DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU
Đă từ lâu, du lịch là một hoạt động mang tính tích cực của con người. Xã
hội càng phát triển thì nhu cầu du lịch của người dân càng tăng. Người ta đi du
lịch để khám phá những chân trời mới lạ, tìm hiểu những nền văn hoá độc đáo,
khác biệt ... và đặc biệt là nghỉ ngơi, thư giãn sau những giờ phút lao động căng
thẳng mệt nhọc. Ngày nay, cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ
thuật và công nghệ, đời sống được cải thiện, trình độ dân trí được nâng cao .. thì
khát khao tìm hiểu thế giới càng mạnh mẽ, ngành du lịch thế giới có điều kiện để
phát triển vượt trội
Nhận thức được tầm quan trọng của ngành du lịch đối với sự phát triển
1
kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà Nước đă xác định: “...phát triển du lịch trở thành
một ngành kinh tế mũi nhọn trên cơ sở khai thác có hiệu quả lợi thế về điều kiện
tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hoá lịch sử, huy động tối đa nguồn lực trong
nước và tranh thủ sự hợp tác, hỗ trợ quốc tế, góp phần thực hiện công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước. Từng bước đưa nước ta trở thành một trung tâm du
lịch có tầm cỡ của khu vực, phấn đấu sau năm 2010 du lịch Việt Nam được xếp
vào nhóm quốc gia có ngành du lịch phát triển trong khu vực…”
Về mục tiêu phấn đấu năm 2010: Khách du lịch quốc tế vào Việt Nam du
lịch từ 5,5 đến 6 triệu lượt người, khách du lịch nội địa từ 25 đến 26 triệu lượt
người, thu nhập du lịch đạt 4 đến 4,5 tỷ USD, tạo công ăn việc làm cho khoảng 2
triệu người, tốc độ tăng trưởng GDP của ngành du lịch bình quân thời kỳ 2001 -
2010 đạt 11 - 11,5%/ năm.
Du lịch Việt Nam đang đứng trước những vận hội và thách thức mới. Phát
triển mạnh mẽ kinh doanh lữ hành là một trong những hướng đi chủ yếu của du
lịch nước ta. Trong đó, việc thực hiện các chương trình du lịch, đặc biệt là các
chương trình Outbound của từng đơn vị trong ngành, đóng vai trò then chốt đối
với hoạt động kinh doanh lữ hành. Có xây dựng và thực hiện tốt các chương
trình du lịch thì mới thoả mãn được nhu cầu đa dạng của khách hàng, đem lại
hiệu quả kinh tế cho mỗi công ty cũng như tăng nguồn thu cho đất nước
THỊ TRƯỜNG KHÁCH VIỆT NAM ĐI DU LỊCH THÁI LAN
1.1.Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Doanh nghiệp lữ hành
1.1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp lữ hành
Khi xã hội ngày càng phát triển, đời sống của con người được nâng cao
nhưng đi cùng với điều đó là sức ép trong công việc cũng như trong các mối
quan hệ của con người ngày càng cao. Vì vậy, con người luôn muốn được thư
giãn thoải mái sau những ngày làm việc vất vả và cách thư giãn tốt nhất đó là đi
du lịch, bởi đi du lịch không chỉ đem lại lợi ích là thư giãn tinh thần mà còn đem
lại những hiểu biết và khám phá mới lạ về vùng đất mà mình đặt chân đến. Nắm
bắt được nhu cầu đó, các doanh nghiệp lữ hành đáp ứng ngày càng cao và hoàn
thiện nhu cầu đi du lịch của con người. Vậy doanh nghiệp lữ hành là doanh
nghiệp như thế nào mà có thể đáp ứng được nhu cầu đó của con người?
Đã có rất nhiều cách hiểu khác nhau về doanh nghiệp lữ hành xuất phát từ
nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau trong việc nghiên cứu về các doanh nghiệp
lữ hành và bản thân hoạt động du lịch cũng rất phong phú, đa dạng, nó có biến
đổi theo thời gian với những nội dung và hình thức khác nhau tại những thời
điểm khác nhau.
Thời kỳ đầu, doanh nghiệp lữ hành chỉ đóng vai trò trung gian, đại lý bán
các sản phẩm dịch vụ cho các nhà cung cấp như khách sạn, vận chuyển, hàng
không…vv nhằm mục đích thu tiền hoa hồng từ các nhà cung cấp. Nhưng ngày
nay, các doanh nghiệp lữ hành có phạm vi hoạt động rộng hơn, không chỉ đóng
vai trò trung gian nữa mà đã trở thành những người trực tiếp sản xuất ra sản
phẩm, dịch vụ du lịch. Do đó doanh nghiệp lữ hành có thể định nghĩa như sau:
“ Doanh nghiệp lữ hành là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở ổn
định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích lợi
nhuận thông qua việc tổ chức xây dựng, bán và thực hiện các chương trình du
lịch cho khách du lịch. Ngoài ra, doanh nghiệp lữ hành còn có thể tiến hành các
hoạt động trung gian bán các sản phẩm của các nhà cung cấp du lịch hoặc thực
4
vụ hoặc liên kết các dịch vụ đơn lẻ của các nhà cung cấp thành sản phẩm hoàn
thiện là chương trình du lịch cho khách du lịch. Và sau đó là tiến hành thực hiện
5
tổ chức khách du lịch đơn lẻ thành từng nhóm, hướng dẫn và giúp đỡ họ trong
quá trình tiêu dùng du lịch.
- Chức năng thực hiện: điều này có nghĩa là doanh nghiệp thực hiện khâu
cuối cùng của quá trình kinh doanh lữ hành đó là thực hiện các hoạt động vận
chuyển, hướng dẫn tham quan, thực hiện các hoạt động kiểm tra giám sát dịch vụ
của các nhà cung cấp theo đúng hợp đồng đã thoả thuận giữa doanh nghiệp với
khách du lịch và giữa doanh nghiệp với các nhà cung cấp.
1.1.1.3. Phân loại doanh nghiệp lữ hành
Có nhiều cách phân loại doanh nghiệp lữ hành khác nhau, mỗi cách phân
loại dựa theo những tiêu chí khác nhau
* Căn cứ vào tính chất hoạt động để tạo ra sản phẩm có 3 loại doanh nghiệp
kinh doanh lữ hành với những tên gọi:
- Các đại lý lữ hành: hoạt động chủ yếu là trung gian bán các sản phẩm dịch
vụ của các nhà cung cấp dịch vụ cho khách du lịch với mục đích hưởng hoa
hồng theo % doanh số đã bán.
- Các công ty lữ hành: thực hiện các hoạt động làm gia tăng giá trị các sản
phẩm dịch vụ đơn lẻ của các nhà cung cấp để bán cho khách với mức giá gộp.
- Các công ty lữ hành kinh doanh tổng hợp: vừa sản xuất trực tiếp các dịch vụ
vừa liên kết các dịch vụ đó thành sản phẩm có tính nguyên chiếc, đồng thời vừa tổ
chức thực hiện bán buôn bán lẻ vừa thực hiện chương trình du lịch đã bán.
* Căn cứ vào phương thức và phạm vi hoạt động có:
- Công ty lữ hành gửi khách: hoạt động chính là thu hút khách du lịch một
cách trực tiếp để đưa khách đến nơi du lịch.
- Công ty lữ hành nhận khách: hoạt động chính của nó là xây dựng các
chương trình du lịch, quan hệ với các công ty lữ hành gửi khách để bán các
chương trình du lịch và tổ chức các chương trình du lịch đã bán thông qua công
ty lữ hành gửi khách.
+ Kinh doanh các dịch vụ vui chơi giải trí
+ Kinh doanh vận chuyển du lịch
+ Dịch vụ ngân hàng phục vụ khách du lịch
Hệ thống sản phẩm dịch vụ của công ty lữ hành sẽ ngày càng đa dạng hơn
cùng với sự phát triển của các công ty lữ hành.
1.2. Hoạt động Marketing trực tiếp
1.2.1. Khái niệm Marketing trực tiếp
Marketing trực tiếp (tiếng Anh: Direct marketing), theo định nghĩa của
7
Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ, là hệ thống tương tác của marketing, có sử dụng
một hay nhiều phương tiện quảng cáo, để tác động đến một phản ứng đáp lại đo
lường được ở bất cứ mọi nơi.
"Marketing là quá trình xác định tham gia và sáng tạo ra nhu cầu mong
muốn tiêu thụ sản phẩm và tổ chức tất cả nguồn lực của công ty nhằm làm hài
lòng người tiêu dùng để đạt được lợi nhuận hiệu quả cho cả công ty và người
tiêu dùng" (G. F. Goodrich ).
a)Những khái niệm cốt lõi của marketing:
Có nhiều cách định nghĩa Marketing khác nhau. Marketing là quá trình tổ
chức lực lượng bán hàng nhằm bán được những hàng hóa do công ty sản xuất ra.
Marketing là quá trình quảng cáo và bán hàng. Marketing là quá trình tìm hiểu và
thỏa mãn nhu cầu của thị trường. Hay Marketing là làm thị trường, nghiên cứu thị
trường để thỏa mãn nó. Chúng ta cũng có thể hiểu rằng Marketing là các cơ chế
kinh tế và xã hội mà các tổ chức và cá nhân sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu và
mong muốn của mình thông qua quy trình trao đổi sản phẩm trên thị trường.
Theo Philip Kotler thì marketing được hiểu như sau: Marketing là một quá
trình quản lý mang tính xã hội, nhờ đó mà các cá nhân và tập thể có được những
gì họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra, chào bán và trao đổi những sản
phẩm có giá trị với những người khác.
Khái niêm này của marketing dựa trên những khái niệm cốt lõi: nhu cầu,
mong muốn và yêu cầu, sản phẩm, giá trị, chi phí và sự hài lòng, trao đổi, giao
b) Những lợi thế của Marketing trực tiếp
- Marketing trực tiếp nhắm đúng mục tiêu: Marketing trực tiếp nhắm đúng
mục tiêu:tập trung vào các mục tiêu có thể giúp tăng hiệu quả làm việc của cá
nhân hay giúp doanh nghiệp đi đầu trong các cuộc cạnh tranh…
+Xác định những khách hàng hiện tại và tương lai có tầm quan trọng chiến
lược nhất
+Lôi kéo những khách hàng hiện tại và tương lai có tầm quan trọng và
chiến lược nhất.
+Giữ lại những khách hàng hiện tại và tương lai có tầm quan trọng chiến
lược nhất.
+Tăng doanh thu cho doanh nghiệp từ những khách hàng hiện tại có tầm
quan trọng chiến lược nhất.
+Tăng giá trị của doanh nghiệp dưới cái nhìn của tất cả mọi người (bao
9
gồm , các khách hàng, các đối tác, nhân viên..)
- Marketing trực tiếp có khả năng cá nhân hoá mối quan hệ :Cá nhân hóa
mối quan hệ đến từng khách hàng (Relationship customization) bằng cách thấu
hiểu các đặc tính cụ thể, yêu cầu của từng khách hàng sau đó đưa toàn bộ thông
tin vào cơ sở dữ liệu và lấy ra sử dụng khi cần.Có khả năng thu hút khách hàng
thông qua đặc điểm đáp ứng nhu cầu và mong đợi của khách hàng. gắn kết
doanh nghiệp với biểu tưởng chất lượng và bền vững, cung cấp nền tảng để phát
triển các dịch vụ phụ trợ.
- Tàng hình chiến lược: Marketing trực tiếp khiến cho các đối thủ cạnh
tranh không thể bắt chước chương trình Marketing của doanh nghiệp, bởi chỉ có
khách hàng mục tiêu mới biết nhận được thông tin từ doanh nghiệp mà thôi.
- Tạo ra hành động:Marketing trực tiếp đã tạo ra một số cách thức có thể
tổng hợp cũng như khuyến khích những đóng góp hoặc phản ứng từ phía người
sử dụng, mà những đóng góp hoặc phản ứng này (xét trên một khía cạnh nào đó)
sẽ rất hữu ích cho công ty . Người sử dụng ở đây có thể được hiểu là các khách
hàng thông thường, những khách hàng tiềm năng, nhân viên của công ty, thậm
làm Marketing sẽ gởi thư qua email cho các khách hàng của mình. Một điều lo
âu trong hình thức Marketing này là thư rác (Spam), những thư này sẽ đẩy lùi
những thư điện tử hợp pháp khác. Kết quả là sự phát triển rất nhanh chóng của
thư rác, nhiều nhà cung cấp dịch vụ email và IPS đã tăng hiệu quả của các
chương trình chống lại nó.
Hoạt động marketing bằng email gồm 2 hình thức:
-Email marketing cho phép hay được sự cho phép của người nhận
(Solicited Commercial Email), đây là hình thức hiệu quả nhất.
-Email marketing không được sự cho phép của người nhận (Unsolicited
Email Marketing hay Unsolicited Commercial Email - UCE) còn gọi là Spam.
Đây là hai hình thức marketing bằng email đầu tiên xuất hiện trên Internet.
Marketing qua e- mail là một phương tiện chuyển giao thông điệp cho
khách hàng hiện tại và tiềm năng với chi phí thấp. Những thông điệp này có thể
nhằm mục đích:Bán hàng.Duy trì mối quan hệ với khách hàng hiện tại.Thu hút
mọi người vào website thương mại điện tử hoặc cửa hàng của người bán để thực
hiện giao dịch mua bán.Xây dựng thương hiệu thông qua việc nhận biết tên
tuổi.Thử nghiệm hàng cung cấp với một số lượng nhỏ khách hàng tiềm năng.Lấy
tên và địa chỉ e- mail bằng cách yêu cầu khách hàng tiềm năng đăng ký vào danh
sách của người bán.Tiết kiệm rất nhiều thời gian.Chi phí rất thấp,tạo ra lợi ích
11
lớn,đem lại những đơn đặt hàng bất ngờ,trực tiếp trao đổi với khách hàng hiện
tại và tương lai.Có khả năng trao đổi qua lại lẫn nhau,quảng cáo qua thư điện tử
số lượng lớn nhanh hơn
Đối với các doanh nghiệp du lịch, thông tin về các tour, các dịch vụ khác
đều được đưa lên website, khách du lịch sẽ lựa chọn và đặt dịch vụ trực tiếp qua
mạng như: đặt vé máy bay, phòng khách sạn, đặt tour…và có thể thanh toán trực
tiếp qua Internet bằng thẻ tín dụng
*Marketing tận nhà (Door to Door Leaflet Marketing) đây là hình thức
Marketing được sử dụng nhiều trong nghành thực phẩm tiêu dùng (Fast Food
Industries). Hình thức này tập trung hoàn toàn theo vùng.
*Xác định mục tiêu của chiến lược Marketing:
Mục tiêu của marketing trực tiếp là làm sao để thu lại lợi nhuận nhiều hơn số
chi phí công ty bỏ ra trong một lần giao dịch với khách hàng.Tại sao công ty đầu tư
vào marketing trực tiếp,công ty đang cố gắng thu hút khách hàng tiềm năng hay
công ty sử dụng các công cụ marketing trực tiếp chỉ vì công ty có nhiều tiền.Câu
trả lời của công ty sẽ xác định được hiệu quả mang lại từ hoạt động này và nó có
thể giúp công ty thiết lập một chiến dịch marketing trực tiếp hiệu quả.
*Đánh giá kết quả chiến dịch Marketing trực tiếp:
Nếu công ty chi tiền trong những bước đầu của chiến lược marketing trực
tiếp, công ty sẽ cần theo dõi tính hiệu quả của nó. Cách đó sẽ giúp cho công
typhát hiện ra phương pháp marketing nào mang lại hiệu quả cao nhất, và có thể
tránh được các lỗi khi đưa ra chiến dịch marketing trực tiếp để nâng cao kĩ năng
và là tiền đề mang lại sự thành công.
Mỗi chiến dịch marketing được thực hiện đều cần phải được đánh giá kết
quả. Đánh giá kết quả của chiến dịch marketing trực tiếp qua tỷ lệ đặt hàng, mua
hàng của khách hàng.
13
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG MARKETING TRỰC TIẾP NHẰM
THU HÚT THỊ TRƯỜNG KHÁCH VIỆT NAM ĐI DU LỊCH THÁI LAN
CỦA CÔNG TY TNHH DU LỊCH Transviet
2.1. Giới thiệu khái quát về Công ty Transviet Travel
Outbound Tour Department
Tầng 4, Tòa nhà Đào Duy Anh, Số 9 Đào Duy Anh - Quận Đống Đa - Hà Nội
Tel : +84 (4) 3936 6777
Fax: +84 (4) 3577 2218
Website: www.transviet.com.vn
Email:
TransViet Travel, ngày nay là một trong những công ty hàng đầu trong lịnh
vực du lịch lữ hành. Được hình thành từ năm 1998, xuất phát từ nhu cầu cần thiết
2.1.1. Các hoạt động cơ bản của Công ty Transviet
- Làm đại diện cho các hãng hàng không quốc tế ở Việt Nam
- Tổ chức dịch vụ du lịch lữ hành trọn gói cho khách nước ngoài đến Việt
Nam và khách người Việt nam đi du lịch nước ngoài, cũng như trong nước.
- Tổ chức đào tạo và cấp chứng chỉ học nghề cho các học viên tham gia
khóa đào tạo về nghiệp vụ đặt giữ chỗ và xuất vé trên các hãng hàng không.
- Bên cạnh đó TransViet Group còn tự hào được Amedeus Int Corp, một
công ty hàng đầu cung cấp và phân phối các giải pháp cho ngành dịch vụ lữ
hành, lựa chọn làm đại diện tại Việt Nam vào năm 2005.
- TransViet luôn quan tâm chú trọng đến chất lượng sản phẩm, tính chuyên
nghiệp cao, hướng tới những nhu cầu của từng loại khách hàng. Công ty có mối
quan hệ chiến lược, gần gũi với nhiều công ty, tổ chức lớn ở nước ngoài kinh
doanh trong lĩnh vực dịch vụ lữ hành du lịch, để đảm bảo chắc chắn rằng khách
hàng sẽ được cung cấp dịch vụ và giải pháp du lịch hoàn hảo.
15
Dưới đây là danh sách các đối tác đã chọn TransViet làm đại diện ở Việt Nam.
Tháng 4 / 1998
Emirates Airline
Bổ nhiệm Tổng Đại lý (Việt Nam)
Tháng 10/ 1999
Korean Air
Bổ nhiệm Tổng Đại lý (Hà Nội & Phía Bắc Việt Nam)
Tháng 12/ 1999
British Airways
Bổ nhiệm Tổng Đại lý (Việt Nam)
Tháng 4 / 2000
All Nippon Airways
Bổ nhiệm Tổng Đại lý (Việt Nam)
Tháng 3 / 2001
All Nippon Airways
Tháng 7 / 2004
United Airlines
Bổ nhiệm Tổng Đại lý (Việt Nam)
Tháng 11 / 2004
Mandarine Airlines
Bổ nhiệm Tổng Đại lý (Việt Nam)
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.1.2. Bộ máy tổ chức hoạt động của công ty
2.1.2.1. Sơ đồ bộ máy tổ chức của công ty
Đồng Mạnh Tùng Lớp Du lịch 48
17
Managing Director
(Giám Đốc Điều Hành)
HTD
CORPORATE PLANNING
(Marketing Plan)
Airlines Counter
(Quầy hàng không)
Quầy United
Airlines
Quầy All Nippon
Airways
Quầy Travel Shop
Đào tạo học viên
TRANSVIET HANOI ORGANIZATION CHART
(Board of Management)
Accounting Manager
(Trưởng phòng Kế
Toán)
(Điều hành
Event
(Điều hành
Marketing)
Public Relation
(Điều hành
Marketing)
HR & Administration
(Trưởng phòng HCNS)
TBA
Deputy Managing Director
(P. Giám Đốc Điều Hành)
Phát triển sản
phẩm 1A
Hỗ trợ hãng hàng
không (Airlines
Coordinator)
Hỗ trợ bán đại lý
(Agent Sales)
Outbound
Operation
(Điều hành
DLOB)
Bán sản phẩm
đoàn (Group
Sales)
Inbound
Operation
(Điều hành
DLIB)
Cargo Sales
Supervisor
CTD
Customer Support
Supervisor
Training Manager
(Quản lý đào tạo)
CP (Customer Service)
NLC
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.1.2.2. Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận trong công ty
Giám đốc điều hành công ty là người điều hành hoạt động kinh doanh hàng
ngày của công ty, là người đại diện theo pháp luật của công ty; vạch ra và tổ
chức thực hiện phương châm, sách lược kinh doanh và kế hoạch hoạt động của
công ty, không ngừng nâng cao hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội của công ty.
Nhiệm vụ:
- Lập ra cơ cấu tổ chức, kế hoạch tiền lương của doanh nghiệp và bố trí
cán bộ công nhân viên một cách hợp lý. Phụ trách công tác tuyển dụng, kiểm
tra, thăng
giáng và thưởng phạt cán bộ quản lý và nhân viên
- Vạch ra mục tiêu kinh doanh, phương hướng phát triển của công ty,
thống nhất quy hoạch, tổ chức kỹ lưỡng hoạt động quản lý kinh doanh của công
ty lấy phục vụ khách là trung tâm, lấy chất lượng quốc tế làm tiêu chuẩn
- Nắm bắt thông tin kinh doanh lữ hành trong và ngoài nước, định ra chiến
lược và kế hoạch kinh doanh cho công ty, tìm nguồn khách và không ngừng
khai thác thị trường kinh doanh lữ hành.
- Vạch ra kế hoạch dự toán tài vụ, nắm vững việc hạch toán giá thành kinh
doanh của công ty để giảm lãng phí, tăng hiệu quả kinh tế
- Đôn đốc kiểm tra chất lượng phục vụ và công tác bảo vệ an toàn cho
khách.
quả cho công ty thông qua quá trình hướng dẫn khách của các hướng dẫn viên.
Các hướng dẫn viên của công ty có các nhiệm vụ sau:
- Thực hiện đón và tiễn khách
- Tổ chức lưu trú và ăn uống cho khách
- Trung gian môi giới khách với các cơ sơ kinh doanh du lịch
- Nhận thông tin phản hồi từ phía khách
- Thông tin về chương trình du lịch, cũng như các dịch vụ du lịch, giá cả,
thủ tục và các vấn đề mà khách du lịch quan tâm; tình hình kinh tế, xã hội,
chính trị. kuật pháp và các phong tục tấp quán tại điểm đến.
- Thông tin về các tuyến điểm tham quan qua bài thuyết minh của mình
- Thông tin các dịch vụ khác của công ty với mục đích quảng cáo
- Thực hiện nghiêm chỉnh quy trình hướng dẫn đoàn khách, đặc biệt trong
việc thực hiện chương trình tham quan du lịch, chế độ báo cáo, thanh quyết
toán đoàn, có ý thức tiết kiệm
- Xử lý các tình huống phát sinh và các công việc khác trong quá trình
thực hiện các chương trình du lịch
Đồng Mạnh Tùng
Lớp Du lịch 48
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Kiểm tra chất lượng hàng hoá, dịch vụ của các nhà cung cấp dịch vụ du
lịch.
- Kiểm tra, xác nhận thanh toán bao gồm việc thanh toán tiền lưu trú, ăn,
tham quan và một số dịch vụ nằm trong chương trình du lịch đã xây dựng và
thoả thuận với khách.
Bộ phận hành chính - kế toán phụ trách vấn đề về ngân quỹ, theo dõi thu
chi, thực hiện các nghiệp vụ kế toán theo chế độ hiện hành, kiểm soát, quản lý
và điều hành tốt hoạt động tài chính trong quá trình tiến hành hoạt động kinh
doanh của công ty.
Bộ phận hỗ trợ cung cấp các dịch vụ khác của công ty như vận chuyển
xu hướng tiêu dùng tương đối giống nhau để có chiến lược Marketing phù
hợp.Đó chính là việc lựa chọn thị trường mục tiêu của doanh nghiệp. Thị
trường mục tiêu của doanh nghiệp có thể bao gồm một hay một vài đoạn thị
trường. Để có thể lựa chọn được thị trường mục tiêu, doanh nghiệp du lịch cần
tiến hành phân chia người mua thành từng nhóm trên cơ sở những khác biệt về
nhu cầu, mong muốn, hành vi mua…tức là tiến hành phân đoạn thị trường, chia
thị trường lớn thành những đoạn thị trường nhỏ hơn. Doanh nghiệp lựa chọn
cho mình những đoạn thị trường mà ở đó doanh nghiệp có thể đáp ứng tốt nhất
nhu cầu, mong muốn của khách hàng, đồng thời mang lại nhiều lợi nhuận cho
doanh nghiệp.
Thị trường khách Việt Nam đi du lịch Thái lan là tất cả những người Việt Nam
có mong muốn đi sang Thái lan để tham quan, nghỉ ngơi, giải trí, mua sắm…và
họ có đủ thời gian rỗi cũng như có khả năng thanh toán cho chuyến đi du lịch
Thái lan để thoả mãn mong muốn đó của mình
2.1.3.2. Sức hấp dẫn của du lịch Thái lan
Xu hướng xuất ngoại của người dân Việt Nam sẽ có phần giảm đáng kể,
những điểm đến như Mỹ, Châu Âu,... sẽ được thay thế bằng những chuyến
hành trình ngắn ngày hơn trong khu vực Châu Á như: Nhật Bản, Hàn Quốc,
Trung Quốc, Singapore,Thái lan...
Cũng xuất ngoại nhưng là những điểm đến ngắn ngày hơn thì Thái Lan sẽ
vẫn là điểm đến lý tưởng cho du khách Việt Nam
Thái Lan là điểm đến chiếm lượng khách Việt đông nhất trong những năm
gần đây, trung bình khoảng 100.000 lượt khách/năm. Lý do dễ hiểu: tour Thái
giá mềm, lại có nhiều "trò" giải trí và đáp ứng thú vui mua sắm của du khách.
Đồng Mạnh Tùng
Lớp Du lịch 48
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sự xuất hiện của các hãng hàng không giá rẻ trong khu vực, du khách có
thể đi bằng đường bay tới các điểm như Băng Cốc, Chiêng Mai, Phu Ket của
Lớp Du lịch 48
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
năm 2005.
Bên cạnh đó bạn cũng có thể đến thăm đảo Koh Samui. Đây là hòn đảo
nằm trên vịnh Thái Lan, nổi tiếng về vẻ đẹp tự nhiên, hoang sơ. Đến đây, du
khách có dịp được ngâm mình trong dòng nước trong xanh, ấm áp hoặc vui đùa
trên bờ cát trắng mịn, êm ái. Ngoài ra, đảo còn có rất nhiều điểm tham quan và
vui chơi giải trí như công viên Hải dương quốc gia AngThong với các loài sinh
vật biển quý hiếm; khu Talay Nai khám phá cuộc sống trong lòng đại dương…
Thái lan, điểm đến lí tưởng để du ngoạn, giải trí và mua sắm
2.1.4. Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty những năm vừa qua
Trong những năm vừa qua thị trường khách du lịch của công ty tương đối
ổn định và có xu hướng tăng dần về số lượng khách ở tất cả các thị trường
khách của công ty.
Dưới đây là bảng thị trường khách du lịch của công ty qua các năm.
Bảng 1 : Thị trường khách của công ty từ năm 2005 – 2009
(Đơn vị: lượt khách)
Năm
Thị trường
2005 2006 2007 2008 2009
Trong nước 964 920 880 970 1500
Thị
trường
Outbound
Thái lan 120 125 145 181 357
Hàn Quốc 75 62 80 20 25
Nhật Bản 35 40 45 42 50
Tổng 1284 1242 1159 1303 2017
(Nguồn báo cáo của công ty tháng 12 năm 2009)
Lượng khách đi du lịch Thái lan tăng dần qua các năm. Năm 2005 công ty đã
đưa 120 lượt khách đi du lịch chủ yếu thăm một số tỉnh như BANGKOK,
PATTAYA, PHUKET, CHIANG MAI…Năm 2006, tổng số lượt khách có
tăng nhẹ so với năm 2005 là 5 lượt. Đến năm 2007 thì tổng lượt khách của công
ty tăng 83 lượt, tức là tăng 6,67 %. Đây chính là ảnh hưởng bởi hậu quả kinh kế
năm 2007. Nhưng đến năm 2008 thì lượng khách của công ty đã phục hồi 1303
lượt, tăng 144 lượt (tức 12,4 %) so với năm 2007. Đến năm 2009 thì lượng
khách của công ty du lịch Transviet đã tăng đột biến lên 2017 lượt so với năm
2008( tức 714 lượt- 54,7 %). Đây chính là kết quả của chiến lược khai thác thị
trường mới của công ty cuối năm 2008 đầu năm 2009.
*Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Du lịch Transviet năm 2009
Năm 2006 công ty tổ chức cho 1242 lượt khách đi du lịch. Năm 2007 công ty
đã tổ chức được 80 chương trình du lịch trong và ngoài nước với 1159 lượt
khách giảm 3,6 % so với năm 2006. Tính đến năm 2008, công ty đã tổ chức
được hơn 85 chương trình du lịch trong và ngoài nước với 1303 lượt khách,
Đồng Mạnh Tùng
Lớp Du lịch 48
Lượt khách
Năm
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tăng 12,4% so với năm 2007. Tính đến năm 2009 thì lượng khách của công ty
đã có bước phát triển nhảy vọt tăng 54,9% so với năm 2008.
Bảng 2 : Tốc độ phát triển liên hoàn lượt khách của công ty
qua các năm từ năm 2005- 2009
So sánh Tốc độ phát triển liên hoàn về lượt khách
Năm 2006/năm 2005 96,7 %
Năm 2007/năm 2006 93,1 %
Năm 2008/năm 2007 112,4 %
Năm 2009/năm 2008 154,9 %