(Luận văn thạc sĩ) các giải pháp nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý - Pdf 70

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN BÍCH NGỌC

CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2012

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN BÍCH NGỌC

CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số

: 60 38 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Huy Liệu

HÀ NỘI - 2012


7

1.1.2.

Đặc điểm hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam

10

1.1.2.1. Chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý

11

1.1.2.2. Người được trợ giúp pháp lý

15

1.1.2.3. Các hình thức trợ giúp pháp lý

17

1.1.2.4. Các lĩnh vực pháp luật được trợ giúp pháp lý

20

1.1.2.5. Tính chất miễn phí của hoạt động trợ giúp pháp lý

21

1.2.

28

1.2.1.6. Tiêu chí về chi phí cho cơng tác trợ giúp pháp lý

28

4


1.2.2.

Các yếu tố bảo đảm hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

29

1.2.2.1. Về thể chế

29

1.2.2.2. Tổ chức, bộ máy để thực hiện hoạt động trợ giúp pháp lý và
đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý

29

1.2.2.3. Cơ sở vật chất, kinh phí cho hoạt động trợ giúp pháp lý

31

1.2.2.4. Nhận thức của các cơ quan, ban ngành về trợ giúp pháp lý



35

2.1.1.2. Về Trung tâm và Chi nhánh của Trung tâm

36

2.1.1.3. Tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý

38

2.1.1.4. Về mạng lưới trợ giúp pháp lý ở cơ sở

39

2.1.2.

Thực trạng về đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý

41

2.1.2.1. Về đội ngũ cán bộ làm công tác trợ giúp pháp lý của Trung tâm

41

2.1.2.2. Về đội ngũ cộng tác viên trợ giúp pháp lý

42

2.1.2.3. Về công tác tăng cường năng lực cho đội ngũ người thực

53

2.2.3.

Sinh hoạt Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý

54

2.2.4.

Hoạt động truyền thông về trợ giúp pháp lý

55

2.2.5.

Công tác phối hợp trong hoạt động trợ giúp pháp lý

56

2.3.

Đánh giá chung về hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

60

2.3.1.

Hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đã đạt được


3.2.1.

Hoàn thiện pháp luật về trợ giúp pháp lý để tạo cơ sở pháp
lý vững chắc cho việc củng cố, kiện toàn tổ chức và nâng
cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

74

3.2.2.

Tiếp tục củng cố, kiện toàn, phát triển mạng lưới các tổ
chức thực hiện trợ giúp pháp lý theo Quyết định số
792/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ

77

3.2.3.

Xây dựng đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý; nâng
cao năng lực thực hiện và chế độ đãi ngộ cho người thực
hiện trợ giúp pháp lý

79

3.2.3.1. Xây dựng đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý

79

3.2.3.2. Nâng cao năng lực thực hiện trợ giúp pháp lý



87

3.2.7.

Bảo đảm cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc và kinh phí
hoạt động cho các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý

88

3.2.8.

Tăng cường việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt
động trợ giúp pháp lý

89

3.2.9.

Từng bước thực hiện xã hội hoá hoạt động trợ giúp pháp lý,
thu hút các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hộinghề nghiệp, tổ chức xã hội- nghề nghiệp tham gia trợ giúp
pháp lý

90

3.2.10.

Tăng cường hợp tác quốc tế để học hỏi kinh nghiệm tổ chức
hoạt động trợ giúp pháp lý và tranh thủ sự hỗ trợ về kỹ
thuật, tài chính của các nước và các tổ chức quốc tế


MỞ ĐẦU

1. Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài
Từ sau Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI, cùng với
việc đổi mới kinh tế, Đảng và Nhà nước ta chủ trương đổi mới hệ thống chính
trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân
dân và vì nhân dân nhằm "thực hiện tốt dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy
đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân", "vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã
hội cơng bằng, dân chủ, văn minh" [20, tr. 129].
Để góp phần thực hiện các mục tiêu trên, Đảng và Nhà nước đã quan
tâm chỉ đạo "cần phải mở rộng loại hình tư vấn pháp luật phổ thông, đáp ứng
nhu cầu rộng rãi, đa dạng của các tầng lớp nhân dân... cần nghiên cứu lập hệ
thống dịch vụ tư vấn pháp luật không lấy tiền để hướng dẫn nhân dân sống và
làm việc theo pháp luật" [39, tr. 1]; "tổ chức hình thức tư vấn pháp luật cho
các cơ quan, tổ chức và nhân dân, tạo điều kiện cho người nghèo được hưởng
dịch vụ tư vấn pháp luật miễn phí" [12, tr. 1].
Thực hiện Nghị quyết của Đảng, xây dựng nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa, hoạt động trợ giúp pháp lý đã được hình thành và phát triển.
Cơng tác trợ giúp pháp lý sau gần 15 năm hình thành và phát triển công tác
trợ giúp pháp lý đã đạt được những kết quả quan trọng: mạng lưới tổ chức trợ
giúp pháp lý ngày càng được củng cố, kiện toàn đến tận cơ sở, đội ngũ cán bộ
trực tiếp làm trợ giúp pháp lý của các Trung tâm đã từng bước được tăng
cường về số lượng và năng lực chuyên môn. Trợ giúp pháp lý đã khẳng định
được vị trí, vai trị của mình trong việc giúp đỡ pháp lý cho đơng đảo người
nghèo, người có cơng với cách mạng, đồng bào dân tộc thiểu số và một số đối
tượng khác, làm tăng lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Đồng
thời, đã góp phần hỗ trợ hoạt động tranh tụng để vụ việc được xét xử chính
xác, khách quan, công bằng và đúng pháp luật; trong nhiều trường hợp đã


đến nay, đã có một số đề tài nghiên cứu tiến sĩ, thạc sĩ, đề tài cấp Bộ và các

9


bài báo, tạp chí, chuyên đề nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực
tiễn liên quan đến lĩnh vực này.
Về đề tài nghiên cứu cấp Bộ:
Đề tài "Mơ hình tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý, phương hướng
thực hiện trong điều kiện hiện nay" (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ), do
Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện, Chủ nhiệm Đề tài: TS. Tạ
Thị Minh Lý. Đề tài đã tập trung nghiên cứu về cơ sở lý luận, mục đích, ý
nghĩa của hoạt động trợ giúp pháp lý; thực trạng tổ chức và hoạt động trợ giúp
pháp lý, từ đó đề xuất các phương hướng hồn thiện tổ chức và hoạt động này
trong thời gian tới.
"Luận cứ khoa học và thực tiễn xây dựng Pháp lệnh trợ giúp pháp lý"
(Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ), do Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp
chủ trì thực hiện, Chủ nhiệm Đề tài: TS. Tạ Thị Minh Lý. Đề tài nghiên cứu
cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng Pháp lệnh trợ giúp pháp lý thơng qua
việc phân tích, đánh giá, so sánh các vấn đề có liên quan đến việc thực hiện
pháp luật về trợ giúp pháp lý trong thời gian qua. Tuy nhiên, Quốc hội đã cho
ý kiến nâng Dự án Pháp lệnh trợ giúp pháp lý lên thành Luật trợ giúp pháp lý
và đưa vào Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2006.
Các luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ:
Luận án tiến sĩ "Điều chỉnh pháp luật về trợ giúp pháp lý ở Việt Nam
trong điều kiện đổi mới" của Tạ Thị Minh Lý. Luận án tập trung nghiên cứu
cơ sở lý luận, pháp lý của điều chỉnh pháp luật và điều chỉnh pháp luật về trợ
giúp pháp lý; thực trạng điều chỉnh pháp luật về trợ giúp pháp lý và phương
hướng hoàn thiện việc điều chỉnh pháp luật về trợ giúp pháp lý trong điều
kiện đổi mới.

3. Mục đích nghiên cứu
Luận văn tập trung làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, pháp lý và thực
tiễn về tổ chức, hoạt động trợ giúp pháp lý, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp
lý ở Việt Nam hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất các định hướng, giải pháp nâng
cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam trong thời gian tới.

11


4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu các nội dung chính sau đây:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, pháp lý về tổ chức, hoạt động,
hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam.
- Phân tích, đánh giá thực trạng và hiệu quả tổ chức và hoạt động trợ
giúp pháp lý ở Việt Nam trong thời gian qua, phát hiện những hạn chế, khó
khăn, vướng mắc, bất cập và nguyên nhân để có giải pháp hồn thiện.
- Nghiên cứu các quan điểm đổi mới, hoàn thiện hoạt động trợ giúp
pháp lý ở Việt Nam. Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
trợ giúp pháp lý trong thời gian tới.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về những vấn đề lý luận, pháp lý và
thực tiễn về hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam, thực trạng về tổ chức và
hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam từ khi thực hiện Luật trợ giúp
pháp lý năm 2006 đến nay. Trên cơ sở đó có các định hướng, giải pháp đổi mới,
nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam trong thời gian tới.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, những quan điểm của
Đảng về trợ giúp pháp lý. Các văn kiện của Đảng, Hiến pháp năm 1992, Hiến
pháp sửa đổi, bổ sung năm 2001, các văn bản pháp luật về trợ giúp pháp lý,

13


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ
VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ Ở VIỆT NAM

1.1. Khái niệm và đặc điểm về hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam
1.1.1. Khái niệm về trợ giúp pháp lý ở Việt Nam
Thuật ngữ "trợ giúp pháp lý" được sử dụng phổ biến từ giữa thế kỷ 20
xuất phát từ tiếng Anh là "Legal aid". Theo Từ điển Anh - Việt của tác giả Lê
Khả Kế, Nxb Khoa học xã hội, 1997 thì "Legal aid" có nghĩa là "Trợ cấp pháp
lý". Trong Từ điển pháp luật Anh - Việt, Nxb. Thế giới do Nguyễn Thành
Minh chủ biên, 1998 thì "Legal aid" trong cụm từ "Legal aid schem" được
dịch là "kế hoạch bảo trợ tư pháp".
Để có cơ sở lý luận xác định rõ nội hàm của khái niệm "trợ giúp pháp
lý", cần phải hiểu khái niệm "Trợ giúp". Theo Đại Từ điển tiếng Việt Nguyễn Như Ý, Nxb Văn hóa - Thơng tin, 1999 thì "Trợ giúp" là "sự giúp đỡ,
bảo trợ, hỗ trợ, giúp cho ai việc gì, đem cho ai cái gì đang lúc khó khăn, đang
cần đến". Theo Từ điển Từ và ngữ Việt Nam - Nguyễn Lân, Nxb Thành phố
Hồ Chí Minh thì trợ giúp là góp sức hoặc góp tiền cho một người hoặc vào
một việc chung, giúp làm hộ mà không lấy tiền công. Với Từ điển tiếng Việt
của Nxb Khoa học xã hội, 1994 thì thuật ngữ "trợ giúp" được hiểu là "giúp
đỡ". Thuật ngữ "giúp đỡ" lại được giải thích theo nghĩa tích cực là giúp để
làm giảm bớt khó khăn, nghĩa là làm cho ai một việc gì đó hoặc cho ai cái gì
đó mà người ấy đang cần. Cái đang cần ở đây là "pháp lý" theo nghĩa rộng
của từ này. Thuật ngữ "pháp lý" được hiểu là lý lẽ, lẽ phải theo pháp luật.
Ngoài ra, trong một số tài liệu khác dịch "Legal aid" là "hỗ trợ pháp
luật", "hỗ trợ pháp lý" hoặc "hỗ trợ tư pháp". Như vậy, có rất nhiều cách gọi
khác nhau về thuật ngữ này.


khơng có khả năng tài chính hoặc khó khăn về tài chính để chi trả cho các chi
phí khi tiếp cận với các dịch vụ pháp lý. Tính pháp lý thể hiện thơng qua sự

15


giúp đỡ, hỗ trợ về các vấn đề có liên quan đến pháp luật như tư vấn pháp luật,
bảo vệ quyền và lợi ích được pháp luật quy định.
Ở Việt Nam, thuật ngữ "trợ giúp pháp lý" được sử dụng trong sách
báo từ năm 1995, khi bắt đầu có đầu tư nghiên cứu xây dựng Dự án về phát
triển hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam và đã được sử dụng chính thức
trong Quyết định số 734/TTg ngày 06/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ về
việc thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính
sách. Đến nay, đã có cả một hệ thống văn bản pháp luật nhắc đến thuật ngữ
"trợ giúp pháp lý".
Nhìn chung, khái niệm trợ giúp pháp lý thể hiện được mục đích, ý
nghĩa, nội dung cơ bản, đối tượng phục vụ và tính chất đặc thù của hoạt động
này nhằm phân biệt với các hoạt động nghiệp vụ pháp lý khác. Theo nghĩa
rộng, trợ giúp pháp lý được hiểu là sự giúp đỡ miễn phí các dịch vụ pháp luật
của Nhà nước và xã hội cho người nghèo, người được hưởng chính sách ưu
đãi và một số đối tượng khác do pháp luật quy định thông qua hoạt động tư
vấn pháp luật, đại diện, bào chữa, kiến nghị giải quyết vụ việc và tham gia
thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo đảm cho mọi công dân bình
đẳng trong tiếp cận pháp luật, góp phần thực hiện công bằng xã hội. Theo
nghĩa hẹp, trợ giúp pháp lý được hiểu là sự giúp đỡ các dịch vụ pháp luật
miễn phí cho các đối tượng nhất định do các tổ chức trợ giúp pháp lý của
Nhà nước thực hiện theo lĩnh vực, phạm vi trợ giúp mà pháp luật quy định.
Luật trợ giúp pháp lý được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2006, có
hiệu lực thi hành từ 01/01/2007 tại Điều 3 đã đưa ra khái niệm về trợ giúp
pháp lý:

luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh
chấp và vi phạm pháp luật.
1.1.2. Đặc điểm hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam
Để hiểu về hoạt động trợ giúp pháp lý cần tìm hiểu về chủ thể thực
hiện hoạt động đó, đối tượng mà hoạt động đó hướng đến, hoạt động được

17


thực hiện bằng các hình thức nào, các lĩnh vực nào và những tính chất, đặc
trưng hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam.
1.1.2.1. Chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý
Chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý là các tổ chức, cá nhân thực hiện
hoạt động trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật.
- Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý
Theo Luật trợ giúp pháp lý, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý bao gồm:
(i). Các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý là Trung tâm trợ giúp pháp
lý nhà nước (là đơn vị thuộc Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương, chịu sự quản lý nhà nước của Sở Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh,
sự quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ
Tư pháp), các Chi nhánh của Trung tâm.
(ii). Các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý bao gồm:
+ Tổ chức hành nghề luật sư (Văn phòng luật sư, Công ty luật theo
quy định của pháp luật về luật sư);
+ Tổ chức tư vấn pháp luật thuộc tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức
chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp (sau đây gọi
chung là tổ chức tư vấn pháp luật).
Trên thế giới, ở tất cả các nước đều tồn tại một hệ thống trợ giúp pháp
lý của nhà nước, do Nhà nước cấp kinh phí hoạt động và chịu trách nhiệm báo
cáo trước Nhà nước về hoạt động của mình. Ở Canada, Hàn Quốc, tổ chức trợ

tư cách người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để thực
hiện việc bào chữa; người bảo vệ quyền lợi của đương sự trong vụ án hình sự;
người đại diện hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính; đại diện ngồi tố tụng cho người được
trợ giúp pháp lý để thực hiện các cơng việc có liên quan đến pháp luật, hịa
giải và các hình thức trợ giúp pháp lý khác. Đây là đội ngũ nòng cốt của
Trung tâm tham gia hoạt động tố tụng (đại diện, bào chữa, bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp) cho người được trợ giúp pháp lý.

19


(ii). Cộng tác viên trợ giúp pháp lý
Cộng tác viên là những người làm việc trên cơ sở hợp đồng cộng tác
với Trung tâm để thực hiện trợ giúp pháp lý cho người được trợ giúp pháp lý.
Cộng tác viên có thể là luật sư, Tư vấn viên pháp luật, người có bằng cử nhân
luật, người có bằng đại học khác làm việc trong ngành, nghề liên quan đến
quyền và nghĩa vụ cơ bản của cơng dân.
Đối với vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng dân
tộc thiểu số và miền núi người có bằng trung cấp luật hoặc có thời gian làm
cơng tác pháp luật từ 03 năm trở lên hoặc có kiến thức pháp luật và có uy tín
trong cộng đồng cũng được xem xét, công nhận và cấp thẻ cộng tác viên trên
cơ sở đơn tham gia của họ.
+ Người có thời gian làm công tác pháp luật là người đã hoặc đang đảm
nhiệm các chức danh như thẩm phán, hội thẩm nhân dân, thư ký Toà án, Kiểm sát
viên, Điều tra viên, Thanh tra viên, Chấp hành viên, Công chứng viên, Thẩm tra
viên ngành Toà án, Kiểm tra viên ngành Kiểm sát; chuyên viên pháp lý, cán sự
pháp lý trong ngành Tư pháp hoặc tổ chức pháp chế các cơ quan, tổ chức, doanh
nghiệp, đơn vị lực lượng vũ trang; công chức tư pháp hộ tịch xã, phường, thị trấn.
+ Người có kiến thức pháp luật và có uy tín trong cộng đồng là người

Ở Hàn Quốc, có ba nhóm người được pháp luật cho phép thực hiện trợ
giúp pháp lý, đó là: Uỷ viên trợ giúp pháp lý (phụ trách các vụ việc đại diện,
bào chữa); Luật sư công do tổ chức trợ giúp pháp lý tuyển dụng để thực hiện
các vụ việc trợ giúp pháp lý (cụ thể là các vụ đại diện, bào chữa) và Luật sư
chỉ định (được chỉ định thực hiện trợ giúp pháp lý nhưng không phải luật sư
mà chỉ là người có am hiểu về pháp luật. Những người này khi thực hiện trợ
giúp pháp lý không cần có đăng ký đủ tư cách luật sư nhưng vẫn phải tuân thủ
mọi nghĩa vụ và trách nhiệm như một luật sư).
Ở Canada, Dự luật về trợ giúp pháp lý cho phép những nhóm người
sau được thực hiện trợ giúp pháp lý: Các luật sư tư (những người đang hành
nghề luật sư tư nhưng có thoả thuận, cam kết với Cục trợ giúp pháp lý về việc
đồng ý giúp đỡ pháp lý cho đối tượng được trợ giúp của Cục); người cung cấp

21


dịch vụ (những người không phải là luật sư và chỉ được cung cấp các dịch vụ giúp
đỡ khác, không thuộc loại trợ giúp pháp lý); thành viên của tổ chức trợ giúp pháp
lý cộng đồng (những người xuất thân từ chính cộng đồng đó, khơng nhất thiết là
luật sư nhưng phải qua một khoá đào tạo đặc biệt do Cục trợ giúp pháp lý); tổ
chức sinh viên (những người đang theo khố học để được gia nhập Đồn Luật sư
hoặc bất cứ khoá học pháp luật nào mà Hiệp hội luật sư tổ chức) và luật sư
thường trực (những luật sư được Cục trợ giúp pháp lý ký hợp đồng để thường
trực tại Toà và giúp đỡ pháp lý cho những người phải ra Tồ mà chưa có luật sư).
Ở Úc, hoạt động trợ giúp pháp lý có thể được thực hiện bởi thành viên
của Uỷ ban trợ giúp pháp lý và luật sư tư (những người hành nghề tư bên ngoài
được Uỷ ban trợ giúp pháp lý mời giúp đỡ pháp lý cho đối tượng được trợ giúp
và được Uỷ ban trả thù lao) và thành viên của các tổ chức trợ giúp pháp lý tình
nguyện (ví dụ: Trung tâm trợ giúp pháp lý cộng đồng) thực hiện trợ giúp pháp lý.
Ở Philippin, người thực hiện trợ giúp pháp lý bao gồm các luật sư

+ Cha, mẹ, vợ, chồng của liệt sĩ; con của liệt sĩ dưới 18 tuổi; người có
cơng ni dưỡng liệt sĩ.
- Người già cơ đơn khơng nơi nương tựa: là người từ đủ 60 tuổi trở lên
sống độc thân và khơng có nơi nương tựa.
- Người khuyết tật: là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận
. Theo Luật người khuyết tật năm 2010
thì người khuyết tật có quyền được trợ giúp pháp lý miễn phí.
- Trẻ em khơng nơi nương tựa: được trợ giúp pháp lý là người dưới 16
tuổi không nơi nương tựa.
- Người dân tộc thiểu số: thường xuyên sinh sống tại vùng có điều
kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật.
- Nạn nhân bị mua bán: là người bị xâm hại bởi hành vi mua, bán
người. Theo Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011 thì nạn nhân bị
mua bán được trợ giúp pháp lý miễn phí.

23


- Các đối tượng khác: được trợ giúp pháp lý theo quy định tại Điều
ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên (Công ước
quốc tế về quyền trẻ em năm 1989, Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt
Nam với Trung Quốc, Ucraina, Pháp, Mông Cổ…).
Một số nước trên thế giới cũng quy định một số nhóm người nhất định
trong xã hội được hưởng dịch vụ trợ giúp pháp lý, như pháp luật trợ giúp pháp
lý ở Trung Quốc quy định: Một người có đủ điều kiện để được hưởng dịch vụ
trợ giúp pháp lý phải đáp ứng một trong hai loại điều kiện: Điều kiện chung
và điều kiện đặc biệt.
Điều kiện chung: Có nhiều lý do chứng tỏ việc trợ giúp pháp lý là cần
thiết để bảo vệ quyền và lợi ích của cá nhân và người nộp đơn khơng có khả
năng trả chi phí dịch vụ pháp lý do tình hình tài chính khó khăn. Thuật ngữ

bảo vệ quyền lợi của người được trợ giúp pháp lý là người bị hại, là nguyên
đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
hình sự; tham gia tố tụng dân sự, tố tụng hành chính để bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý trong vụ việc dân sự, vụ án hành
chính. Để bào chữa trong vụ án hình sự, Trợ giúp viên pháp lý, luật sư là cộng
tác viên trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng với tư cách người đại diện hợp pháp
để bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
- Đại diện ngoài tố tụng
Người thực hiện trợ giúp pháp lý làm đại diện ngồi tố tụng để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp cho người được trợ giúp pháp lý khi họ khơng thể
tự bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước các cơ quan, tổ chức
khơng phải là cơ quan tiến hành tố tụng.
Việc đại diện ngoài tố tụng được thực hiện trong phạm vi yêu cầu của
người được trợ giúp pháp lý.
- Các hình thức trợ giúp pháp lý khác
+ Tham gia hòa giải giúp người được trợ giúp pháp lý tự giải quyết
tranh chấp.

25


Khi có yêu cầu hoặc được sự đồng ý của một hoặc các bên, tổ chức
thực hiện trợ giúp pháp lý cử người thực hiện trợ giúp pháp lý làm trung gian
để phân tích các tình tiết của vụ việc, giải thích quy định của pháp luật, hướng
dẫn để các bên tự thương lượng, thống nhất hướng giải quyết vụ việc mà
khơng phải đưa vụ việc ra Tồ án hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết, tự
nguyện rút đơn kiện, tự giải quyết các tranh chấp và tự nguyện chấp hành kết
quả giải quyết vụ việc.
Việc hoà giải cũng được tiến hành trong trường hợp cần thiết để giữ gìn
đồn kết cộng đồng, duy trì trật tự an tồn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status