(Luận văn thạc sĩ) sử dụng biện pháp so sánh trong dạy học thơ xuân diệu ở trường trung học phổ thông - Pdf 70

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

VŨ THỊ THANH TUYỀN

SỬ DỤNG BIỆN PHÁP SO SÁNH TRONG DẠY HỌC
THƠ XUÂN DIỆU Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 10

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Ái Học

HÀ NỘI – 2012

i


MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn ................................................................................................... i
Danh mục viết tắt ......................................................................................... ii
Danh mục các bảng ...................................................................................... iii
Mục lục ........................................................................................................ iv
MỞ ĐẦU ..................................................................................................... 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BIỆN PHÁP
SO SÁNH TRONG DẠY HỌC VĂN Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG ............................................................................................. 10

2.3.2. Cách thức sử dụng biện pháp so sánh khi dạy bài thơ “Vội vàng”
(So sánh lịch đại và đồng dại) ...................................................................... 78
Tiểu kết 2 ..................................................................................................... 90
Chƣơng 3: THỂ NGHIỆM SƢ PHẠM ..................................................... 91
3.1. Những vấn đề chung .............................................................................. 91
3.1.1. Yêu cầu thực nghiệm .......................................................................... 91
3.1.2. Mục đích của việc thực nghiệm .......................................................... 91
3.1.3. Thời gian và địa bàn thực nghiệm ....................................................... 91
3.1.4. Nội dung, phương pháp tiến hành thực nghiệm .................................. 91
3.2. Thiết kế bài soạn thực nghiệm ............................................................... 92
3.3. Kết quả thực nghiệm .............................................................................107
3.3.1. Nhận xét giáo án đối chứng ................................................................107
3.3.2. Nhận xét giáo án thực nghiệm ............................................................108
3.3.3. Kết quả thực nghiệm...........................................................................108
Tiểu kết 3 .....................................................................................................110
KẾT LUẬN .................................................................................................111
TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................113

-6-


DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BPDH

Biện pháp dạy học

ĐC

Đối chứng


Sách giáo khoa

SGV

Sách giáo viên

THPT

Trung học phổ thông

TN

Thực nghiệm

TPVC

Tác phẩm văn chương

VH

Văn học

VHVN

Văn học Việt nam

-3-



đó đổi mới nội dung phương pháp dạy và học là vấn đề then chốt trong chiến
lược: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền
thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước
áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương pháp hiện đại vào quá trình
dạy - học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh
nhất là sinh viên đại học” (Văn kiện hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành
Trung ương Đảng khố VIII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội 1997, tr.4).
Trên tinh thần đó, văn kiện Đại hội Đảng tồn quốc khố IX khi nói về giáo
dục đào tạo đã nhấn mạnh “Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện,
đổi mới nội dung phương pháp dạy và học phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ
và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học
vấn… ” (Văn kiện Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc
gia 2001, tr108,109).
Như vậy trên con đường hội nhập với thế giới, Đảng, Nhà nước ta đặc
biệt chú trọng vào việc nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, trong đó u
cầu phải đổi mới nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy là vấn đề
then chốt.

-7-


Gần đây nhất, trong lần thay sách giáo khoa Ngữ văn 2006, việc đổi
mới chương trình sách giáo khoa đã đặt trọng tâm vào việc đổi mới phương
pháp dạy học. Chỉ có đổi mới cơ bản phương pháp dạy và học chúng ta mới
có thể tạo được sự đổi mới trong giáo dục, mới có thể đào tạo được lớp người
năng động, sáng tạo, có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnh nhiều
nước trên thế giới đang hướng tới nền kinh tế tri thức.
Môn Văn vừa nằm trong hệ thống các môn khoa học xã hội và nhân
văn, bộ môn thuộc lĩnh vực giáo dục thẩm mỹ, vừa là một bộ mơn có tính chất
cơng cụ. Nó khơng những ni dưỡng tâm hồn mà cịn giúp con người hình

nhất trong các nhà Thơ Mới. Một nhà thơ lãng mạn số một của văn học Việt
Nam lúc bấy giờ, ơng hồng của thơ tình. Ơng là một trong số khơng nhiều
nhà thơ đã có nhiều cống hiến cho nền văn chương Việt Nam thế kỷ XX. Mỗi
trang viết của ông đều thể hiện dạt dào cảm xúc, sự táo bạo, mới lạ... Xuân
Diệu đã để lại một sự nghiệp văn học đồ sộ với nhiều thể loại: Thơ, văn xi,
tiểu luận, phê bình, dịch thuật. Văn nghiệp của Xuân Diệu trải qua hai giai
đoạn, trước và sau cách mạng tháng Tám. Trước cách mạng tháng Tám Ông
xứng đáng được coi là một nghệ sĩ lớn, một nhà văn hố lớn. Năm 1983, ơng
được bầu là Viện sĩ thơng tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật Cộng hồ dân chủ
Đức. Năm 1996, ông được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về
văn học nghệ thuật (đợt I).
Xuân Diệu và tác phẩm của ông được đưa vào giảng dạy từ sau năm
1980 cùng một số nhà thơ cùng thời một họ dần dần đã có chỗ đứng trong
chương trình và sách giáo khoa phổ thơng. Đặc biệt từ thập kỷ 90 của thế kỷ
trước lại đây, học sinh được học nhiều hơn về Xuân Diệu, học tới 5 tiết ở lớp
11 (sau Nam Cao; bằng Tố Hữu và ngang bằng Nguyễn Tuân), trong đó bài
thơ "Vội vàng" rút ra từ tập “Thơ thơ” in năm 1938, được đưa vào giảng dạy
trong chương trình Ngữ văn lớp 11 hiện nay là tác phẩm có nhiều mới, lạ và
độc đáo. Bài thơ tập trung cao nhất niềm khát khao giao cảm với đời đến
cuống quýt; là hồn thơ hăm hở, sôi nổi, yêu đời yêu sống đến cuồng nhiệt; là
cái khát vọng của mình giữa tuổi trẻ và xuân tình; là một cảm xúc triết học
một quan niệm nhân sinh mới mẻ. Mà để chiếm lĩnh, cảm nhận được những
-9-


niềm cảm xúc đó và cảm nhận được cái mới mẻ xưa nay chưa từng có trong
tác phẩm vậy phải tìm đến biện pháp dạy học so sánh.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Sử dụng biện
pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu ở trường trung học phổ thông”.
2. Lịch sử vấn đề

Mãi đến cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980, các công trình
nghiên cứu đề cập đến thơ ca Xuân Diệu mới xuất hiện.
- Trong “Nhà thơ Việt Nam hiện đại”(cơng trình tập thể), các tác giả
Mã Giang Lân, Nguyễn Văn Long coi Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu nhất ở
giai đoạn phát triển mạnh mẽ và rực rỡ của phong trào Thơ mới.
Giữa những năm 1975 đến nay
- Trong cuốn “Xuân Diệu – về tác gia và tác phẩm” của Lưu Khánh
Thơ tuyển chọn và giới thiệu, cuốn sách tập hợp khá đầy đủ và tương đối có
hệ thống những bài viết về sự nghiệp văn và cuộc đời của tác giả
- Trong cuốn “Con mắt thơ”, Đỗ Lai Thúy đã phản ánh những cố gắng,
tìm tịi của các nhà nghiên cứu về phong cách và thi pháp thơ Xuân Diệu.
- Trong cuốn “Thơ mới những bước thăng trầm”, tác giả Lê Đình Kỵ đã
thể hiện tâm hồn nồng nàn, nồng nhiệt của Xuân Diệu và chỉ rõ đặc sắc nghệ
thuật của ơng.
Ngồi những cơng trình nghiên cứu trên cịn có những cơng trình khác
như: “Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca”(do Huy Cận và Hà Minh
Đức chủ biên), “Thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng Tám năm 1945”(qua
“Thơ thơ” và “Gửi hương cho gió”) của Lý Hồi Thu, luận án tiến sĩ “Thế
giới nghệ thuật thơ ca Xuân Diệu trước cách mạng tháng Tám 1945” của tác
giả Lê Quang Hưng, và cuốn “Ba đỉnh cao Thơ mới” của Chu Văn Sơn.
Ngồi ra cịn một số bài viết như: “Trường nghĩa của từ yêu trong thơ
Xuân Diệu (So sánh với Nguyễn Bính)” Của Vũ Thi Ân Báo Ngơn ngữ số 9 [tr.
27-37]- 2003; “Hư từ và giá trị biểu đạt của hư từ trong bài thơ “Vội vàng”Xuân Diệu” của Bùi Thanh Hoa-Tạp chí khoa học số 2 [tr. 42-45] 2005;…
Tóm lại, Xuân Diệu là nhà thơ lớn trong phong trào Thơ mới nói riêng
và nền văn học hiện đại nói chung. Xuân Diệu đã là một mảnh đất nghiên cứu
- 11 -


lớn cho nhiều nhà nghiên cứu và sẽ còn nhiều vấn đề được khai thác và tìm
hiểu ở tác giả này qua những tác phẩm của ông.

cụ thể hơn về việc sử dụng biện pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu ở
trường trung học phổ thông.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Sử dụng biện pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu lớp 11 cơ bản
và thiết kế phương án dạy học với biện pháp đó.
4. Đối tƣợng nghiên cứu
Biện pháp dạy học so sánh.
Tác gia và tác phẩm Xuân Diệu.
Tác giả và tác phẩm Nguyễn Bính.
Thơ Trung đại.
Sách ngữ văn 11
Phong trào Thơ mới
5. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất biện pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu trong trường
trung học phổ thông để nâng cao khả năng cảm nhận thơ Xuân Diệu.
6. Phạm vi nghiên cứu
Biện pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu ở trường trung học phổ
thông (lớp 11 cơ bản).
7. Giả thuyết khoa học
Việc sử dụng biện pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu ở lớp 11
cơ bản sẽ nâng cao khả năng cảm nhận thơ Xuân Diệu của học sinh trung học
phổ thông.
8. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu, sách báo liên quan đến đề tài để xác định cơ sở lí
luận của việc sử dụng biện pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu ở
trường trung học phổ thông.
- Điều tra, khảo sát thực trạng dạy học thơ Xuân Diệu trong trường
trung học phổ thông.

- 13 -

với các biện pháp khác.

- 14 -


9.5. Phương pháp phân tích hệ thống
Sử dụng phương pháp phân tích hệ thống đặt tác phẩm được nghiên
cứu và các biện pháp giảng dạy vào hệ thống mang tính đặc thù, từ đó có điều
kiện để tìm hiểu sâu sắc hơn đối tượng.
Hệ thống hóa lại những ý kiến đánh giá của người đi trước, cùng với sự
tìm hiểu, cảm nhận của bản thân, chúng tơi phân tích các vấn đề liên quan tới
biện pháp so sánh vận dụng vào dạy học thơ Xuân Diệu trong trường trung
học phổ thông nhằm làm nổi bật đặc điểm riêng nhà thơ lãng mạn này. Chọn
một tác phẩm giảng dạy trong chương trình trung học phổ thơng (lớp 11) để
tìm ra hướng khơi gợi làm tăng hứng thú cho học sinh khi tiếp nhận văn bản.
Các phương pháp nghiên cứu trên không tồn tại độc lập mà ln có sự đan
xen, hỗ trợ nhau trong quá trình nghiên cứu tạo ra sự cộng hưởng về hiệu quả.
10. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm có 3 chương
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về biện pháp so sánh trong dạy
học văn ở trường trung học phổ thông.
Chƣơng 2: Sử dụng biện pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu ở
trường trung học phổ thông.
Chƣơng 3: Thực nghiệm sư phạm.

- 15 -


CHƢƠNG 1


nhau của các sự vật, hiện tượng, từ đó thấy rõ đặc điểm và giá trị của mỗi sự
vật, hiện tượng.
Cuốn “Lơgic học” của tác giả Phan Trọng Hồ tuy không trực tiếp bàn
về so sánh, nhưng đã bàn đến việc đem so sánh các sự vật, hiện tượng với
nhau mà hình thành các phán đốn, nhận xét. Chẳng hạn, để hình thành khái
niệm niệm “nước”, con người phải trải qua một q trình phân tích, so sánh,
đối chiếu nó với một số chất khác gần gũi với nó như “khơng khí”, “mực”,
“dầu”,” “rượu trắng”… và cuối cùng người ta rút ra một số nhận xét “nước
trong suốt”, “nước không có màu”, “nước khơng có mùi”, “nước khơng có
vị”… [19, tr.46]. Như vậy so sánh là thao tác lôgic dùng để rút ra các phán
đoán, nhận xét để nhận thức đối tượng được cụ thể. Và để so sánh, người ta
phải dựa trên cùng một tiêu chí, nếu khác tiêu chí, so sánh sẽ trở nên khập
khiễng, thiếu sức thuyết phục, từ đó dễ dẫn đến nhận xét, đánh giá sai lệch.
Tác giả Ngơ Dỗn Tá trong “Giáo trình lơgic học” đưa ra ba dạng định
nghĩa bằng so sánh: so sánh tương đồng, so sánh ngược, so sánh khác biệt
[46, tr.69- 70]. Như vậy so sánh là thao tác lôgic đem đối tượng này đặt cạnh
đối tượng khác vạch ra các dấu hiệu “tương tự dấu hiệu cơ bản của đối tượng
trong các đối tượng khác” hay “dấu hiệu không tồn tại ở đối tượng cần định
nghĩa nhưng lại có trong đối tượng dùng để so sánh với nó khi định nghĩa”.
Từ đó chúng ta có thể hiểu muốn nhận thức đối tượng sâu sắc cần so sánh, đặt nó
với đối tượng khác.
Trong cuốn sách giáo khoa Ngữ văn 6 thì “So sánh là đối chiếu sự vật,
sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng, nhằm tăng sức gợi
hình gợi cảm cho sự diễn đạt”.
Trong thực tế đời sống, trong giao tiếp hàng ngày, chúng ta rất hay
dùng biện pháp so sánh, đối chiếu để làm nổi bật đặc điểm riêng, những nét
riêng độc đáo của một đối tượng nào đó. Như thế, so sánh là một thao tác
nhằm đối chiếu hai hay nhiều sự vật hoặc là các mặt trong cùng một sự vật để
thấy sự giống và khác nhau. So sánh cũng được đưa vào giảng dạy trong nhà

Trong phân tích văn học, so sánh đã trở thành một biện pháp khá phổ
biến. So sánh khơng giới hạn mà có thể sử dụng so sánh rộng rãi nhiều mặt.
- 18 -


Theo khảo sát cơng trình nghiên cứu, phê bình văn học có giá trị của một
số nhà văn, nhà nghiên cứu, phê bình nhận thấy biện pháp so sánh được sử dụng
rộng rãi và có hiệu lực thực sự. Đọc Hồi Thanh, nhà phê bình văn học nửa thế
kỷ nay, ta thấy biện pháp so sánh đặc biệt đã được sử dụng một cách tài tình và
linh hoạt. Các nhà văn, nhà thơ Nam Cao, Chế Lan Viên, Xuân Diệu,… trong
những bài phê bình, phân tích văn học của mình luôn sử dụng biện pháp so sánh
để phát hiện những vẻ đẹp độc đáo của bài văn bài thơ.
Có thể nhận thấy một cách rõ ràng là tuy mục đích và nhất là kết quả có
thể rất khác nhau nhưng trong phân tích văn học biện pháp so sánh khá phổ
biến và giới hạn của so sánh thì đa diện.
Rất nhiều cơng trình phê bình, nghiên cứu khoa học có giá trị của một
số nhà văn, nhà nghiên cứu, phê bình quen thuộc khác chúng ta thấy biện
pháp so sánh đặc biệt đã được sử dụng một cách tài tình và linh hoạt. Những
nhà văn, nhà thơ nhà phê bình nghiên cứu Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hoài
Thanh, Hoài Chân... trong những bài phê bình, phân tích văn học của mình
cũng đã ln sử dụng biện pháp so sánh để phát hiện vẻ đẹp độc đáo của bài
văn, bài thơ.
Ngày nay, biện pháp so sánh Văn học đã vượt quá giới hạn và tính chất
của một phương pháp khoa học để trở thành một khuynh hướng, một trào lưu
nghiên cứu văn học ở nhiều nước. Ở đây, chỉ giới hạn vấn đề trong phạm vi
một phương pháp văn học. Trong thực tế so sánh nghiên cứu phê bình lí luận
cũng như giảng dạy văn học trở thành một biện pháp có hiệu lực và khá quen
thuộc của nhiều nhà khoa học có kinh nghiệm. Mặc dù chưa được cơng nhận
trong các cơng trình biện pháp phân tích văn học, thậm chí ngay cả trong ý
thức của bản thân những người sử dụng nó lấy đó làm một cơng cụ có hiệu

Nếu lạm dụng so sánh dẫn tới hiện tượng thoát li tác phẩm; và việc
phân tích văn học đi sang lĩnh vực xã hội học dung tục. Những khuynh hướng
lệch lạc vượt quá giới hạn cho phép đều bắt nguồn từ sự vi phạm những
nguyên tắc khách quan đã xác định.
Một nguyên tắc hàng đầu trong so sánh văn học là không được lấy nội
dung thay thế cho việc khám phá, phân tích tác phẩm. So sánh khơng phải là
- 20 -


mục đích, so sánh chỉ là phương tiện, là con đường đi vào tác phẩm. Chính sự
bất lực trước tác phẩm mà nhiều người lạm dụng việc so sánh tác phẩm với
yếu tố ngoài tác phẩm. Như vậy nhu cầu biểu hiện, khám phá bản thân tác
phẩm lại không được thoả mãn.
Nguyên tắc thứ hai là khi liên hệ so sánh ngồi tác phẩm khơng được
làm dứt mối với đường dây chủ đề của tác phẩm. Liên tưởng vốn là một hiện
tượng rất chủ quan. Một liên tưởng vượt quá giới hạn sẽ biến phân tích thành
một cơng việc bình luận khơng căn cứ. Có trường hợp người phân tích đi rất
sâu, rất rộng, rất xa bằng cách so sánh với nhiều tác phẩm cổ kim, nhiều tác
phẩm gần gũi hoặc đối lập về chủ đề nhưng bạn đọc vẫn cảm thấy có thể chấp
nhận được.
Một nguyên tắc rất quan trọng nữa trong so sánh là khi so sánh phải tơn
trọng tính chỉnh thể của bài văn. Trong phân tích không được tách chọn một
từ ngữ, một chi tiết, một hình ảnh ra khỏi chính thể để so sánh với các yếu tố
ít liên quan với tác phẩm rồi bình luận một cách chủ quan, xa rời chủ đề của
tác phẩm.
1.1.3.4. Giới hạn so sánh trong dạy học văn
Trong phân tích văn học phạm vi của so sánh khá rộng rãi. Theo GS.
Phan Trọng Luận có thể chia so sánh thành ba nhóm chính như sau:
Nhóm so sánh thứ nhất
So sánh đối tượng phân tích với những tác phẩm cùng đề tài, chủ đề,

với cuộc đời thực của người mẹ anh hùng, chị Út Tịch, trong thực tiễn đấu
tranh cách mạng miền Nam. Hay khi phân tích bài thơ “Đây thơn Vĩ Dạ” của
Hàn Mạc Tử không thể không liên tưởng đến Hoàng Cúc- là tứ thơ cho Hàn
Mạc Tử sáng tác bài thơ này,…
Có khi so sánh nội dung tác phẩm với những sự kiện hay nhân vật điển
hình của thời đại. Việc so sánh như vậy không những giúp học sinh hiểu được
bản thân tác phẩm mà còn khơi sâu được giá trị khái quát của hình tượng nhân
vật hay ý nghĩa tiêu biểu của tư tưởng trong tác phẩm. Dạy những tác phẩm
cách mạng nếu không đem so sánh với con người cộng sản trong cuộc đấu

- 22 -


tranh sinh tử để bảo vệ quê hương đất, chắc hẳn là một thiếu sót khơng nhỏ về
phương pháp và quan điểm thực tiễn.
Cũng có thể phân tích bằng cách so sánh với những tác phẩm cùng chủ
đề, cùng đề tài của bản thân tác giả hoặc của những tác giả khác. Phân tích
một số bài thơ Xuân Diệu đã có thể so sánh với thơ văn Việt Nam với một số
nhà thơ trung đại, nhà thơ cùng thời. Chẳng hạn khi phân tích bài thơ “Vội
vàng” của Xuân Diệu chúng ta có thể so sánh với một số tác phẩm có cùng đề
tài tình u như “Chân q” của Nguyễn Bính hay “Đây thơn Vĩ Dạ” của
Hàn Mạc Tử,… để thấy được cùng là đề tài tình yêu nhưng mỗi tác giả lại có
một quan điểm, một cách thể hiện riêng. So sánh những bài thơ sáng tác trong
những thời điểm khác nhau của một tác giả cũng cần làm rõ sự chuyển biến
hay sự phát triển trong quan niệm sáng tác cũng như thế giới quan của nhà
văn thể hiện trong tác phẩm. Giảng “Tiếng hát sông Hương” của Tố Hữu,
nhiều giáo viên đã làm công việc so sánh với “Đời mưa gió” của Khải Hưng
để hiểu rõ hơn quan điểm sáng tác và nhân sinh quan của nhà thơ cộng sản
qua bài thơ này.
Nhóm so sánh thứ ba

Tác phẩm văn chương
Nhóm 2
Thời đại

(Sự kiện thật)

Cuộc sống

(Người thật)
(Ngun Mẫu)
(Điển hình)

Tác giả

(Tự truyện)
(Hồn Cảnh sáng tác)

Nhóm 3
Trong tác phẩm:
Quan hệ từ
Quan hệ câu
Quan hệ hình tượng
Quan hệ kết cấu
- 24 -


Quan hệ sự kiện chi tiết
Quan hệ các tuyến nhân vật
Quan hệ của nhân vật chung quanh
Quan hệ nội tâm với ngoại hình nhân vật

ở các địa phương trong toàn quốc, số học sinh không hứng thú với việc học
tập môn Ngữ văn chiếm tới 47,6%, số học sinh hứng thú với mơn học chỉ
chiếm 13,8%, số cịn lại 40,6% cảm thấy bình thường. [19.tr.66].
Ngun nhân ở đâu? Có nhiều ngun nhân dẫn đến tình trạng khơng
hứng thú khi học mơn văn của học sinh hiện nay trong đó phải kể tới phương
pháp dạy của giáo viên còn nhiều hạn chế, bài giảng chưa sâu, chỉ phân tích,
bình dập khn máy móc, chung chung ít so sánh khi giảng dạy khiến các em
cịn thờ ơ trong giờ giảng văn…
Khảo sát tình hình thực tế học sinh lớp 11 ở 3 trường trên địa bàn tỉnh
Bắc Giang: thành thị: trường THPT Lạng Giang số 1; nông thôn: trường
THPT Lạng Giang số 2, trường THPT Lạng Giang số 3: Khi phỏng vấn các
em, hầu hết các em đều trả lời khơng thích học mơn văn. Nguyên nhân: Sự
phát triển của xã hội (công nghiệp hoá, hiện đại hoá), do sự lự chọn ngành
nghề...và một nguyên nhân quan trọng là do các phương pháp giảng dạy của
giáo viên kém hứng thú hầu hết chỉ đi vào bề nổi ít đi vào chiều sâu.
Kết quả khảo sát thu được từ phiếu điều tra. (Bảng kết quả điều tra 1.2.2.8)
1.2.2. Điều tra thực trạng
1.2.2.1. Mục đích điều tra
Đánh giá chung những việc đã làm được và cả những tồn tại trong quá
trình DH.
Tìm nguyên nhân và đưa ra giải pháp hiệu quả (Định hướng phân tích
tác phẩm “Vội vàng” theo biện pháp so sánh)
1.2.2.2. Đối tượng điều tra
GV, HS lớp 11 tại một số trường trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
Tài liệu học tập, thiết bị phục vụ dạy học “Vội vàng”.
1.2.2.3. Phạm vi điều tra
- Việc dạy học của GV và HS lớp 11 THPT.
- 26 -



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status