ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
..……..
NGUYỄN XUÂN VINH
BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI LAO ĐỘNG
TRONG VÀ SAU QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HOÁ
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC:
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS NGUYỄN NIÊN
Hà Nội, 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
..……..
NGUYỄN XUÂN VINH
BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI LAO ĐỘNG
TRONG VÀ SAU QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HOÁ
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC:
1.1.
Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
6
1.1.1.
Khái niệm cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
6
1.1.2.
Phương thức tiến hành cổ phần hố doanh nghiệp nhà nước
10
1.2.
Vai trị cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước đối với vấn đề
quyền lợi người lao động
17
1.3.
Kinh nghiệm của một số nước về cổ phần hoá, bảo vệ
quyền lợi của người lao động và bài học kinh nghiệm cho
Việt Nam
TRONG VÀ SAU QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HOÁ DOANH
NGHIỆP NHÀ NƢỚC – PHÁP LUẬT, THỰC TRẠNG VÀ
NGUYÊN NHÂN
2.1.
Lịch sử phát triển pháp luật về quyền lợi của người lao
động khi cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
1
28
2.1.1.
Giai đoạn thí điểm (từ 1990 đến tháng 5/1996)
28
2.1.2.
Giai đoạn mở rộng thí điểm - từ tháng 5/1996 đến tháng
6/1998
30
2.1.3
2.2.1.3. Quyền lợi của người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao
động
48
2.2.1.4
Quyền lợi của người lao động bị dơi dư khi cổ phần hố
doanh nghiệp nhà nước
49
2.2.2.
Quyền lợi người lao động và nội dung bảo vệ quyền lợi
người lao động sau cổ phần hố theo ph¸p lt hiƯn hµnh
56
2.3.
Thực trạng bảo vệ quyền lợi của người lao động trong và
sau q trình cổ phần hố doanh nghiệp nhà nước
59
2.3.1.
Ưu điểm
Nguyên nhân
75
2.4.1.
Nguyên nhân của ưu điểm
75
2.4.2.
Nguyên nhân của khuyết điểm
77
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG BẢO VỆ
80
QUYỀN LỢI CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG VÀ SAU Q
TRÌNH CỔ PHẦN HỐ DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC
3.1.
Tăng cường công tác phổ biến, tuyên truyền chủ trương,
chính sách pháp luật về cổ phần hố doanh nghip nh nc
và pháp luật về bảo vệ quyền lợi ng-êi lao ®éng
80
91
3.6.
Nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp sau cổ phần hóa
gắn với bảo vệ quyền lợi người lao động
96
KẾT LUẬN
99
Danh mục tài liệu tham khảo
101
3
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
BHXH: Bảo hiểm xã hội
CPH: Cổ phần hố
CPH DNNN: Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
CTCP: Cơng ty cổ phần
DNNN: Doanh nghiệp nhà nước
HĐLĐ: Hợp đồng lao động
NLĐ: Người lao động
– cái nôi của cơ chế “xin – cho”. CPH là biện pháp có hiệu quả để biến những
5
NLĐ làm thuê tại các DNNN thành những người đồng sở hữu thực sự; phát
huy vai trò tự chủ, năng động sáng tạo của NLĐ và doanh nghiệp trong sản
xuất và kinh doạnh. Mặc dù CPH, bên cạnh những mặt tích cực nêu trên thì
nó cũng bộc lộ những mặt hạn chế như: biến một bộ phận NLĐ trở thành
trắng tay [2] sau khi đã “bán lúa non” [3] cổ phiếu của mình để kiếm chút tiền
chênh lệch và trở thành người làm thuê; vai trò của nhà nước, pháp luật và tổ
chức cơng đồn trong việc bảo vệ quyền lợi NLĐ cũng chưa được phát huy có
hiệu quả.
1.3. Xuất phát từ yêu cầu mới trong giai đoạn hiện nay. CPH DNNN là
một chủ trương đúng đắn, tuy nhiên trong quá trình tổ chức thực hiện, đang
đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu để bảo vệ quyền lợi NLĐ, nhất là
quyền có việc làm, quyền nhân thân như danh dự, nhân phẩm. CPH có nơi, có
lúc bị biến thành tư nhân hoá [4], [5], là cơ hội cho nhà quản lý doanh nghiệp
“chuyển tài sản công vào tay họ một cách hợp pháp và rồi đột nhiên trở thành
những người sở hữu chính của doanh nghiệp” [6]. NLĐ bị đẩy ra khỏi doanh
nghiệp, bị mất việc làm, một số chế độ chính sách chính đáng của LNLĐ
khơng được giải quyết đầy đủ.
Chính vì vậy, việc bảo vệ quyền lợi của NLĐ là một vấn đề bức thiết
được đặt ra cả trong lý luận cũng như thực tiễn, để chính sách, pháp luật của
Đảng và nhà nước ta đến được với người dân lao động, hạn chế tham nhũng
và nguy cơ bất bình đẳng trong xã hội.
2. Mục đích và nhiệm vụ
2.1. Mục đích
Mục đích chủ yếu của luận văn là nghiên cứu hệ thống quan điểm,
chính sách, quy định pháp luật và chế độ, quyền lợi NLĐ khi CPH DNNN và
7
- “Lao động dơi dư sau cổ phần hố doanh nghiệp: Chờ một hướng đi
thích hợp” báo điện tử của Bộ Tài chính () ngày
4/12/2006;
- “Cổ phần hóa: Đừng để người lao động trắng tay”, Báo người lao
động, ngày 28/3/2007.
- “Cổ phần hoá DNNN: Người lao động phải thật sự được hưởng lợi”,
báo điện tử của Tổng công ty thép Việt Nam (), ngày
26/6/2007;
- “ Về chế độ, quyền lợi người lao động khi cổ phần hóa doanh nghiệp
nhà nước” của tác giả TS. Nguyễn Hữu Chí trên tạp chí nghiên cứu Lập pháp
số tháng 10/2007; vvv…
Và một số các bài viết khác trên các tạp chí, báo… trong các năm 2003,
2004, 2005, 2006, 2007, 2008…
Nói chung, các cơng trình, bài viết nói trên chủ yếu tập trung vào
những khía cạnh, vấn đề cụ thể của việc cổ phần hóa và tại những thời điểm
nhất định với chế độ, chính sách, quy định pháp luật cho giai đoạn đó mà
chưa có sự đánh giá, tổng kết tồn diện. Đặc biệt đề tài nghiên cứu khoa học
cấp trường của Trường Đại học Luật Hà Nội, mặc dù đã có sự đi sâu nghiên
về vấn đề quyền lợi NLĐ trong quá trình CPH của tập thể 13 tác giả, nhưng
đây mới là tập hợp các chuyên đề riêng rẽ, mà chưa có sự đánh giá tổng quát
và đưa ra các giải pháp toàn diện.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: từ khi có chủ trương CPH (năm 1990) đến nay. Trong
đó đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề pháp luật hiện hành và thực tiễn
thực hiện pháp luật về quyền lợi NLĐ trong và sau quá trình CPH DNNN.
8
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CỔ PHẦN HOÁ
DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC VÀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI
NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG VÀ SAU Q TRÌNH
CỔ PHẦN HỐ DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC
1.1. Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nƣớc
1.1.1. Khái niệm cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
CPH là cách nói ngắn gọn của chủ trương chuyển DNNN thành cơng ty
cổ phần (CTCP), được đưa ra từ năm 1987 tại Điều 22 của Quyết định số
214/HĐBT ngày 14/11/1987 của Hội đồng Bộ trưởng về đổi mới thành phần
kinh tế quốc doanh, nhưng phải hơn hai năm sau đó, khái niệm về CPH mới
chính thức được đề cập (tuy chưa cụ thể) tại Điều 2 Quyết định số 143/HĐBT
ngày 10/5/1990 của Hội đồng Bộ trưởng: “Chuyển DN quốc doanh thành
CTCP với mục đích đảm bảo sở hữu về tài sản và sở hữu của nhà nước, người
lao động có điều kiện thực sự làm chủ DN, huy động vốn" [7]. Đến năm
1996, tại Nghị định số 28/CP ngày 7/5/1996 của Chính phủ, khái niệm CPH
được đề cập đầy đủ và chặt chẽ hơn: DNNN chuyển thành CTCP (hay còn gọi
là CPH DNNN) là một biện pháp chuyển DN từ sở hữu Nhà nước sang hình
thức sở hữu nhiều thành phần trong đó tồn tại một phần sở hữu Nhà nước…
Theo Nghị định 109/2007/NĐ-CP ngày 6/6/2007, CPH DNNN chính là
việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần, hoạt
động theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 [8].
Với khái niệm này, đối tượng của CPH DNNN chỉ là DNNN có 100%
vốn Nhà nước. Các loại hình doanh nghiệp mà Nhà nước có cổ phần, vốn góp
chi phối khơng phải là đối tượng của CPH. Các DNNN sau khi CPH sẽ được
10
chuyển đổi thành CTCP – là một tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân mà
nhà đầu tư trong nước và nước ngoài để nâng cao năng lực tài chính, đổi mới
cơng nghệ, đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh
tranh của nền kinh tế.
+ Đảm bảo hài hồ lợi ích của nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và
NLĐ trong doanh nghiệp.
+ Thực hiện công khai, minh bạch theo nguyên tắc thị trường; khắc phục
tình trạng CPH khép kín trong nội bộ doanh nghiệp; gắn với phát triển thị
trường vốn, thị trường chứng khốn.
Từ các mục tiêu trên, CPH DNN có những đặc trưng cơ bản sau:
Một là, CPH DNNN là quá trình chuyển đổi hình thức hoạt động từ
DNNN sang CTCP. DNNN sau khi đã hồn thành CPH sẽ có địa vị pháp lý
của CTCP. Khi đó tất cả các vấn đề liên quan đến hoạt động của doanh
nghiệp như: cơ chế pháp lý về thành lập, giải thể, phá sản, quyền và nghĩa vụ
của công ty, cơ chế quản lý … đều chịu sự điều chỉnh của pháp luật về công
ty cổ phần (Luật Doanh nghiệp).
Hai là, CPH DNNN là quá trình chuyển doanh nghiệp từ sở hữu nhà
nước sang sở hữu nhiều thành phần. Nếu như trước khi CPH, toàn bộ vốn của
doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước thì sau khi tiến hành CPH, vốn của
doanh nghiệp khơng chỉ là của riêng Nhà nước mà cịn là của các chủ sở hữu
khác như: NLĐ trong doanh nghiệp, cổ đơng ngồi doanh nghiệp. Điều đặc
biệt là NLĐ đã trở thành người chủ thực sự cho phần vốn góp của mình trong
CTCP.
Ba là, CPH DNNN là biện pháp duy trì một phần sở hữu nhà nước đối
với tư liệu sản suất dưới hình thức CTCP. Thực tế cho thấy khi thực hiện
12
CPH DNNN, Nhà nước không chuyển tất cả các DNNN thành CTCP mà chỉ
chuyển một bộ phận doanh nghiệp không giữ vị trí then chốt, trọng yếu trong
giải pháp triệt để nhằm sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả của DNNN,
giải quyết được căn nguyên của DNNN - đó là vấn đề sở hữu. CPH được coi
là “giải pháp cải cách DNNN tối ưu trong điều kiện nước ta hiện nay” [10].
Bên cạnh đó CPH DNNN là một tất yếu khách quan trong bối cảnh hội nhập
kinh tế quốc tế. Khi Việt Nam là thành viên của các tổ chức quốc tế như
WTO, nhà nước ta phải thực hiện các cam kết quốc tế, phải bãi bỏ các loại
hình bao cấp và trợ cấp, hỗ trợ cho các hoạt động của doanh nghiệp trong
nước trái với quy định của WTO, các doanh nghiệp trong nước phải cạnh
tranh bình đẳng với các đối tác quốc tế trên cả thị trường trong nước và thế
giới [11]. Bên cạnh đó, CPH cũng là giải pháp cải cách DNNN tác động đến
rất nhiều vấn đề xã hội hết sức nhạy cảm như công bằng xã hội, quyền lợi
cũng như việc làm, trợ cấp thất nghiệp của NLĐ…
1.1.2. Phương thức tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Theo quy định tại Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 6/6/2007 của
Chính phủ và Thơng tư số 146/2007/TT-BTC ngày 06/12/2007 của Bộ Tài
chính [12], CPH DNNN sẽ được tiến hành theo các bước để chuyển doanh
nghiệp 100% vốn nhà nước thành CTCP, cụ thể như sau:
Bước 1. Xây dựng phương án CPH.
* Thành lập Ban chỉ đạo CPH và tổ giúp việc.
- Cơ quan quyết định CPH ra quyết định thành lập Ban chỉ đạo CPH
đồng thời với Quyết định CPH doanh nghiệp.
- Trưởng Ban chỉ đạo lựa chọn và ra quyết định thành lập Tổ giúp việc
CPH trong thời gian 5 ngày làm việc, kể từ ngày có quyết định thành lập Ban
chỉ đạo CPH.
* Chuẩn bị hồ sơ tài liệu:
14
Trong thời gian tối đa 10 ngày làm việc kể từ ngày có quyết định thành
phối hợp với các cơ quan có liên quan xử lý những vấn đề về tài chính đến
thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp.
- Xác định giá trị doanh nghiệp:
Ban chỉ đạo CPH lựa chọn (hoặc đấu thấu lựa chọn) tổ chức định giá để
giao cho doanh nghiệp ký kết hợp đồng định giá hoặc giao cho Tổ giúp việc,
doanh nghiệp tự xác định giá trị doanh nghiệp.
Trường hợp Tổ chức tư vấn có chức năng định giá thì có thể thuê trọn
gói: lập phương án CPH, xác định giá trị doanh nghiệp, tổ chức bán cổ phần.
- Ban chỉ đạo thẩm tra kết quả kiểm kê, phân loại tài sản và kết quả xác
định giá trị doanh nghiệp, báo cáo cơ quan quyết định giá trị doanh nghiệp và
Bộ Tài chính.
Thời gian để hồn tất các cơng việc nêu trên không quá 90 ngày làm
việc kể từ ngày chuẩn bị xong hồ sơ tài liệu đối với các tập đoàn kinh tế, tổng
công ty, công ty mẹ; không quá 60 ngày đối với các trường hợp còn lại.
- Quyết định và công bố giá trị doanh nghiệp:
Trong thời gian không quá 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo
cáo của Ban chỉ đạo CPH, cơ quan quyết định giá trị doanh nghiệp phải ra
quyết định công bố giá trị doanh nghiệp CPH.
* Căn cứ thời điểm quyết định công bố giá trị doanh nghiệp, doanh
nghiệp lập:
- Danh sách NLĐ có tên trong danh sách thường xuyên của doanh
nghiệp tại thời điểm quyết định công bố giá trị doanh nghiệp để xác định số
cổ phần dự kiến NLĐ được mua ưu đãi.
16
- Lập danh sách lao động thường xuyên làm việc tại công ty tại thời
điểm quyết định công bố giá trị doanh nghiệp, phân loại lao động theo các đối
tượng: hợp đồng khơng xác định thời hạn, hợp đồng có thời hạn từ 1-3 năm,
sản lượng, thị trường, lợi nhuận … và các giải pháp về vốn, nguyên liệu, tổ
chức sản xuất, lao động tiền lương, …
- Phương án CPH :
+ Hình thức CPH và vốn điều lệ theo yêu cầu hoạt động sản xuất kinh
doanh của công ty cổ phần.
+ Dự kiến cơ cấu vốn điều lệ: số cổ phần nhà nước nắm giữ, số cổ phần
bán ưu đãi cho NLĐ (kèm theo danh sách đăng ký mua cổ phần của NLĐ), số
cổ phần bán cho tổ chức cơng đồn tại doanh nghiệp, số cổ phần bán cho các
nhà đầu tư chiến lược (kèm theo danh sách) và số cổ phần dự kiến bán đấu giá
cho các nhà đầu tư thông thường.
+ Phương thức phát hành cổ phiếu theo quy định (đấu giá trực tiếp tại
công ty, hoặc đấu giá tại các tổ chức tài chính trung gian, hoặc đấu giá tại
trung tâm giao dịch chứng khoán).
- Dự thảo Điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần theo các
quy định của Luật doanh nghiệp và các văn bản pháp luật hiện hành.
Hoàn thiện Phương án CPH.
+ Căn cứ quyết định công bố giá trị doanh nghiệp CPH, Tổ giúp việc
cùng với doanh nghiệp phối hợp với tổ chức tư vấn (nếu có) hồn thiện
Phương án CPH và gửi tới từng bộ phận trong công ty để nghiên cứu trước
khi tổ chức hội nghị công nhân viên chức (bất thường).
+ Tổ chức Hội nghị công nhân viên chức (bất thường) để lấy ý kiến
hoàn thiện phương án CPH.
18
+ Sau Hội nghị công nhân viên chức, Tổ giúp việc, doanh nghiệp phối
hợp với tổ chức tư vấn (nếu có) hồn thiện Phương án CPH để trình cơ quan
có thẩm quyền phê duyệt.
+ Ban chỉ đạo thẩm định phương án CPH báo cáo cơ quan quyết định
thường, Ban chỉ đạo CPH:
+ Chỉ đạo doanh nghiệp bán cổ phần ưu đãi cho NLĐ và tổ chức cơng
đồn tại doanh nghiệp (nếu có).
+ Tiến hành bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược hoặc thương thảo
với các nhà đầu tư chiến lược đã được lựa chọn.
* Tổng hợp kết quả bán cổ phần báo cáo cơ quan quyết định CPH.
* Báo cáo cơ quan quyết định cổ phần hoá ra quyết định điều chỉnh quy
mô, cơ cấu cổ phần của doanh nghiệp CPH đối với trường hợp không bán cổ
phần cho các đối tượng theo đúng phương án CPH được duyệt.
(Thời gian thực hiện Bước 2 không quá 3 tháng kể từ khí có quyết định
phê duyệt phương án CPH)
Bước 3. Hoàn tất việc chuyển doanh nghiệp thành CTCP.
* Đại Hội đồng cổ đông lần thứ nhất.
Ban Chỉ đạo CPH chỉ đạo Tổ giúp việc và doanh nghiệp tổ chức Đại
Hội đồng cổ đông lần thứ nhất để thông qua Điều lệ tổ chức và hoạt động,
phương án sản xuất kinh doanh, bầu Hội đồng quản trị, ban Kiểm soát và bộ
máy điều hành CTCP.
* Căn cứ vào kết quả Đại Hội đồng cổ đông lần thứ nhất, Hội đồng
quản trị CTCP thực hiện đăng ký kinh doanh, nộp con dấu của doanh nghiệp
cũ và xin khắc dấu của CTCP.
20
(Thời gian để hoàn tất 2 nội dung nêu trên khơng q 30 ngày )
* Lập báo cáo tài chính tại thời điểm CTCP được cấp giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh lần đầu, thực hiện quyết toán thuế, quyết tốn chi phí cổ
phần hố, báo cáo cơ quan quyết định CPH.
Nộp tiền thu từ CPH về Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty, công ty mẹ,
công ty nhà nước hoặc Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp tại Tổng công ty
trong khu vực nhà nước được mua tối đa 100 cổ phần. Sức sản xuất của doanh
nghiệp có cơ hội lớn mạnh, thu nhập của doanh nghiệp và của NLĐ có xu
hướng phát triển. NLĐ có cơ hội được đào tạo lại, nâng cao tay nghề, trình độ
để có thể đáp ứng với yêu cầu của nền sản xuất trong cơ chế thị trường năng
động hơn.
Bên cạnh đó, CPH cũng có sự tác động khơng nhỏ đối với NLĐ. Trước
hết, thường thì sẽ có một lực lượng lao động phải nghỉ hưu trước tuổi. Theo
các quy định hiện hành, NLĐ làm việc trong các doanh nghiệp 100% vốn nhà
nước nếu CPH sẽ được phân loại để áp dụng chính sách phù hợp. Ngoài
những người đủ tuổi về hưu theo quy định chung thì những người người khác
đủ điều kiện theo quy định của Chính phủ sẽ được giải quyết về hưu trước
tuổi.
Như vậy, nếu so với các trường hợp bình thường thì những NLĐ về
hưu do áp dụng chính sách CPH DNNN đã được hưởng sự ưu tiên của Nhà
nước hơn các trường hợp về hưu trong trường hợp bình thường. Việc giảm
tuổi đời (đến gần 5 tuổi) là một lợi thế cả về phương diện xã hội và phương
diện kinh tế.
Tóm lại, CPH sẽ mang theo một loạt những thay đổi căn bản không chỉ
đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh mà có thể kéo theo những thay đổi lớn
đối với lực lượng lao động.
22
1.3. Kinh nghiệm của một số nước về cổ phần hoá, bảo vệ quyền lợi
của người lao động và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
CPH DNNN là một xu thế tất yếu khách quan của các nền kinh tế trên
thế giới. Mỗi quốc gia khi tiến hành CPH đều nhằm đạt các mục đích khác
nhau, trong đó một trong những mục đích quan trọng là giải quyết vấn đề
quyền lợi, chế độ của NLĐ khi CPH DN - điều này càng trở nên cần thiết đối