huy động các lực lượng xã hội tăng cường nguồn lực cho các
trường Mầm non ....................................................................................... 84
3.2.4. Phối hợp 3 mơi trường giáo dục: Nhà trường - gia đình - xã hội
tăng cường hiệu quả công tác XHH- SNGD Mầm Non ............................. 87
3.2.5. Thực hiện dân chủ hoá phát triển sự nghiệp GDMN ...................... 90
3.3. Quan hệ giữa các biện pháp............................................................... 92
3.4. Thăm dị tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp.................... 93
3.4.1. Quy trình khảo nghiệm .................................................................... 93
3.4.2. Mối tương quan giữa tính cấp thiết và tính khả thi của các biện
pháp quản lý đề xuất ................................................................................. 97
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ......................................................... 98
1. Kết luận ................................................................................................ 98
2. Khuyến nghị ......................................................................................... 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................... 103
PHỤ LỤC


1


Đảng đã chỉ rõ “Chăm lo phát triển giáo dục Mầm non”, thực hiện “Chuẩn
hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá”. Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục Mầm non là
một quy luật và là khâu then chốt để thực hiện “Chuẩn hoá”. “Hiện đại
hoá”. Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước ta đến năm 2020 là “Xây
dựng hoàn chỉnh và phát triển bậc học Mầm non cho hầu hết trẻ em trong độ
tuổi. Phổ biến kiến thức ni dạy trẻ cho các gia đình”.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X tiếp tục khẳng định:
“Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế
quản lý, nội dung, phương pháp dạy và học; thực hiện chuẩn hoá, hiện đại
hoá, xã hội hoá, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam” [29, tr.95].
- Luật Giáo dục năm 2005 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khẳng định rõ ở điều 12 về “Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục”. Theo tinh
thần của Luật Giáo dục, công tác quản lý chỉ đạo, phát triển giáo dục Mầm
non cần gắn với công tác vận động xã hội mới đem lại hiệu quả cao. Giáo dục
có một vai trị đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi dân
tộc cũng như toàn thể nhân dân. Chiến lược giáo dục, chiến lược con người là
bộ phận quan trọng của chiến lược kinh tế - xã hội... Bởi chức năng chủ yếu
của giáo dục là hình thành và phát triển nhân cách thế hệ trẻ. Phát triển giáo
dục không phải chỉ quan tâm đến quy mô, tốc độ, số lượng mà đặc trưng chủ
yếu là tổ chức các quá trình giáo dục, thơng qua việc tổ chức dạy và học dưới
nhiều hình thức. Nhằm chuẩn bị cho thế hệ trẻ đi vào cuộc sống xã hội. Nhất
là đối với giáo dục Mầm non mà đặc trưng của nó là tính giáo dục gia đình và
tính tự nguyện cao. Trẻ em hôm nay sẽ là chủ nhân đất nước những thập niên
đầu thế kỷ XXI, vì thế cần phải bắt đầu từ việc chăm sóc, giáo dục trẻ em từ
tuổi mầm non và trách nhiệm này không chỉ thuộc về nhà trường Mầm non
mà còn là trách nhiệm của gia đình và của tồn xã hội.
Tầm quan trọng của xã hội hoá giáo dục đối với sự phát triển đi lên của

quyết Đại hội Đảng những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện
Thạch Thất, cơng tác xã hội hố giáo dục được tiến hành tích cực với nhiều

3


hình thức phong phú, cùng với việc vận động xã hội đóng góp nhân lực, vật
lực, huy động các nguồn đầu tư cho giáo dục. Đặc biệt là bậc học mầm non
thực hiện đa dạng hố các loại hình trường lớp, gắn kết giáo dục nhà trường
với cộng đồng xã hội để huy động học sinh đến trường lớp. Do vậy, sự nghiệp
giáo dục Mầm non của huyện Thạch Thất đã thu được những thành tựu đáng
tự hào về sự phát triển quy mô, số lượng và chất lượng giáo dục và đào tạo.
Tuy nhiên, những thành tích đã đạt được, việc thực hiện xã hội hoá
giáo dục mầm non ở huệyn Thạch Thất vẫn cịn gặp khơng ít khó khăn, trở
ngại như ở một số xã cấp uỷ Đảng, chính quyền, đồn thể phụ huynh chưa
nhận thức được vị trí, tầm quan trọng của giáo dục Mầm non họ coi việc
giáo dục Mầm non chỉ là trông giữ không học hành gì... nên khơng đưa học
sinh đến trường lớp. Do vậy tỷ lệ học sinh đến trường thấp nếu có đưa đến
trường lớp trưa đón về khơng cho ăn ở trường... Khơng ít quan niệm khác
nhau cho rằng nội dung chính của xã hội hố giáo dục là huy động kinh phí
trong nhân dân hoặc có nơi quan niệm xã hội hố giáo dục là để dân lo là
chính dẫn đến việc đầu tư nguồn lực cho phát triển giáo dục chưa được quan
tâm đúng mức. Mặt khác việc quản lý mầm non về cơng tác xã hội hố giáo
dục Mầm non còn thiếu một số biện pháp phù hợp, hiệu quả. Chính từ thực
trạng trên tác giả chọn đề tài “Giải pháp quản lý quản lý nhằm nâng cao
hiệu quả cơng tác xã hội hố giáo dục Mầm non ở huyện Thạch Thất
trong giai đoạn hiện nay”.
* Về mặt khoa học: Xã hội hoá giáo dục Mầm non là một đề tài khơng
hồn tồn mới và đã được một số tác giả nghiên cứu, tổng kết thực tiễn. Song,
đối với địa bàn huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội cịn là vấn đề mới.

5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận, xã hội hố giáo dục và quản lý cơng tác xã
hội hoá giáo dục Mầm non
5.2. Khảo sát thực trạng cơng tác xã hội hố giáo dục và quản lý cơng tác
xã hội hốệư nghiệp GDMN

5


5.3. Đề xuất một số giải pháp quản lý công tác xã hội hoá sự nghiệp GDMN
ở huyện Thạch Thất - thành phố Hà Nội; kiểm định tính cấp thiết và tính
khả thi của các biện pháp đưa ra.
6. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu giới hạn nghiên cứu vấn đề XHH-SNGDMN trên địa
bàn huyện Thạch Thất – Thành phố Hà Nội trong bối cảnh phát triển hiện nay.
Đề tài tập trung nghiên cứu công tác XHH sự nghiệp GDMN trên các
mặt cơ bản sau:
- Sự lãnh đạo của Cấp uỷ, chính quyền đối với cơng tác XHH-SNGDMN
- Vai trị của Phịng GD&ĐT trong cơng tác XHH-SNGDMN.
- Sự phối hợp của các cơ quan, đoàn thể, cá xã thị trấn, các tổ chức xã
hội để phát triển GDMN.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp, khái qt hố những vấn đề lý luận cơ bản của đề tài làm
cơ sở cho nghiên cứu thực tiễn các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cơng
tác xã hội hố sự nghiệp giáo dục Mầm non ở huyện Thạch Thất.
7.2. Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
Vận dụng phương pháp xã hội học để nghiên cứu.
- Phương pháp quan sát các hoạt động xã hội hoá giáo dục ở các trường
Mầm non trong huyện để thu thập số liệu, phát hiện những vấn đề mới.
- Phương pháp điều tra, khảo sát thâm nhập thực tiễn: Các đối tượng

với mỗi giai đoạn phát triển, mối quan hệ hai chiều giáo dục - xã hội thúc đẩy
nhau cùng phát triển. Tiến trình phát triển của xã hội lồi người từ khi có giai
cấp và hình thành Nhà nước cho đến nay, chúng ta thấy giáo dục là một bộ
phận của xã hội và nó phục vụ cho sự phát triển của xã hội, giáo dục là sản
phẩm của xã hội vừa là cái nôi của giáo dục vừa là môi trường cho sự phát
triển giáo dục, giáo dục tách khỏi xã hội thì giáo dục khơng có lý do để tồn
tại; giáo dục là một trong những nhân tố đánh dấu những nấc thang trình độ
văn minh của các thời đại trong lịch sử. Sự tồn tại phát triển của giáo dục
chịu sự chi phối của sự phát triển kinh tế - xã hội và ngược lại giáo dục có vai
trị hết sức to lớn trong việc tái sản xuất sức lao động xã hội, tạo ra môi
trường cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Chính vì điều mối quan hệ biện
chứng giữa giáo dục và cộng đồng xã hội thường xuyên được diễn ra cùng
với quá trình phát triển của xã hội loài người.
Với tầm quan trọng như vậy, ngày nay giáo dục luôn được coi là quốc
sách hàng đầu của nhiều Quốc gia trên thế giới. Việc quan tâm, đầu tư, huy
động mọi nguồn lực và mọi điều kiện cho phát triển giáo dục là sách lược lâu
dài của nhiều giải quyết. Mặc dù bản chất của giáo dục ở các nước có khác
nhau nhưng đều cho thấy xã hội hoá sự nghiệp giáo dục là cách làm phổ biến,
kể cả những nước có nền cơng nghiệp hiện đại - kinh tế phát triển cao.
Qua các tài liệu nghiên cứu cho thấy xã hội hố sự nghiệp giáo dục
khơng phải là vấn đề hồn tồn mới, nó có nguồn gốc lâu đời là bước phát
triển của một chủ trương phát triển giáo dục được thực hiện từ nhiều năm qua.
Trải qua nhiều thời kỳ đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt

8


Nam. Với tư tưởng “Lấy dân làm gốc”, “Sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp
của quần chúng” đã được Đảng ta vận dụng sáng tạo và thực hiện các quan
điểm “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng” là sức mạnh tiềm tàng cho sự

chính sách xã hội. Từ Nghị quyết TW 4 khoá IX Đảng ta khẳng định: “Đẩy
mạnh xã hội hoá sự nghiệp giáo dục, xây dựng xã hội học tập, coi giáo dục là
sự nghiệp của toàn dân là một giải pháp quan trọng để tiếp tục phát triển
giáo dục” [20, tr.89].
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (4 - 2006) đã chỉ rõ:
“Thựchiện xã hội hoá sự nghiệp giáo dục. Huy động nguồn lực vật chất và trí
tuệ của xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục. Phối hợp chặt chẽ giữa
ngành giáo dục với các ban, ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội nghề nghiệp... để mở mang giáo dục, tạo điều kiện học tập cho mọi thành viên
trong xã hội” [21, tr 97].
Chủ trương xã hội hoá sự nghiệp giáo dục của Đảng được thể chế
hoá vào Hiến pháp 1992, tại điều 35: “...Phát triển các hình thức trường
quốc lập, dân lập các hình thức giáo dục khác [56, tr.89] Điều 12 của
Luật Giáo dục 2005 khẳng định “Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục để thực
hiện đa dạng hố các loại hình trường và các hình thức giáo dục; khuyến
khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển
sự nghiệp giáo dục” [57,tr.35].
Ngày 18/4/2005 Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP về
đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, văn hoá, y tế, thể dục thể thao.
Tiếp đó, ngày 24/6/2005 Bộ GD & ĐT đã ban hành Quyết định số
20/2005/QĐ-BGD và ĐT phê duyệt đề án “Quy hoạch phát triển xã hội hoá
sự nghiệp giáo dục giai đoạn 2005 - 2010”.
Chương 2, hệ thống giáo dục quốc dân Điều 21, 22 Luật giáo dục năm
2005 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi rõ “Giáo dục
Mầm non thực hiện việc ni dưỡng; chăm sóc, giáo dục trẻ từ 3 tháng tuổi
đến 6 tuổi”. Hội nghị của Thủ tướng Chính phủ (25/6/2002) bàn về phát triển
giáo dục Mầm non theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII và

10




loài người. GD là sản phẩm của xã hội, đồng thời là một trong những nhân tố
đánh dấu nấc thang trình độ văn minh của các thời đại trong lịch sử.
Trong sách “ Giáo dục học” của A.Ilinna, nhà giáo dục học Xô viết cho
rằng: “ …giáo dục là một quá trình truyền thụ kinh nghiệm lịch sử xã hội –
cho các thế hệ mới, nhằm chuẩn bị cho họ bước vào cuộc sống xã hội và bước
vào lao động sản xuất” [40, tr.6].
Giáo dục được hiểu là hoạt động có tổ chức, có mục đích, có kế
hoạch, có hệ thống của GD, nhằm tạo ra sức mạnh có tính chất đa dạng về
thể chất, tinh thần của con người, đáp ứng được nhu cầu phát triển KT-XH.
Giáo dục còn là quá trình hình thành cho con người tri thức khoa học về thế
giới khách quan, về lý tưởng, đạo đức, thái độ thẩm mỹ. Trên cơ sở đó hình
thành nhân sinh quan, phát triển đạo đức, trí, thể, mỹ của từng con người cụ
thể. Bên cạnh đó, GD có sứ mệnh cao cả rèn luyện nhân cách cho từng cá
nhân ở từng đối tượng cụ thể, làm cho mỗi con người trở thành những chủ
thể của bản thân. Như vậy, theo nghĩa chung nhất: “ Giáo dục là quá trình
truyền đạt và lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và những kinh nghiệm
nhằm chuẩn bị cho con người bước vào cuộc sống lao động và sinh hoạt xã
hội; là một nhu cầu tất yếu của xã hội loài người, đảm bảo cho sự tồn tại
của con người và xã hội” [35, tr.7].
Trong thời đại ngày nay, các Quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam
ghi nhận và thừa nhận vị trí và vai trị to lớn của GD đối với sự phát triển của
xã hội loài người, đối với việc hình thành và phát triển nhân cách và phẩm giá
của con người. Đảng ta, với quan điểm đổi mới từ Đại hội lần thứ VI đến Đại
hội lần thứ X luôn khẳng định: “Giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là động lực
của sự phát triển kinh tế xã hội; Giáo dục là Quốc sách hàng đầu; đầu tư cho
GD là đầu tư cho phát triển bền vững”. Do đó, quản lý GD đã trở thành
chương trình nghị sự, trở thành mối quan tâm thường xuyên của Đảng, Nhà
nước ta.


13


Do vậy, các nhà quản lý GD phải có chủ trương hết sức đúng đắn và
thực thi có hiệu quả cơ chế quản lý mới đối với sự nghiệp GD&ĐT, một khi
đã xác định, coi GD là “Quốc sách hàng đầu”, “đầu tư cho GD là đầu tư cho
sự phát triển bền vững”. Trong chiến lược phát triển KT-XH của Đảng và
Nhà nước thì cái được và cái chưa được, thành tựu và những hiện tượng tiêu
cực trong GD&ĐT của nước ta hiện nay, phải phụ thuộc và hiện thực cơ chế
quản lý GD, của hệ thống chính quyền Nhà nước, từ Trung ương đến các cơ
sở và năng lực của đội ngũ CBQL giáo dục ở các cấp học, các ngành học.
Để nâng cao chất lượng, năng lực của đội ngũ CBQL giáo dục, Đảng
và Nhà nước ta hết sức quan tâm đến việc xây dựng cơ sở vật chất, phát triển
các cơ sở trường học để đào tạo, bồi dưỡng các CBQL giáo dục các cấp, các
ngành học. Hiện nay chúng ta đã có Học viện Quản lý giáo dục và trường
Quản lý GD&ĐT II trực thuộc Bộ GD&ĐT. Các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương đều có các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng CBQL giáo dục của Hà Nội,
Thành phố Hồ Chí Minh, Phú Thọ, Thái Bình. Chương trình đào tạo - bồi
dưỡng được cụ thể hoá, hiện đại hoá đối với từng đối tượng CBQL ở các
trường: Mầm non, Tiểu học, THCS, THPT, dân tộc nội trú, TCCN, Trung tâm
GDTX, trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp, ĐH và CĐ, thanh tra
viên giáo dục Tiểu học và THCS, nữ cán bộ QLGD…
Thực hiện công cuộc đổi mới, sự nghiệp GD&ĐT nước ta đạt được
những thành tựu đáng kể trên tất cả các lĩnh vực như: thực hiện phân cấp
QLGD; Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục; Đa dạng hố
các hình thức GD-ĐT; Nâng cao chất lượng và hiệu quả GD; đầu tư xây dựng
cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học, thực hiện chương trình kiên
cố hố trường học, lớp học; Thực hiện một loạt các chính sách khuyến khích
người học và người dạy; Thiết lập các mối quan hệ Quốc tế trên nhiều mặt,
trên lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực cũng như các trang thiết bị dạy và học

hội hoá sự nghiệp giáo dục. Để đẩy mạnh hơn nữa q trình xã hội hố, ngày
19/8/1999, Chính phủ lại ban hành Nghị định số 73/1999/NĐ-CP về “ chính
sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y

15


tế, văn hóa, thể thao”. Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ IX của Đảng cộng
sản Việt Nam đã chỉ rõ: Giáo dục và Đào tạo phải thực hiện “Chuẩn hoá,
hiện đại hoá, xã hội hoá”.
Cũng trong thời kỳ đổi mới này, nhiều nhà khoa học, nhà quản lý GD
đã bàn luận nhiều về XHH giáo dục. Tác giả Phạm Minh Hạc một lần nữa
khẳng định “ Sự nghiệp giáo dục không phải chỉ là của Nhà nước, mà là của
toàn xã hội: Mọi người cùng làm giáo dục, Nhà nước và xã hội, Trung ương
và địa phương cùng làm giáo dục, tạo nên một cao trào học tập trong tồn
dân”[19.tr.330].
Bộ GD&ĐT cũng đã có “đề án xã hội hoá Giáo dục và Đào tạo”, đánh
giá thực trạng và đưa ra những giải pháp XHH giáo dục ở tầm vĩ mô, nhằm
tạo ra những chuyển biến cơ bản trong GD&ĐT, chuẩn bị tốt nguồn nhân lực
cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước trong 20 năm đầu thế kỷ XXI.
Giáo dục được coi là một lĩnh vực đặc thù của đời sống XH, nó vừa
nằm trong lĩnh vực thuộc hình thái ý thức XH, kiến trúc thượng tầng vừa
nằm trong các quan hệ XH, quan hệ sản xuất thuộc hạ tầng cơ sở. Giáo dục
có vai trị hết sức to lớn trong việc tái sản xuất sức lao động XH; Khơi dậy,
thức tỉnh và phát huy tiềm năng sáng tạo của mỗi con người, tạo ra môi
trường cho sự phát triển KT-XH. Cịn xã hội hố giáo dục ở mức độ nào,
diễn ra theo những định hướng ra sao… điều đó phụ thuộc vào kết cấu quan
hệ XH, phụ thuộc vào yêu cầu và nhu cầu phát triển KT-XH của các thể chế
chính trị của từng Quốc gia.
Xã hội hố sự nghiệp giáo dục là quá trình hướng mọi hoạt động của

Bộ GD&ĐT cũng như các Ban, Ngành có liên quan. Nhiều chuyên gia giáo
dục có tâm huyết đã có những bài viết, những cơng trình nghiên cứu xung
quanh vấn đề XHH sự nghiệp GD; Viện sĩ, Giáo sư Phạm Minh Hạc trong
cuốn “giáo dục Việt Nam ngưỡng cửa thế kỷ XXI” đã khẳng định “Sự nghiệp
giáo dục không chỉ của Nhà nước mà là của toàn xã hội, mọi người cùng làm
giáo dục, Nhà nước và xã hội, Trung ương và địa phương cùng làm giáo
dục”[27, tr.331].

17


Như vậy XHH sự nghiệp giáo dục là một tư tưởng chiến lược của Đảng
và Nhà nước, bản thân tư tưởng đó qua mỗi giai đoạn được phát triển, mở
rộng và phong phú cả về hình thức và nội dung. XHH sự nghiệp giáo dục là
một nhân tố mới đã và đang phát huy sức mạnh đối với sự nghiệp phát triển
giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho sự nghiệp CNH, HĐH đất
nước. Những kinh nghiệm được rút ra từ thực tiễn thực hiện XHH sự nghiệp
GD, trên cơ sở đó nâng cao sự đổi mới tư duy giáo dục, giải đáp kịp thời
những vấn đề đặt ra của sự nghiệp phát triển GD&ĐT.
1.2.4. Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục Mầm non
Xã hội hoá GDMN là quá trình huy động lực lượng xã hội cùng làm
giáo dục Mầm non dưới sự quản lý thống nhất của Nhà nước. Bản chất của
XHHSNGDMN là động viên, lôi cuốn mọi LLXH phát triển GDMN để thực
hiện GD cho trẻ em trong độ tuổi. Huy động các tổ chức chính trị - XH, các
đồn thể quần chúng, các xí nghiệp, đơn vị sản xuất kinh doanh… cùng tham
gia SNGDMN dưới sự quản lý thống nhất của Nhà nước.
1.2.4.1. Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục Mầm non ở nước ngoài:
Nhiều nước trên Thế giới đã coi phát triển giáo dục là Quốc sách hàng
đầu và đã đầu tư rất lớn cho giáo dục. Tìm hiểu cách làm giáo dục ở nhiều
nước cho thấy XHH sự nghiệp giáo dục là cách làm giáo dục phổ biến ở các

nhận trách nhiệm về chăm sóc sức khoẻ, vệ sinh ở các nhà trẻ, cịn vấn đề
giáo dục, đào tạo cơ ni dạy trẻ, quản lý nhà trẻ thì được gắn với GDMN.
Nguồn kinh phí cho các nhà trẻ, trường mẫu giáo là do Nhà nước, các tập thể
doanh nghiệp và cha mẹ. Nhà trẻ nhận trẻ dưới 3 tuổi, mẫu giáo nhận trẻ 3
đến 6 tuổi do Vụ GD địa phương quản lý. Chính sách nhận trẻ linh hoạt gắn
với các loại hình mẫu giáo để đáp ứng điều kiện kinh tế xã hội và đời sống
của người lao động. Trẻ em có thể học 3 năm, 2 năm hoặc 1 năm, học bán trú,
nội trú, có mẫu giáo nửa ngày hoặc chương trình linh hoạt theo vụ mùa ở
nơng thơn.
Điểm qua chính sách và hoạt động GDMN ở các nước trên đã cho thấy
vai trò, khả năng về nội dung hoạt động mà XH, cộng đồng có thể tham gia

19


làm tốt cho GDMN. Từ đó, có thể thấy rõ XHH sự nghiệp GDMN là xu thế
chung của các nước có nền GD tiên tiến trên thế giới và trong khu vực với
cùng một phương thức huy động cộng đồng tham gia làm GDMN. Nó được
biểu hiện qua một số điểm chính là quy mơ GDMN được mở rộng, đa dạng
hố nhiều loại hình. Tuy nhiên, tính chất mức độ và mục đích của mỗi bên
giáo dục ở mỗi nước khác nhau, nhưng những nét sinh động của quá trình
XHH sự nghiệp GDMN ở các nước tiên tiến trên Thế giới và khu vực có thể
cho ta những kinh nghiệm quý.
1.2.4.2. Xã hội hoá giáo dục Mầm non ở Việt Nam
Trước năm 1945, dưới thời Pháp thuộc ở Việt Nam khơng có nền GD
trước tuổi đi học. Trong cả nước chỉ có vài trạm y tế bần ni trẻ mồ cơi. Sau
cách mạng Tháng 8, cùng với việc hình thành chế độ mới, lần đầu tiên ở Việt
Nam có bậc giáo dục trước tuổi đi học chính thức ra đời.
Từ chỗ hầu như chưa có gì, trải qua những năm tháng khó khăn, gian
khổ của hai cuộc kháng chiến, vượt qua thời kỳ chao đảo trong sự chuyển đổi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status