MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1 Về lý luận:
Hiện nay hoạt động học tập của học sinh, sinh viên các trường đại học,
cao đẳng và dạy nghề là một vấn đề đang được ngành giáo dục đại học, cao
đẳng và dạy nghề quan tâm, vì các em là nguồn nhân lực quan trọng để phát
triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Trong cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ CNH, HĐH của Đảng
ta,con người được coi vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh
tế –xã hội. Để có được thế hệ con người Việt nam mới đáp ứng những yêu
cầu của sự nghiệp đổi mới trong bối cảnh toàn cầu hóa chúng ta cần có một
chiến lược giáo dục vừa tiên tiến vừa kế thừa.
Chất lượng giáo dục và đào tạo vừa phụ thuộc vào hoạt động dạy của
thày nhưng cũng vừa phụ thuộc vào hoạt động học của trò, trong đó hoạt
động học của trò đóng vai trò rất quan trọng, vì chỉ khi các em tích cực chủ
động tiến hành các hoạt đông nhận thức dưới sự tổ chức, điều khiển của
thày thì hoạt động dạy học mới hoàn thành mục đích của mình.
Điều 5 Luật giáo dục 2005 quy định: phương pháp giáo dục phải phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy, sáng tạo của người học, bồi
dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học
tập và ý chí vươn lên.
Như vậy có thể nói rằng trong hoạt động học tập của học sinh, sinh viên
thì khâu tự học là một vấn đề cốt lõi trong quá trình giảng dạy, giáo dục ở
nhà trường, đại học, cao đẳng và dạy nghề . Vì thế tập thể sư phạm nhà
trường cần phải chó ý đặc biệt tới việc tự học của học sinh, sinh viên.
Chóng ta đang bắt tay vào xây dựng một xã hội học tập; trong đó, mỗi
người chúng ta cần phải học tập và học tập suốt đời. Vì vậy, các em học sinh
sinh viên càng cần phải biết tự học, để có thể tiếp thu ngày càng sâu những
1
kiến thức học trong nhà trường và cả sau này khi ra trường các em còn phải
thường xuyên tự học.
Để nhà trường không ngừng phát triển và phấn đấu trở thành trường đại học
trong tương lai thì công tác quản lý hoạt động học tập của học sinh,sinh viên
cần phải được đổi mới triệt để nhằm tạo cho học sinh sinh viên năng lực tự
học tự nghiên cứu. Đó là những đòi hỏi bức bách từ thực tế của nhà trường
nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục, đào tạo hiện nay và trong tương lai.
Vì những lẽ trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Những biện pháp quản lý
hoạt động học tập của học sinh, sinh viên trường Cao đẳng Điện tử Điện
lạnh Hà Nội trong bối cảnh phát triển hiện nay”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng, đề xuất các biện pháp quản lý
nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động học của học sinh sinh viên
trường Cao đẳng Điện tử Điện lạnh Hà nội.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình quản lý hoạt động học của học sinh, sinh viên Trường Cao
đẳng Điện tử Điện lạnh Hà nội.
3.2. Đối tượng nghiên cứu.
Những biện pháp quản lý hoạt động học tập của học sinh, sinh viên trường
Cao đẳng Điện tử Điện lạnh Hà nội.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .
4.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận có liên quan đến hoạt động học tập của học
sinh, sinh viên trường Cao đẳng Điện tử Điện lạnh Hà nội.
4.2. Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý việc học tập của học sinh, sinh
viên trường Cao đẳng Điện tử Điện lạnh Hà nội.
3
4.3. Đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động học tập của học sinh, sinh
viên trường Cao đẳng Điện tử Điện lạnh Hà nội.
5. Giả thuyết khoa học
Hoạt động học tập của học sinh, sinh viên là một mặt của quá trình dạy -
học trong nhà trường, song trên thực tế, nhiều học sinh, sinh viên còn thụ
Các nghiên cứu điều tra thăm dò ý kiến giáo viên, cán bộ công nhân
viên được thực hiện trong toàn trường Cao đẳng Điện tử Điện lạnh Hà nội
nhưng điều tra về hoạt động học tập thì chỉ được thực hiện ở học sinh sinh
viên các khóa từ năm học 2007 - 2008, 2008 - 2009 của khoa Nhiệt Lạnh, ở
những địa bàn nhất định (lớp học, phòng thí nghiệm, xưởng thực tập), tùy theo
nội dung giảng dạy (dạy lý thuyết, hướng dẫn thực hành, thực tập tay nghề).
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động học tập của học
sinh, sinh viên trường Cao dẳng
Chương 2: Thực trạng các biện pháp quản lý hoạt động học tập
của học sinh, sinh viên trường Cao đẳng Điện tử Điện lạnh Hà nội.
Chương 3: Những biện pháp quản lý hoạt động học tập của học
sinh, sinh viên trường Cao đẳng Điện tử Điện lạnh Hà nội.
Kết luận và kiến nghị.
5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
CỦA HỌC SINH, SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu.
1.1.1. Trong nước.
Ngay sau khi cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ
Chí Minh - vị lãnh tụ thiên tài và kính yêu của dân tộc Việt Nam đã rất quan
tâm đến việc học tập, rèn luyện và tự học. Bác đã động viên toàn dân: “Phải
tự nguyện, tự giác xem công việc học tập là nhiệm vụ của người cách mạng,
phải cố gắng hoàn thành cho được do đó mà tích cực, tự động hoàn thành kế
hoạch học tập”. [39] Người còn chỉ rõ: “Về việc học phải lấy tự học làm
cốt”.[40]
Như vậy vấn đề học tập của học sinh đã được Bác Hồ quan tâm rất
nghiên cứu của mình cho rằng,hoạt động học tập của học sinh học nghề luôn
luôn gắn kết với quá trình sản xuất kinh doanh, hoạt động này có tính chất
học tập – sản xuất.
Để hoạt động học tập – sản xuất đạt hiệu quả cao cần phải áp dụng
phương pháp dạy học mới – dạy học nêu vấn đề vì qua thực nghiệm tác giả
nhận thấy phương pháp học tập truyền thống tạo ra lớp học sinh thực hiện
máy móc các động tác sản xuất nên năng xuất lao động thấp, còn dạy học
nêu vấn đề sẽ tạo ra thế hệ học sinh có tư duy kỹ thuật sáng tạo, năng lực tự
giải quyết tốt các tình huống khó khăn trong sản xuất, vì thế năng xuất lao
động cao [1],[2].
Còng trong lĩnh vực dạy nghề, nếu Nguyễn Viết Sự xây dựng các
tình huống có vấn đề cho môn hóa kỹ thuật thì Nguyễn Lộc xây dựng các bài
toán nêu vấn đề và các bài giảng nêu vấn đề cho môn cơ kỹ thuật, còn tình
7
huống có vấn đề trong môn điện kỹ thuật, rađiô kỹ thuật do Đặng Danh Ánh
đảm nhận. Công trình nghiên cứu của Nguyễn Cảnh Hồ lại bàn về công tác
quản lý trường nghề – một vấn đề rộng hơn nhiều so với hoạt động học tập
của học sinh [26].
Tóm lại có nhiều yếu tố nâng cao hoạt động học tập của học sinh, sinh
viên, nhưng việc đổi mới cách dạy và cách học có vai trò rất quan trọng.
Từ nhiều góc độ, các tác giả đã đi sâu nghiên cứu và phân tích hoạt
động học tập để từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của
hoạt động học tập.
Như vậy vấn đề học tập trong quá trình dạy học đã được nhiều tác giả
quan tâm nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau, các tác giả đã chỉ ra vai
trò, tầm quan trọng của hoạt động học tập, các kỹ năng tự học và một số biện
pháp tổ chức hoạt động học tập cho học sinh. Tuy nhiên về vấn đề học tập
của các trường cao đẳng, đại học và dạy nghề Ýt được các tác giả quan tâm.
Do vậy, việc đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận về học tập, biện pháp quản lý
hoạt động học tập của học sinh, sinh viên là rất thiết thực. Đặc biệt trường
tìm tòi, tù suy nghĩ là con đường quan trọng để chiếm lĩnh tri thức. [19]
Trong những năm gần đây, các nước phương Tây nổi lên cuộc cách
mạng tìm phương pháp giáo dục mới trên cơ sở tiếp cận “lấy người học làm
trung tâm” để làm sao phát huy hết năng lực nội sinh của người học. Đại
diện cho tư tưởng này là J.Deway, ông cho rằng: “học sinh là mặt trời, xung
quanh nã quy tụ mọi phương tiện giáo dục”[36]
1.2 Một sè khái niệm cơ bản
1.2.1. Quản lý và chức năng quản lý.
1.2.1.1. Quản lý.
9
Khoa học quản lý đã có một quá trình ra đời và phát triển, đến nay
khoa học quản lý đã trở thành một ngành khoa học độc lập, có vai trò tác
dụng to lớn đối với sự phát triển của xã hội loài người.
Thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến nhưng chưa có một định nghĩa thống
nhất. Nó được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau trên cơ sở những cách
tiếp cận khác nhau.
- Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “ Quản lý là tác động có mục
đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói
chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến”.[43,24]
- Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “ Quản lý là sự tác động liên tục
có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức
quản lý) lên khách thể (đối tượng) quản lý về các mặt chính trị, văn hoá, xã
hội, kinh tế…vv bằng một hệ thống các luật lệ, chính sách, các nguyên tắc,
các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện
cho sự phát triển của đối tượng”.[18,7]
- Các tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Hoạt
động quản lý là hoạt động có định hướng có chủ đích của chủ thể quản lý
(người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức
nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [12,1].
- Theo Harold Koontz: “ Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm
Đối
tượng
quản lý
Khách
thể quản
lý
Mục tiêu quản
lý
Phương
pháp QL
Phương
pháp QL
Từ nhòng khái niệm quản lý nêu trên chúng ta có thể hiểu: Quản lý là
quá trình tác động có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản lý tới khách
thể quản lý nhằm đưa tổ chức vận hành và đạt mục tiêu đề ra.
1.2.1.2. Các chức năng quản lý
Chức năng quản lý là một thể thống nhất những hoạt động tất yếu của
chủ thể quản lý nảy sinh từ sự phân công, chuyên môn hoá của hoạt động
quản lý. Nó tập hợp các nhiệm vụ mà chủ thể quản lý phải thực hiện để đạt
được mục tiêu quản lý đề ra.
Có nhiều cách phân chia chức năng quản lý, song về cơ bản đều thống
nhất có bốn chức năng: Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
* Chức năng lập kế hoạch
Lập kế hoạch là chức năng đầu tiên và cơ bản nhất giúp cho nhà quản
lý tiếp cận mục tiêu một cách hợp lý và khoa học. Trên cơ sở phân tích trạng
thái xuất phát, căn cứ vào những tiềm năng đã có, những khả năng sẽ có
trong tương lai mà xác định rõ hệ thống các mục tiêu, nội dung hoạt động,
các biện pháp cần thiết để chỉ rõ trạng thái mong muốn của tổ chức. Lập kế
hoạch bao gồm ba nội dung chủ yếu sau:
- Dự đoán, dự báo nhu cầu phát triển.
2 yếu tố quan trọng: Thông tin và quyết định trong đó thông tin có vai trò là
huyết mạch của hoạt động quản lý. Chức năng kiểm tra đánh giá là giai đoạn
cuối cùng của hoạt động quản lý đồng thời là tiền đề của một quá trình quản
lý tiếp theo. Chu trình quản lý được thể hiện ở sơ đồ dưới đây:
Lập kế hoạch
Kiểm tra Thông tin Tổ chức
13
Chỉ đạo
1.2.2. Quản lý nhà trường
Trường học là tổ chức giáo dục cơ sở mang tính nhà nước - xã hội,
trực tiếp làm công tác đào tạo thực hiện việc giáo dục cho thế hệ đang lớn
lên. Nó có vai trò quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với việc thực hiện
mục đích, mục tiêu giáo dục thế hệ trẻ.
Nhà trường là tế bào chủ chốt của bất cứ hệ thống quản lý giáo dục
nào từ trung ương đến địa phương.Vì vậy, nhà trường (nói chung) là khách
thể cơ bản của tất cả các cấp quản lý. Bởi lẽ, quản lý trong hệ thống giáo dục
ở tất cả các cấp đều nhằm tạo điều kiện thuận lợi tối đa, để đạt mục đích,
mục tiêu, chất lượng, hiệu quả của nhà trường.
Quản lý nhà trường được hiểu theo hai mặt:
- Thứ nhất là, hoạt động quản lý của những chủ thể quản lý cấp trên
và bên ngoài nhà trường đối với nhà trường nhằm hướng dẫn và tạo điều
kiện cho mọi hoạt động giảng dạy, học tập, giáo dục của nhà trường. Bao
gồm các chỉ dẫn, quyết định của các thực thể bên ngoài nhà trường nhằm
định hướng sự phát triển của nhà trường, hỗ trợ và tạo điều kiện cho việc
thực hiện phương hướng phát triển đó.
- Thứ hai là, hoạt động quản lý của chủ thể quản lý ở ngay trong nhà
kết quả cho người học.
Học tập là một quá trình hướng đích, có giá trị. Giá trị của học tập là
làm cho kinh nghiệm của bản thân người học thay đổi một cách bền vững,
nhờ đó mà có được những thay đổi trong nhận thức về hiện thực, có được
những thay đổi trong phương thức hành vi và định hình những thái độ xác
định trong quan hệ với thế giới xung quanh. Những thay đổi này giúp người
15
học phát triển bản chất người vốn có của mình để thích ứng và hội nhập với
cộng đồng, với dân tộc, với nhân loại. Trong và bằng quá trình đó, người học
tự khẳng định chính mình.
Như vậy, mục đích học tập của nhân loại, của dân tộc, của cộng đồng
và của mỗi cá nhân là để biết, để làm, để chung sống và để tự khẳng định.
Hoạt động học tập có nhiều hình thức và hình thức chính thống là học
tập theo phương thức nhà trường dưới sự chỉ đạo của giáo viên. Dù dưới
hình thức nào người học cũng luôn là chủ thể của hoạt động học tập.
Người học là chủ thể của hoạt động học tập, là chủ thể có ý thức chủ
động, tích cực sáng tạo trong nhận thức và rèn luyện nhân cách. Người học
cũng là đối tượng giảng dạy và giáo dục của thầy giáo. Người học quyết định
chất lượng học tập của mình.
Khẳng định vai trò tích cực chủ động của người học không có nghĩa là
bỏ qua vai trò hết sức quan trọng của người dạy và các lực lượng giáo dục
khác trong đó phải đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của người thầy thể hiện ở
chức năng định hướng, diều khiển, điều chỉnh người học trong quá trình tiếp
thu tri thức.
Quá trình học tập của người học có thể diễn ra dưới sự tác động trực
tiếp của người giáo viên như diễn ra trong tiết học, giờ hướng dẫn thực hành,
hoặc dưới sự tác động gián tiếp của giáo viên như việc tự học ở nhà của học
sinh, sinh viên. Khi có sự chỉ đạo của giáo viên hoạt động tự giác, tích cực,
chủ động nhận thức học tập của học sinh, sinh viên thể hiện ở các mặt:
- Tiếp nhận những nhiệm vụ, kế hoạch học tập do giáo viên đề ra;
hiện tích cực và tiêu cực trong nhận thức của học sinh, sinh viên về tầm quan
trọng của việc học tập, về thái độ, động cơ, ý thức học tập… của học sinh,
sinh viên nói chung và của từng học sinh, sinh viên nói riêng để có biện pháp
thúc đẩy, khuyến khích học sinh, sinh viên phát huy các yếu tố tích cực, hạn
chế các yếu tố tiêu cực phấn đấu vươn lên đạt kết quả học tập và rèn luyện
ngày càng cao.
Mặc dù cùng được tuyển chọn vào học ở trường theo một tiêu chuẩn
chung, nhưng các học sinh, sinh viên cùng lớp, cùng khoá cũng có những
khác biệt về khía cạnh này hay khía cạnh khác trong nhân cách. Những khác
biệt đó làm cho quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập, rèn luyện cũng
như kết quả học tập, rèn luyện đạt được của các học sinh, sinh viên khác
nhau. Bên cạnh đó chính bản thân học sinh, sinh viên có những biến đổi do
tác động của giáo dục - đào tạo, môi trường học tập, xã hội làm cho sự cải
18
biến nhân cách của họ trở lên đa dạng, phức tạp. Do đó, quản lý hoạt động
học tập của học sinh, sinh viên là nhằm:
- Theo dõi, tìm hiểu để nắm được được những biểu hiện tích cực và
tiêu cực trong việc thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện cũng như những
biến đổi nhân cách của học sinh, sinh viên nói chung và của từng học sinh,
sinh viên nói riêng.
- Theo dõi, thóc đẩy, khuyến khích học sinh, sinh viên phát huy các
yếu tố tích cực, khắc phục các yếu tố tiêu cực, phấn đấu vươn lên đạt kết quả
học tập, rèn luyện ngày càng cao.
1.3. Quản lý hoạt động học tập của học sinh, sinh viên trường cao đẳng
kỹ thuật.
1.3.1. Mục tiêu, nội dung, phương pháp và thời gian đào tạo của trường
cao đẳng kỹ thuật theo luật giáo dục 2005.
1.3.1.1. Mục tiêu đào tạo.
- Mục tiêu đào tạo là những yêu cầu về cải biến nhân cách của học
sinh sinh viên mà quá trình đào tạo phải đạt được. Mục tiêu đào tạo chính là
1.3.1.2. Nội dung đào tạo.
Nội dung đào tạo là nội dung của sự chuyển biến nhân cách trên các
mặt chính trị - đạo đức, văn hóa - kỹ thuật nghề nghiệp và sức khỏe, là nội
dung của sự chuyển biến về phẩm chất và năng lực nhằm thực hiện các yêu
cầu của mục tiêu đào tạo [26]. Do đó việc xác định nội dung đào tạo một
mặt phải tuân theo các nguyên tắc sư phạm mặt khác phải luôn bám sát các
yêu cầu của mục tiêu đào tạo.Tuy vậy mục tiêu đào tạo không quy định một
cách đơn trị hệ thống các nội dung đào tạo, có nghĩa là có thể có nhiều hệ
thống nội dung đào tạo khác nhau, nhằm thực hiện cùng một mục tiêu đào
tạo, trong đó mỗi hệ thống có những ưu và nhược điểm nhất định. Cần lựa
20
chọn được những hệ thống nội dung nào có nhiều ưu điểm hơn, tức là hệ
thống nội dung tối ưu.
Trong thực tế hệ thống các nội dung đào tạo được thể hiện trong các
chương trình môn học, ngành học do các cơ quan quản lý đào tạo xây dựng
và giao cho các trường thực hiện.[26]
1.3.1.3. Phương pháp đào tạo của trường cao đẳng kỹ thuật.
Phương pháp đào tạo là cách thức mà các trường cao đẳng kỹ thuật và
các giáo viên tác động lên nhân cách của học sinh, sinh viên để làm chuyển
biến theo những nội dung và mục đích nhất định, nhằm thực hiện được các
yêu cầu của mục tiêu đào tạo với chất lượng cao.
Phương pháp đào tạo trong các trường cao đẳng kỹ thuật bao gồm cá
phương pháp giảng dạy, các môn học lý thuyết, phương pháp hướng dẫn học
sinh rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp và phương pháp giáo dục học sinh, sinh
viên về phẩm chất đạo đức.Khi nói về hoạt động của giáo viên để thực hiện
từng loại nội dung đào tạo (lý thuyết, thực hành) người ta không dùng thuật
ngữ phương pháp đào tạo mà nói là phương pháp giảng dạy, hướng dẫn, giáo
dục Khi nói đến những phương pháp chung để tác động lên nhân cách hay
một bộ phận lớn của nhân cách thì người ta thường nói đến phương pháp đào
tạo. Chẳng hạn kết hợp thực tập với sản xuất ra của cải vật chất là phương
thuật [26]
1.3.2.2. Nội dung đào tạo trong các trường cao đẳng kỹ thuật phải toàn diện
và đầy đủ.
Yêu cầu này đặt ra cho các trường cao đẳng kỹ thuật nhiệm vụ phải tổ
chức một cách khoa học quá trình giảng dạy - giáo dục đầy đủ các mặt: chính
trị và đạo đức, văn hóa và kỹ thuật, rèn luyện tay nghề, bồi dưỡng sức
khỏe.Trong đó việc rèn luyện tay nghề là yêu cầu chính.Để tổ chức rèn luyện
22
tay nghề cho học sinh, sinh viên nhà trường phải có cơ sở thực hành cần thiết
như (trạm, xưởng thực tập, phòng thí nghiệm, phòng thực hành nghiệp vụ )
phải có tổ chức và phương pháp giảng dạy phù hợp với từng ngành nghề.Về
giảng dạy lý thuyết nhà trường cần coi trọng vì nó tạo cơ sở cho việc đào tạo
thực hành, đồng thời góp phần tạo ra năng lực sáng tạo ở học sinh, sinh viên.
[26]
1.1.2.3. Hoạt động đào tạo trong các trường cao đẳng kỹ thuật phải quán
triệt đầy đủ nguyên lý giáo dục của Đảng.
Đó là các nguyên lý kết hợp thực tập với sản xuất và thực tập sản xuất
trong các cơ sở sản xuất ở trong và ngoài trường.Hoạt động sản xuất ở trong
trường phải nhằm phục vô cho nhiệm vụ đào tạo là chính, nhưng không phải
vì thế mà có thể tiến hành một cách tùy tiện, trái lại phải tuân theo những
quy luật nhất định, quy luật của sản xuất, trong đó quy luật giáo dục giữ vai
trò chủ đạo.
1.3.3. Hoạt động học tập của học sinh, sinh viên trong trường cao đẳng kỹ
thuật.
Hoạt động học tập của học sinh, sinh viên trong trường CĐ có đầy đủ
những đặc điểm và bản chất của quá trình học tập nói chung là:
- Đối tượng của hoạt động học tập là những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
tương ứng. Người học phải chiếm lĩnh được hệ thống kiến thức trong chương
trình học tập để sử dụng chúng trong thực tiễn cuộc sống.
- Mục đích của hoạt động học tập hướng vào làm thay đổi chính chủ thể
tập. Động cơ học tập rất phong phú và đa dạng. Nó không thể được hình
thành bằng cách áp đặt mà được hình thành trong quá trình học tập và giải
quyết các nhiệm vụ học tập, đồng thời nó còn được hình thành trong quá
trình giáo dục, tổ chức, điều khiển hoạt động học tập của học sinh, sinh viên.
Nếu trong quá trình dạy học, thầy tổ chức cho học sinh, sinh viên tự phát
24
hiện ra những điều mới lạ, tự giải quyết những nhiệm vụ học tập tạo ra
những Ên tượng tốt đẹp đối với việc học thì dần dần làm nảy sinh nhu cầu
học tập ở các em. Khi học tập trở thành nhu cầu không thể thiếu được của
học sinh, sinh viên thì nó sẽ tạo nên sức mạnh tinh thần thúc đẩy học sinh,
sinh viên khắc phục khó khăn để giành lấy tri thức. Để hình thành động cơ
học tập cho học sinh, sinh viên trước hết cần khơi dậy mạnh mẽ ở các em
nhu cầu nhận thức. Cần phải làm cho học sinh, sinh viên hiểu rõ tại sao phải
học tập, học để làm gì. Chỉ khi nào học sinh, sinh viên thấy việc học sẽ mang
lại lợi Ých thiết thực cho bản thân thì mới có thể hy vọng sự tự giác, tích cực
học tập của các em và điều đó là yếu tố cơ bản góp phần nâng cao kết quả
học tập. Động cơ học tập gồm có động cơ bên trong và động cơ bên ngoài:
+ Động cơ bên trong là động cơ xuất phát từ chính việc học tập, từ nội
dung, phương pháp học, từ nhu cầu, hứng thú học tập. Động cơ bên trong
thống nhất với mục đích học tập. Vì vậy, động cơ bên trong sẽ giúp người
học vượt qua những trở ngại không những cố gắng để hoàn thành nhiệm vụ
học tập mà còn tạo ra mọi điều kiện để tự học, tự rèn nghề. Chính động cơ
bên trong sẽ giúp người học có niềm vui trong học tập, tạo cho họ có được
niềm tin vào chính khả năng vốn có của bản thân mình.
+ Động cơ bên ngoài là những yếu tố kích thích hoạt động vươn tới mục
đích. Chúng ta biết rằng, để có được sù say mê, ham hiểu biết thì ngoài nội
dung, phương pháp học cũng cần có những yếu tố kích thích từ bên ngoài.
Những nôi quy, quy chế học tập, những tiêu chuẩn xếp loại học sinh để được
khen thưởng, được học bổng khuyến khích học tập sẽ là những nhân tố kích
thích sự cố gắng, nỗ lực của người học.