(Luận văn thạc sĩ) bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp trong thi hành pháp luật thuế giá trị gia tăng ở việt nam - Pdf 70

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

BÙI THỊ HẢI HUYỀN

BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA DOANH NGHIỆP
TRONG THI HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2014

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

BÙI THỊ HẢI HUYỀN

BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA DOANH NGHIỆP
TRONG THI HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số

: 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


1

MỞ ĐẦU

Chương 1:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA

5

TĂNG, PHÁP LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ
QUYỀN LỢI CỦA DOANH NGHIỆP TRONG PHÁP
LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

1.1.

Những vấn đề cơ bản về thuế giá trị gia tăng và pháp luật thuế
giá trị gia tăng

5

1.1.1. Khái niệm và đặc điểm thuế giá trị gia tăng

5

1.1.2. Vai trò của thuế giá trị gia tăng và pháp luật thuế giá trị gia tăng

6

1.1.3. Lịch sử hình thành phát triển của pháp luật thuế giá trị gia tăng

Nội dung chủ yếu của pháp luật thuế giá trị gia tăng điều
chỉnh quyền và nghĩa vụ nộp thuế của doanh nghiệp

4


1.3.1. Chủ thể quản lý thuế

22

1.3.2. Chủ thể nộp thuế là doanh nghiệp

23

1.3.3. Phạm vi, mức độ nghĩa vụ thuế giá trị gia tăng

29

1.3.4. Cơ chế thực hiện thuế giá trị gia tăng

37

Chương 2: THỰC TRẠNG THI HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ

43

GIA TĂNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA DOANH NGHIỆP
VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

2.1.


2.2.2. Phương thức kê khai thuế giá trị gia tăng

79

2.2.3. Thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng

83

2.2.4. Cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp

85

2.3.

93

Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật thuế giá trị gia tăng

2.3.1. Kiến nghị đối với Luật Thuế giá trị gia tăng

93

2.3.2. Kiến nghị đối với Luật Quản lý thuế

96

KẾT LUẬN

100

Số hiệu

Tên bảng

Trang

1.1

Phân loại quy mô các doanh nghiệp vừa và nhỏ năm 2009

26

1.2

Tiêu chí xác định doanh nghiệp lớn ở Việt Nam

26

bảng

7


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Chính sách thuế là một trong những nội dung quan trọng của chính
sách tài chính quốc gia được xuất phát từ vai trị quan trọng của thuế trong
việc điều tiết kinh tế vĩ mô nền kinh tế quốc dân, điều tiết mọi hoạt động giữa
các thành phần kinh tế, giữa các ngành, giữa các vùng nhằm đảm bảo sự cơng

ý nghĩa quan trọng trong đánh giá thực trạng và những giải pháp để hoàn
thiện pháp luật thuế GTGT. Xuất phát từ những điều đó tơi đã mạnh dạn
nghiên cứu đề tài "Bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp trong thi hành pháp
luật thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam".
2. Tình hình nghiên cứu
Thời gian qua, thuế GTGT thu hút được sự quan tâm đặc biệt từ các
nhà nghiên cứu luật, do đó đã có nhiều cơng trình nghiên cứu khoa học công
bố trong lĩnh vực thuế: các công trình nghiên cứu về thuế GTGT, về pháp luật
quản lý thuế, về luật thuế GTGT nhằm hoàn thiện pháp luật thuế ở nước ta.
Các cơng trình nghiên cứu chủ yếu tập trung nghiên cứu, đánh giá dựa trên
góc độ quản lý Nhà nước nhằm hoàn thiện các quy định về thuế GTGT, tăng
cường hiệu quả chức năng quản lý của cơ quan thuế. Tình trạng này bắt
nguồn từ việc nghiên cứu trên cơ sở luật thực định chưa có sự tách biệt giữa
hai bộ phận pháp luật là pháp luật quy định nội dung sắc thuế GTGT và Luật
Quản lý thuế. Hơn nữa, mơ hình quản lý thuế ở Việt Nam mới chuyển mơ
hình quản lý chun quản sang mơ hình quản lý chủ yếu theo chức năng, kết
hợp quản lý theo đối tượng và người nộp thuế (NNT) được đặt ở vị trí trung
tâm trong pháp luật thuế. Vì vậy, luận văn "Bảo vệ quyền lợi của doanh
nghiệp trong thi hành pháp luật thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam" là một đề
tài độc lập khơng có sự lặp lại. Luận văn đi sâu vào nghiên cứu để tìm ra
những tồn tại, hạn chế, đề xuất giải pháp khắc phục cho vấn đề "bảo vệ quyền
lợi của doanh nghiệp".

9


3. Mục đích, lý do chọn đề tài
Vấn đề bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp trong thi hành pháp luật
thuế GTGT được nghiên cứu theo mục đích sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về thuế GTGT và vấn đề bảo vệ

Luật Quản lý thuế năm 2012.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn nghiên cứu về bảo về quyền lợi của doanh nghiệp trong thi
hành pháp luật thuế GTGT chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
sưu tầm tài liệu, phân tích tài liệu, tổng hợp, so sánh, thống kê số liệu. Trên cơ
sở phân tích các vấn đề lý luận cũng như thực tiễn trong các quy định pháp
luật thuế GTGT ở Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp. Luận
văn trình bày một cách trung thực những ưu và nhược điểm của pháp luật hiện
hành và quyền lợi của doanh nghiệp khi thi hành pháp luật thuế GTGT, từ đó
đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật thuế GTGT nhằm cân bằng giữa
lợi ích của doanh nghiệp nộp thuế và Nhà nước, bảo vệ tối đa nhất quyền lợi
của doanh nghiệp nộp thuế.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về thuế giá trị gia tăng, pháp luật
thuế giá trị gia tăng và quyền lợi của doanh nghiệp trong pháp luật thuế giá trị
gia tăng.
Chương 2: Thực trạng thi hành pháp luật thuế giá trị gia tăng về quyền
lợi của doanh nghiệp và một số kiến nghị hoàn thiện.

11


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG,
PHÁP LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ QUYỀN LỢI CỦA
DOANH NGHIỆP TRONG PHÁP LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ PHÁP

Thứ hai, thuế GTGT tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ.
Việc đánh thuế chỉ trên phần giá trị tăng thêm mà không phải đối với tồn bộ
giá trị hàng hóa dịch vụ làm cho số thuế GTGT áp dụng trong mỗi khâu của
quá trình lưu thơng khơng gây ra những đột biến về giá cả cho người tiêu
dùng. Đặc điểm này của thuế GTGT cịn u cầu pháp luật điều chỉnh phải
tìm ra cách thức, phương thức phù hợp, có tính khả thi để xác định chính xác
phần giá trị tăng thêm làm căn cứ tính thuế.
Thứ ba, nếu dựa trên giá mua cuối cùng của hàng hóa dịch vụ, số thuế
GTGT phải nộp không thay đổi phụ thuộc vào các giai đoạn lưu thông khác
nhau. Đánh thuế ở tất cả các khâu của q trình sản xuất, lưu thơng hàng hóa
ở trong nước, khâu nhập khẩu và lưu thông hàng nhập khẩu nhưng cơ sở xác
định số thuế phải nộp chỉ là phần giá trị mới tăng thêm của khâu sau so với
khâu trước nên nếu coi giá thanh tốn tính đến khi người tiêu dùng thụ hưởng
hàng hóa dịch vụ đã xác định trước và không thay đổi các phần giá trị hàng
hóa dịch vụ có bị chia nhỏ và đánh thuế, tổng số thuế GTGT phải nộp qua các
khâu chính là số thuế cuối cùng tính trên tổng giá trị hàng hóa dịch vụ mà
người tiêu dùng phải chịu. Đây vừa là đặc điểm vừa là ưu việt của thuế GTGT
so với thuế hàng hóa dịch vụ thơng thường mà Việt Nam và nhiều quốc giá
khác đã áp dụng trong giai đoạn trước đây [39, tr. 149].
1.1.2. Vai trò của thuế giá trị gia tăng và pháp luật thuế giá trị gia tăng
1.1.2.1. Vai trò của thuế giá trị gia tăng
- Khắc phục được nhược điểm trùng lắp "Thuế thu trên thuế" nên góp
phần khuyến khích chun mơn hóa, hợp tác hóa để nâng cao năng suất chất

13


lượng, hạ giá thành sản phẩm, phù hợp với nền kinh tế sản xuất hàng hóa theo
cơ chế thị trường.
- Thuế GTGT được áp dụng rộng rãi với mọi tổ chức và cá nhân có

Người tiêu dùng có thu nhập cao hay thấp thường phải chịu thuế như nhau.
Thuế GTGT khơng đảm bảo u cầu cơng bằng trong chính sách động viên
giữa người giàu và người nghèo.
1.1.2.2. Vai trò của pháp luật thuế giá trị gia tăng
Thuế GTGT có tầm quan trọng như vậy nên việc pháp điển hóa thuế
GTGT càng có ý nghĩa sâu sắc. Hệ thống thuế của một quốc gia có nhiều sắc
thuế khác nhau mà thuế GTGT là một trong số đó. Phụ thuộc vào tình hình
kinh tế xã hội ở mỗi nước và trình độ lập pháp, sự lựa chọn của các nhà làm
luật khác nhau mà việc xây dựng pháp luật thuế lại khác nhau. Có nước quy
định tất cả các sắc thuế trong một Bộ luật, trong đó vừa có quy định về nội
dung điều chỉnh đối với các đối tượng chịu thuế vừa quy định về trình tự, thủ
tục thực hiện và cơ chế quản lý, xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp đối với
sắc thuế đó. Có nước lại có một đạo luật riêng về nội dung từng sắc thuế và
đạo luật riêng về quản lý thuế. Tuy nhiên nhìn vào bản chất khi doanh nghiệp
thực thi một sắc thuế cụ thể thì doanh nghiệp cần thực hiện theo nội dung các
quy định của sắc thuế cũng như các quy định về trình tự để thực hiện sắc thuế
đó. Vì vậy, dù pháp luật thuế GTGT dù được xây dựng theo hình thức nào thì
pháp luật thuế GTGT cũng gồm hai bộ phận: luật nội dung là luật thuế GTGT
và luật hình thức là luật quản lý thuế.
* Vai trị của Luật Thuế GTGT
Luật thuế GTGT khuyến khích việc sản xuất hàng hố xuất khẩu và
xuất khẩu thay vì luật thuế cũ khuyến khích sản xuất hàng thay thế hàng nhập
khẩu, đặc biệt Luật thuế GTGT đã khuyến khích sản xuất, kinh doanh những mặt
hàng mà Việt Nam có thế mạnh: nông sản, lâm sản, hải sản, thủ công mỹ nghệ.
Đặc biệt Luật thuế GTGT góp phần đến cơng tác quản lý của doanh
nghiệp tạo điều kiện cho cơ quan Nhà nước kiểm tra, giám sát hoạt động kinh
doanh của các doanh nghiệp, tăng cường cơng tác hạch tốn, kế toán và thúc

15


16


GTGT, góp phần tạo mơi trường thuận lợi cho NNT tuân thủ pháp luật về
thuế, tự giác nộp đúng, đủ, kịp thời tiền thuế vào NSNN.
1.1.3. Lịch sử hình thành phát triển của pháp luật thuế giá trị gia tăng
Thuế GTGT ra đời muộn trong lịch sử phát triển của thuế. Một doanh
nhân người Đức, Wilhelm von Siemens đưa ra ý tưởng đầu tiên vào năm 1920.
Ông đặt ra ý tưởng là đặt ra một loại thuế dựa trên phần giá trị tăng thêm ở
từng giai đoạn sản xuất. Tuy nhiên phải đến khi một người Pháp là Maruice
Laure, một quan chức thuế đề xướng và giúp hiện thực sắc thuế này trên thực tế.
Năm 1954 thuế GTGT được áp dụng tại Pháp dưới hình thức đánh thuế vào
giai đoạn sản xuất. Đến năm 1968, thuế này được nhập vào thuế lưu thông
đánh vào dịch vụ và thuế địa phương đánh vào lưu thông bán lẻ thành một
loại thuế thống nhất chung [42]. Từ đó đến này, thuế GTGT đã thể hiện tính
ưu việt của mình nên thuế GTGT ngày càng được áp dụng rộng rãi ở nhiều
nước trên thế giới dưới các tên gọi khác nhau như TVA (Pháp); VAT (Anh);
Thuế hàng hóa và dịch vụ (Úc, Cannada, Singapore), Thuế tiêu dùng (Nhật
Bản)… Thuế GTGT được sớm áp dụng ở Châu Âu, chỉ hơn hai mươi năm sau
khi ra đời hình thức sơ khai đầu tiên, nó đã được coi là một trong những điều
kiện tiên quyết để gia nhập khối EC (năm 1977). Sau 80 năm, thuế GTGT phủ
sóng khắp Tây Châu Âu và Mỹ La tinh. Ngày nay, Thuế GTGT được áp dụng
ở 150 quốc gia và chiếm tỉ lệ 1/5 tổng nguồn thu về thuế. Tất cả các nước
OECD, ngoại trừ Mỹ đều có hệ thống thuế GTGT của riêng mình [42].
Trước khi Luật Quản lý thuế được ban hành, ở nước ta các thủ tục
hành chính thuế được quy định rải rác trong nhiều văn bản pháp luật. Chỉ đến
khi luật quản lý thuế được ban hành ngày 29/11/2006 quy định thống nhất
chính sách quản lý thuế thì pháp luật thuế GTGT mới cơ bản hoàn chỉnh, khắc
phục được những hạn chế của các quy định về thủ tục hành chính, thay đổi
căn bản phương thức quản lý thuế, NNT tự tính, tự khai, tự nộp thuế và tự

Luật Quản lý thuế của Trung Quốc và Việt Nam đều đưa ra khái niệm
quản lý thuế dựa trên sự liệt kê các nhiệm vụ quản lý, các hoạt động tổ chức
điều hành của cơ quan thuế.

18


Theo Tổng cục Thuế Latvia cho rằng:
Quản lý thuế là hệ thống các q trình có mối quan hệ chặt
chẽ nhằm đảm bảo mục tiêu thu thuế đúng, đủ và công bằng trên cơ
sở của pháp luật thuế, bao gồm các hoạt động thu nhận, hồ sơ khai
thuế, tính tốn số thuế phải nộp, đôn đốc thu nộp thuế và cung cấp
dịch vụ tư vấn cho người nộp thuế [32, tr. 25].
Theo tài liệu của Viện Nghiên cứu lập pháp - Quốc hội Việt Nam năm
2011: Quản lý thuế là hoạt động quản lý hành chính trong lĩnh vực thuế. Cụ
thể, quản lý thuế là việc tổ chức và điều khiển của các cơ quan có thẩm quyền
đối với cá nhân, doanh nghiệp hay các chủ thể khác nhằm tuân thủ các quy
định của pháp luật thuế [32, tr. 25]. Cùng với sự ra đời của thuế thì quản lý ra
đời như một dạng quản lý của Nhà nước gắn với quyền lực nhà nước, quản lý
thuế bao gồm tất cả các hoạt động của Nhà nước liên quan đến thuế như: tổ
chức, điều hành thực hiện thuế, ban hành các văn bản pháp luật về thuế, xử lý
vi phạm pháp luật thuế.
1.2.2. Khái niệm luật quản lý thuế và mối quan hệ đối với Luật
thuế giá trị gia tăng trong việc bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp
Trên thế giới hiện nay, hệ thống pháp luật thuế ở các quốc gia có cấu
trúc khác nhau. Ở nhiều quốc gia, tất cả các sắc thuế được tập hợp quy định
trong một bộ luật chung về thuế, gọi là Bộ luật thuế vụ. Trong bộ luật này, cơ
quan nhà lập pháp vừa quy định về nội dung cụ thể của các sắc thuế trong hệ
thống thuế vừa quy định trình tự, thủ tục hành chính, cơ chế quản lý thuế và
cơ chế xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp về thuế. Ở những quốc gia khác

dụng để thực hiện công tác quản lý thuế GTGT. Luật Thuế GTGT và Luật
quản lý thuế cùng tham gia điều chỉnh quan hệ giữa cơ quan quản lý thuế với
NNT phát sinh trong quá trình quản lý thu, nộp các loại thuế; quan hệ giữa cơ
quan quản lý thuế với NNT với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan,
quan hệ giữa NNT với các chủ thể khác có liên quan đến việc thực hiện quyền
và nghĩa vụ của NNT, ngồi ra cịn quan hệ phát sinh trong nội bộ cơ quan
quản lý thuế. Luật quản lý thuế có phạm vi điều chỉnh các quan hệ xã hội phát

20


sinh trong hoạt động quản lý thuế của Nhà nước, hay nói cách khác là các mối
quan hệ phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện luật các sắc thuế riêng.
Chính vì thế, doanh nghiệp khi tham gia vào quan hệ thuế GTGT sẽ là đối
tượng nộp thuế chịu sự chi phối không chỉ bởi Luật nội dung là luật thuế
GTGT mà cịn bởi Luật hình thức là Luật quản lý thuế. Luật Quản lý thuế
hiện hành của Việt Nam liệt kê các nội dung quản lý thuế gồm: Đăng ký thuế,
khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; Thủ tục hồn thuế, miễn thuế, giảm thuế;
Xố nợ tiền thuế, tiền phạt; Quản lý thông tin về người nộp thuế; Kiểm tra
thuế, thanh tra thuế; Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; Xử lý vi
phạm pháp luật về thuế; Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế [28]. Doanh
nghiệp nộp thuế GTGT đều phải tuân theo trình tự theo như luật quản lý thuế
đã quy định. Vì vậy, để bảo đảm quyền và lợi ích cho doanh nghiệp, phù hợp
với các quy định về thuế GTGT thì khi xây dựng và hồn thiện luật quản lý
thuế cần có sự cân nhắc cẩn trọng.
1.2.3. Cơ chế quản lý thuế
Trong khoa học quản lý thì:
Cơ chế quản lý là hệ thống các quy tắc điều chỉnh các hành
vi, hoạt động của các chủ thể trong hệ thống quản lý; là hệ thống
các biện pháp, hình thức, cách thức tổ chức, điều khiển nhằm duy

thu thuế cho NSNN, doanh nghiệp có vị trí là đối tượng bị quản lý, bị cai trị.
- Cơ chế tự khai, tự nộp thuế: Khi nền kinh tế thị trường phát triển và
lan rộng ở khắp các quốc gia trên thế giới đồng thời nền dân chủ cũng được
mở rộng, nâng cao và tác động đến nhận thức của doanh nghiệp và cơ quan
thuế. Việc đăng ký, kê khai, nộp thuế không chỉ đơn thuần là nghĩa vụ của đối
tượng là doanh nghiệp nộp thuế mà xét ở góc độ nào đó cịn là quyền của đối
tượng nộp thuế: quyền được đăng ký nộp thuế, quyền được kê khai thuế,
quyền được tính thuế, quyền được chủ động nộp thuế vào NSNN. Ngày nay,
doanh nghiệp ngày càng có ý thức nghĩa vụ thuế của mình, vai trị ý nghĩa của
việc nộp thuế đối với NSNN, cơ quan thuế ý thức được chức năng, nhiệm vụ
của mình trong hoạt động quản lý thuế, hệ thống thuế. Do đó, nhiều quốc gia

22


đã thay đổi cơ chế quản lý thuế của mình, chuyển sang áp dụng quản lý thuế
theo cơ chế tự khai, tự nộp. Việc áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp thuế đã là vấn
đề nổi bật trong quản lý thuế vào những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20.
Một số nước như: Anh, Pháp thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp thuế từng bước,
trước tiên là áp dụng đối với thuế GTGT, sau đó được đưa vào áp dụng cho
các sắc thuế khác. Tại một số nước như: Mỹ, Nhật Bản, Đan Mạch, Thụy
Điển, cơ chế tự khai, tự nộp thuế đã được áp dụng từ nhiều thập kỷ trước,
nhằm mục tiêu thực hiện dân chủ hóa hệ thống quản lý thuế. Tại các nước có
nền kinh tế mới nổi, các nước ASEAN như: Philipin, Inđônêxia, Thái Lan,
Malaixia, Việt Nam…, việc áp dụng cơ chế tự khai tự nộp thuế được coi là
trọng tâm của cải cách pháp luật về quản lý thuế [34].
Theo cơ chế này, việc kê khai, tính thuế, nộp thuế được thực hiện trên
nền tảng sự tuân thủ tự giác về nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp nộp thuế.
NNT căn cứ các quy định của pháp luật thuế để xác định các loại thuế phải nộp,
tự kê khai, tự tính thuế, tự nộp số thuế đã tính vào NSNN. Đặc điểm cốt lõi của

nộp thuế, trốn thuế, gian lận thuế… Áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp thuế này,
cơ quan thuế cịn tiết kiệm được chi phí hành chính về thuế, cơng sức, nguồn
nhân lực khi mà cơ quan thuế không phải gửi hàng triệu thông báo thuế hàng
tháng. Cơ quan quản lý thuế có điều kiện để đầu tư vào chức năng như: hỗ
trợ, tư vấn cho doanh nghiệp, thanh tra, kiểm tra, cưỡng chế về thuế.
Tuy nhiên, áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp có hiệu quả hay khơng cịn
phụ thuộc vào các điều kiện sau:
+ Nhà nước phải có hệ thống thuế thực sự minh bạch, doanh nghiệp
có thể dễ dàng tiếp cận, tìm hiểu chính sách thuế. Đặc biệt các thủ tục như
đăng ký thuế, kê khai, nộp thuế, hoàn thuế … phải đơn giản để doanh nghiệp
hoàn thành nghĩa vụ thuế một cách thuận tiện.
+ Cơ quan thuế phải tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến và
giải đáp các vướng mắc về chính sách, chế độ thủ tục về thuế mà các tổ chức,
cá nhân thường gặp trong quá trình kê khai, nộp thuế để doanh nghiệp thực
hiện tốt nghĩa vụ thuế của mình đối với Nhà nước.
+ Chế tài đủ sức răn đe đối với các hành vi vi phạm để đảm bảo hiệu
quả của hoạt động quản lý thuế, tính thực tiễn của luật thuế GTGT, luật quản

24


lý thuế và đảm bảo nguồn thu cho NSNN. Thanh tra thuế phải kịp thời phát
hiện, ngăn chặn đối với các hành vi vi phạm, trốn thuế, gian lận thuế, … tránh
tình trạng thất thốt đi NSNN.
1.2.4. Mơ hình quản lý thuế giá trị gia tăng
Mơ hình quản lý thuế là việc xác định cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý
thuế theo một nguyên tắc chủ đạo nhất định, đồng thời xác định số lượng các
bộ phận, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cho từng bộ phận trong cơ cấu tổ
chức đó; thực hiện phân bổ nguồn nhân lực một cách hợp lý nhằm hình thành
bộ máy quản lý thuế phù hợp, đảm bảo tính thống nhất, thực hiện đầy đủ, có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status