Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 05 LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc HÀ NỘI - 2009 1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Trang
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
2
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
2
5. Giả thuyết khoa học
28
1.2.2. Quản lý hoạt động thực tập ở trường Trung cấp chuyên nghiệp
34
1.2.3. Quản lý hoạt động thực tập ở trường Trung cấp Y tế
36
1.2.4. Mối quan hệ giữa lý thuyết và thực hành trong đào tạo cán bộ y tế
39
1.3. Trƣờng Trung cấp Y tế trong hệ thống giáo dục quốc dân
41
1.3.1. Vị trí trường Trung cấp chuyên nghiệp trong hệ thống giáo dục quốc dân
41
1.3.2. Sứ mệnh, chức năng, nhiệm vụ của trường Trung cấp Y tế
43 2
1.3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động thực tập trường Trung cấp y tế
45
Tiểu kết chƣơng 1
48
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THỰC TẬP CỦA
HỌC SINH TRƢỜNG TRUNG CẤP Y TẾ NAM ĐỊNH
50
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế xã hội, mạng lƣới Y tế
của tỉnh Nam Định
50
2.1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và dân số
50
2.1.2. Kinh tế và văn hoá, xã hội
50
70
2.3.5. Đánh giá chất lượng hoạt động thực tập
72
2.3.6. Những mặt còn hạn chế
73
2.4. Thực trạng quản lý hoạt động thực tập của học sinh trƣờng Trung cấp Y
tế Nam Định
75
2.4.1. Về cơ cấu tổ chức quản lý hoạt động thực tập bệnh viện
75
2.4.2. Về xây dựng và công tác chỉ đạo thực hiện kế hoạch thực tập bệnh viện
83
2.4.3. Một số đánh giá về thực trạng công tác quản lý hoạt động thực tập bệnh viện
98
Tiểu kết chƣơng 2
104 3
Chƣơng 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THỰC TẬP CỦA HỌC
SINH TRƢỜNG TRUNG CẤP Y TẾ NAM ĐỊNH
106
3.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp
106
3.1.1. Bảo đảm tính khả thi
106
3.1.2. Bảo đảm tính phù hợp
106
3.1.3. Bảo đảm tính hệ thống
106
PHỤ LỤC
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trường Trung cấp y tế Nam Định được thành lập từ năm 2006 nhằm
cung cấp nhân lực cho ngành y tế nói chung và tỉnh Nam Định nói riêng. Đến
nay, trường đào tạo các khối chuyên ngành như: dược, điều dưỡng, y sỹ đa
khoa, y sỹ đông y, hộ sinh Với phương châm học đi đôi với hành, học sinh
vừa học lý thuyết trên lớp vừa học thực hành ở các cơ sở y tế. Trong đó, học
thực hành bao gồm học thực hành ở phòng thí nghiệm, thực hành giải phẫu,
thực hành điều dưỡng và quan trọng nhất là hoạt động thực tập tại các bệnh
viện. Với hoạt động thực tập tại bệnh viện học sinh có cơ hội cầm tay chỉ việc
các kỹ năng, thao tác, chăm sóc trực tiếp trên các bệnh nhân. Chính những
hoạt động này giúp học sinh nâng cao tay nghề về kỹ năng chuyên môn, kiến
thức y học. Sau khi ra trường học sinh đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ,
chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.
Bên cạnh đó, trên địa bàn Thành phố Nam Định chỉ có 5 bệnh viện
nhưng trong đó chỉ có 1 bệnh viện đa khoa tỉnh. Các bệnh viện này không chỉ
tiếp nhận học sinh thực tập của riêng trường Trung cấp y tế Nam Định mà còn
tiếp nhận học sinh của các Trường khác như: Đại học điều dưỡng, Đại học y
Thái Bình…Do đó, số lượng học sinh Trường Trung cấp y tế Nam Định phải
- Đề xuất các biện pháp quản lý các hoạt động thực tập của học sinh
trường Trung cấp Y tế Nam Định
5. Giả thuyết khoa học
Hiện nay công tác quản lý hoạt động thực tập của học sinh trường
Trung cấp Y tế Nam Định chưa toàn diện và đồng bộ; điều này ảnh hưởng tới 6
việc thực hiện các mục tiêu giáo dục - đào tạo của nhà trường. Nếu đề xuất và
áp dụng được những biện pháp quản lý phù hợp hơn sẽ góp phần nâng cao
hiệu quả hoạt động thực tập của học sinh, đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp
giáo dục - đào tạo ở trường Trung cấp Y tế Nam Định.
6. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động thực tập học sinh thuộc chuyên ngành Điều
dưỡng, y sỹ đa khoa của trường Trung cấp Y tế Nam Định.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận
+ Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát những lý luận
có liên quan đến nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài qua sách, báo và các tài liệu
có liên quan đặc biệt là tài liệu giảng dạy chuyên ngành Điều dưỡng.
+ Tham khảo Luật giáo dục, các Văn kiện, Nghị quyết của Đảng, các
quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế.
7.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp khảo sát, điều tra.
+ Phương pháp quan sát.
+ Phương pháp phỏng vấn giáo viên, cán bộ quản lý, học sinh.
+ Phương pháp chuyên gia. Trao đổi, phỏng vấn, trưng cầu ý kiến cán
bộ quản lý nhà trường, tổ trưởng chuyên môn, giáo viên, học sinh, chuyên gia
có nhiều kinh nghiệm trong quản lý giáo dục.
8. Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu
8
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm quản lý
Với cách nhìn nhận mới về quản lý hiện nay, quản lý là một nhân tố
quan trọng trong năm nhân tố phát triển kinh tế - xã hội hiện nay đó là: Vốn,
nguồn lực lao động, khoa học kỹ thuật, tài nguyên và quản lý. Trong đó quản
lý có vai trò mang tính chất quyết định thành công.
* Khái niệm quản lý
Từ khi xuất hiện xã hội loài người, con người đã biết quy tụ thành bầy,
thành nhóm để tồn tại và phát triển. Từ lao động đơn lẻ đến lao động phối hợp,
phức tạp, con người đã biết phân công, hợp tác với nhau trong cộng đồng nhằm
đạt được năng suất lao động cao hơn. Sự phân công, hợp tác đó đòi hỏi phải có
sự chỉ huy, phối hợp, điều hành … đó chính là chức năng quản lý.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về khoa học quản lý tuỳ theo các quan
điểm tiếp cận khác nhau.
- Thuật ngữ quản lý (từ Hán Việt) lột tả bản chất của hoạt động này
trong thực tiễn. Nó gồm hai mặt tích hợp vào nhau, quá trình “quản” gồm sự
coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định; quá trình “lý” gồm sửa sang sắp
xếp, đưa hệ vào thế “phát triển”.
Theo W.Taylor (1856 – 1915) thì “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng
chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và
rẻ nhất” 15, tr.1.
Theo Henry Fayon (1841 – 1925) thì “Quản lý là quá trình đạt đến mục
tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ
đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”. Ông còn khẳng định “Khi con người lao động hợp
Sơ đồ 1.1: Mô hình quản lý
Trong đó: Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức.
Khách thể (đối tượng) quản lý là những con người cụ thể và sự hình thành
tự nhiên các quan hệ giữa những con người, giữa các nhóm người khác nhau.
Công cụ
Chủ thể quản lý
Đối tượng quản lý
Phương pháp 10
Công cụ quản lý và phương tiện tác động của chủ thể quản lý tới khách
thể quản lý như: Mệnh lệnh, quyết định, chính sách, luật lệ ….
Phương pháp quản lý được xác định theo nhiều cách khác nhau. Nó có
thể là do nhà quản lý áp đặt hoặc do sự cam kết giữa chủ thể quản lý và khách
thể quản lý.
* Vai trò của quản lý:
Quản lý có vai trò tập hợp có tổ chức các hành vi của người cán bộ quản
lý. Vai trò này phân làm ba nhóm, bao gồm:
- Vai trò liên nhân cách: Gồm vai trò đại diện, vai trò thủ lĩnh, vai trò
liên hệ.
- Vai trò thông tin: Người cán bộ quản lý vừa là người giữ vai trò của
người hiệu thính viên, vừa là phát thanh viên, đồng thời là phát ngôn viên.
- Vai trò quyết định: Gồm vai trò người sáng nghiệp, vai trò người dàn
xếp, phân phối nguồn lực, vai trò thương thuyết
* Các chức năng cơ bản của quản lý
Nghiên cứu về bản chất của hoạt động quản lý người ta nhận thấy quản lý có
tính tất yếu khách quan đồng thời có tính tất yếu chủ quan vì được thực hiện
Kiểm tra,
đánh giá
Thông
tin Tổ chức
Sơ đồ 1.2: Quan hệ các chức năng quản lý
Chỉ đạo
12
Các chức năng chính của hoạt động quản lý luôn được thực hiện liên
tiếp, đan xen vào nhau, phối hợp và bổ sung cho nhau tạo thành chu trình quản
lý. Trong chu trình này, yếu tố thông tin luôn có mặt trong tất cả các giai đoạn,
nó vừa là điều kiện, vừa là phương tiện không thể thiếu được khi thực hiện
chức năng quản lý và ra quyết định quản lý.
* Nhiệm vụ của quản lý
Nhiệm vụ của quản lý bao gồm: Quản lý tổ chức, quản lý kỹ thuật, quản
lý kinh tế và quản lý xã hội, các yếu tố này liên hệ chặt chẽ với nhau trong một
Cùng với sự phát triển của khoa học quản lý, các hình thức tổ chức quản
lý cũng được nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Theo một số cách tiếp cận mới,
cơ cấu tổ chức quản lý được phân loại thành: Cơ cấu tổ chức trực tuyến, cơ
cấu chức năng, cơ cấu trực tuyến-chức năng (Cơ cấu liên hiệp).
- Cơ cấu tổ chức trực tuyến: Là cơ cấu đơn giản nhất và thường được áp
dụng ở nhiều hệ thống. Trong cơ cấu này mỗi bộ phận trung gian có một cấp
trên và một cấp dưới. Toàn bộ vấn đề được giải quyết bằng một kênh liên hệ
với nhau theo đường thẳng. Cấp lãnh đạo trực tiếp điều hành và chịu trách
nhiệm về sự tồn tại của hệ thống. Người thừa hành mệnh lệnh chỉ nhận mệnh
lệnh qua một cấp trên trực tiếp và chỉ thi hành mệnh lệnh của người đó mà
thôi. Thông qua những đặc điểm đó, cơ cấu trực tuyến tạo điều kiện thuận lợi
cho việc thực hiện chế độ một thủ trưởng, người quản lý phải chịu trách nhiệm
hoàn toàn về kết quả hoạt động của thành viên cấp dưới. Kiểu cơ cấu trực
tuyến có một số nhược điểm. Đó là đòi hỏi người lãnh đạo cần phải có kiến
thức toàn diện và tổng hợp nhưng hạn chế việc sử dụng các chuyên gia có
trình độ cao về từng mặt quản lý. Khi cần phối hợp, hợp tác công việc giữa hai
đơn vị hoặc cá nhân ngang quyền thuộc các tuyến khác nhau thì việc báo cáo,
thông tin phải đi đường vòng theo kênh liên hệ đã quy định.
- Cơ cấu chức năng: Là cơ cấu mà những nhiệm vụ quản lý được phân
chia cho các đơn vị riêng biệt theo các chức năng quản lý và hình thành nên
những người đứng đầu các phân hệ. Mỗi phân hệ được chuyên môn hoá chỉ 14
đảm nhận thực hiện một chức năng nhất định. Mối liên hệ giữa các nhân viên
trong hệ thống rất phức tạp. Những người thừa hành nhiệm vụ ở cấp dưới
nhận mệnh lệnh từ người quản lý cao nhất của hệ thống và từ những người
lãnh đạo các chức năng khác nhau. Điểm mạnh của cơ cấu này là thu hút được
các chuyên gia vào công tác lãnh đạo, giải quyết các vấn đề chuyên môn một
cách thành thạo hơn, đồng thời giảm bớt được gánh nặng về quản trị cho
sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài. Theo sơ đồ phân loại khoa học (tam giác khoa học) của B.M
Kêđrốp thì quản lý giáo dục thuộc ngành khoa học xã hội. Do mỗi phương
thức xã hội đều có một cách quản lý khác nhau, cho nên khái niệm quản lý
giáo dục đã ra đời và hình thành từ nhiều quan niệm khác nhau.
Ở các nước tư bản chủ nghĩa, do vận dụng lý luận quản lý xí nghiệp vào
quản lý cơ sở giáo dục (trường học) nên quản lý giáo dục được coi như một
loại “Xí nghiệp đặc biệt". Ở các nước xã hội chủ nghĩa, do vận dụng quản lý
xã hội vào quản lý giáo dục, nên quản lý giáo dục thường được xếp trong lĩnh
vực quản lý văn hoá tư tưởng như A.G. Afanaxep đã phân chia trong cuốn
sách kinh điển nổi tiếng của mình: "Con người trong quản lý xã hội”.
Như vậy, quản lý giáo dục được coi là bộ phận nằm trong lĩnh vực quản
lý văn hoá tinh thần. Quan hệ cơ bản của quản lý giáo dục là quan hệ giữa
người quản lý với người dạy và người học trong hoạt động giáo dục. Các mối
quan hệ khác là quan hệ giữa các cấp bậc quản lý giữa người với người (giữa
giáo viên và học sinh), giữa người với công việc (hoạt động giảng dạy và học
tập), giữa giáo viên học sinh và cơ sở vật chất phục vụ cho giáo dục.
* Khái niệm quản lý giáo dục
Hiện nay khái niệm QLGD có nhiều quan điểm chưa hoàn toàn thống
nhất, song có nhiều quan niệm cơ bản đồng nhất với nhau.
- Theo M.I.Kônđacốp: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế
hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến 16
tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến Trường ) nhằm mục đích đảm bảo
việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng
những quy luật chung của xã hội cũng nhơ các quy luật của quá trình giáo dục, của
sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ” [37].
- Theo GS.VS Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục
Như vậy, QLGD là hoạt động điều hành các nhà trường để giáo dục vừa
là sức mạnh vừa là mục tiêu của nền kinh tế – xã hội.
Từ chức năng tổng quát trên, QLGD cũng phải gắn bó với bốn chức
năng cụ thể như:
- Kế hoạch hoá: đưa mọi hoạt động giáo dục vào kế hoạch hoá với mục
tiêu, biện pháp rõ ràng, bước đi cụ thể, ấn định tường minh các điều kiện cung
ứng cho việc thực hiện mục tiêu.
- Tổ chức: hình thành và phát triển tổ chức tương xứng với sứ mệnh,
với nhiệm vụ chính trị, với mục tiêu dài hạn, trung hạn, ngắn hạn.
- Chỉ huy, điều hành: chức năng này thường mang tính tác nghiệp.
Trong quá trình kế hoạch hoá lưu ý sự dân chủ, lấy ý kiến từ cơ sở, trong điều
hành cần tập trung, thống nhất điều khiển.
- Kiểm tra: công việc này gắn bó với sự đánh giá tổng kết kinh nghiệm
giáo dục, điều chỉnh mục tiêu.
Tóm lại: Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch,
hợp quy luật của chủ thể quản lý, làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên
lý giáo dục của Đảng, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học giáo dục thế hệ
trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến lên trạng thái mới nhất về chất.
1.1.3. Quản lý trường học (nhà trường)
Khái niệm trường học
Trường học là một tổ chức giáo dục cơ sở của hệ thống giáo dục quốc
dân, trực tiếp đào tạo, giáo dục nhân cách bằng tổ chức hướng dẫn, truyền thợ
những tri thức, đạo đức mà nhân loại đã sàng lọc, chiết xuất được cho thế hệ 18
trẻ. Vì vậy, trong bất kỳ xã hội nào hoạt động trung tâm của nhà trường là hoạt
động giáo dục và quản lý giáo dục.
- Theo PGS.TS Đặng Quốc Bảo: “Trường học là một thiết chế xã hội
trong đó diễn ra quá trình đào tạo, giáo dục với sự tương tác của hai nhân tố
hình thành từ nhu cầu mang tính tất yếu khách quan của xã hội, nhằm truyền
thụ kinh nghiệm xã hội cần thiết cho từng nhóm dân cư nhất định trong cộng
đồng xã hội. Nhà trường được tổ chức và hoạt động sao cho việc truyền thụ và
lĩnh hội đó đạt được mục tiêu tồn tại và phát triển của cá nhân, phát triển cộng
đồng và xã hội. Việc tổ chức các hoạt động nói trên được thông qua quá trình
sư phạm (quá trình giáo dục được tổ chức một cách khoa học) nhằm xây dựng
và hoàn thiện nhân cách người học, mà những nhân cách đó là những tiêu
chuẩn về đạo đức và năng lực của người học đáp ứng được những yêu cầu
phát triển của xã hội mà không một dạng tổ chức nào trong xã hội khác với tổ
chức nhà trường có thể thay thế được nó. Vậy nhà trường là cơ quan giáo dục
chuyên biệt, có đội ngũ các nhà giáo được đào tạo, nội dung chương trình
được chọn lọc, phương pháp giáo dục phù hợp với mọi lứa tuổi, các phương
tiện kỹ thuật phục vụ cho giáo dục, mục đích giáo dục của nhà trường phù hợp
với xu thế phát triển của xã hội và thời đại. Quản lý nhà trường về thực chất và
trọng tâm là quản lý quá trình đào tạo, làm sao đưa quá trình đào tạo đạt được
mục tiêu đào tạo của nhà trường, song không chỉ đơn thuần chỉ quản lý việc
dạy của giáo viên và việc học của học sinh, mà còn bao gồm quản lý tài chính,
quản lý cơ sở vật chất, các điều kiện phục vụ cho việc dạy và học. Có nhiều
tác giả quan niệm về quản lý nhà trường khác nhau.
- Theo GS.VS Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện
đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là
đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo
dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học
sinh” [28,tr.22]. 20
- Quản lý trường học là hệ thống những tác động có mục đích, có kế
hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường
lối, nguyên lý của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ
M: Mục tiêu dạy học
M N: Nội dung dạy học
N P P: Phương pháp dạy học
QL Th: Thầy
Tr: Trò
Th Tr ĐK: Điều kiện
ĐK QL: Quản lý
ĐK
Vai trò của người quản lý là phải làm sao cho hệ thống các thành tố vận
hành liên kết chặt chẽ với nhau đưa đến kết quả mong muốn. Quản lý hoạt
động giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo chương trình
giáo dục. Cơ sở vật chất, các nguồn lực tạo nên hoạt động của trường. Xây
dựng mối quan hệ giữa nhà trường và các lực lượng ngoài nhà trường, tôn
trọng phát huy tinh thần dân chủ, quyền hạn của giáo viên tham gia các mặt
quản lý cả nhà trường.
Như vậy, quản lý nhà trường thực chất là tác động có định hướng, có kế
hoạch của chủ thể quản lý lên tất cả các nguồn lực nhằm đẩy mạnh hoạt động
của nhà trường theo nguyên lý giáo dục và tiến tới mục tiêu giáo dục, mà
trọng tâm của nó là đưa hoạt động dạy và học tiến lên trạng thái mới về chất.
Có thể hiểu nhà trường là bộ mặt của hệ thống giáo dục quốc dân, các
quan điểm, đường lối, chính sách giáo dục đều được thực hiện trong nhà
trường. Do đó, quản lý nhà trường còn có nghĩa là tổ chức các lực lượng trong 22
và ngoài nhà trường biến các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách
giáo dục của Đảng và Nhà nước thành hiện thực.
Nhưng suy cho cùng thì quản lý nhà trường thực chất là quản lý giáo
dục trên tất cả các mặt, liên quan đến hoạt động giáo dục và đào tạo trong
phạm vi một nhà trường.
dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của giáo viên, người học tự giác, tích
cực tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động học tập của mình nhằm thực hiện
những nhiệm vụ dạy học. Trong quá trình dạy học, hoạt động dạy của giáo
viên có vai trò chủ đạo, hoạt động học của học sinh có vai trò tự giác, chủ
động, tích cực. Nếu thiếu một trong hai hoạt động trên, quá trình dạy học
không diễn ra. Hoạt động dạy và hoạt động học gắn liền với hoạt động của con
người có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện ở mối quan hệ tương tác
giữa các thành tố: mục tiêu, nội dung, phương pháp của hoạt động dạy và hoạt
động học.
1.1.4.2. Hoạt động dạy của thầy
Dạy là truyền thụ tri thức, tổ chức, điều khiển hoạt động chiếm lĩnh tri
thức của học sinh, giúp học sinh nắm được kiến thức, hình thành kỹ năng, thái
độ. Hoạt động dạy có chức năng kép là truyền đạt và điều khiển nội dung học
theo chương trình quy định. Có thể hiểu hoạt động dạy
là
quá trình hoạt động
sư phạm của thầy, làm nhiệm vụ
định hướng, tổ chức thực hiện việc truyền thụ
tri thức, kỹ năng kỹ xảo đến người học một cách hợp lý, khoa học. Vai trò chủ
đạo của người thầy luôn luôn có ý nghĩa đặc biệt đối với bảo đảm chất lượng
của học sinh trong học tập.
Hoạt động học cũng có chức năng kép là lĩnh hội và tự điều khiển quá
trình chiếm lĩnh khái niệm khoa học một cách tự giác, tích cực nhằm biến tri
thức của nhân loại thành học vấn của bản thân. Có thể hiểu hoạt động học của 24
học sinh là quá trình lĩnh hội tri thức, hình thành hệ thống những kỹ năng, kỹ
xảo, vận dụng kiến thức vào thực tiễn và hoàn thiện nhân cách của bản thân.
1.1.4.3. Hoạt động học của học sinh