Bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp trong thi hành pháp luật thuế giá trị gia tăng ở việt nam - Pdf 69

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

BÙI THỊ HẢI HUYỀN

BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA DOANH NGHIỆP TRONG THI
HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG Ở VIỆT
NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2014

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

BÙI THỊ HẢI HUYỀN

BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA DOANH NGHIỆP TRONG THI
HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG Ở VIỆT
NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Lan Hƣơng


Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN

TĂNG, PHÁP LUẬT THUẾ

QUYỀN LỢI CỦA DOAN

LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA

1.1.

Những vấn đề cơ bản về thuế giá trị
giá trị gia tăng

1.1.1.

Khái niệm và đặc điểm thuế giá trị g

1.1.2.

Vai trò của thuế giá trị gia tăng và ph

1.1.3.

Lịch sử hình thành phát triển của ph

1.2.

Những vấn đề cơ bản về quản lý thu

1.2.1.

Chủ thể nộp thuế là doanh nghiệp

1.3.3.

Phạm vi, mức độ nghĩa vụ thuế giá tr

1.3.4.

Cơ chế thực hiện thuế giá trị gia tăng

Chương 2: THỰC TRẠNG THI HÀNH P

GIA TĂNG VỀ BẢO VỆ QUY

VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ H

2.1.

Bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp th

2.1.1.

Thực hiện nghĩa vụ kê khai hàng hóa

2.1.2.

Quyền được khấu trừ thuế

2.1.3.


2.3.1.

Kiến nghị đối với Luật Thuế giá trị g

2.3.2.

Kiến nghị đối với Luật Quản lý thuế
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

5


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

GTGT

: Giá trị gia tăng

NNT

: Người nộp thuế

NSNN

: Ngân sách nhà nước

TTĐB

: Tiêu thụ đặc biệt

phong phú thì chính sách thuế ngày càng đóng vai trò quan trọng.
Trong thời gian qua, chính sách và cơ chế quản lý thu thuế đã có nhiều
đổi mới góp phần tăng thu cho ngân sách, khuyến khích sản xuất, kinh doanh
đúng hướng. Chính sách thuế là một bộ phận không thể thiếu được trong hệ
thống chính sách tài chính quốc gia, là một trong những công cụ quản lý vĩ mô
quan trọng trong việc thực hiện đường lối phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước. Trong đó, không thể không nhắc đến Luật Thuế giá trị gia tăng (GTGT)
năm 2008, Luật sửa đổi, bổ sung thuế GTGT đã được Quốc hội khóa VIII thông
qua và có hiệu lực từ ngày 1/7/2013. Luật Thuế GTGT sửa đổi, bổ sung có tác
động trực tiếp đến doanh nghiệp và được xem như là một trong các giải pháp hỗ
trợ doanh nghiệp, kích thích nền kinh tế, củng cố nguồn thu cho ngân sách nhà
nước (NSNN) mà Chính phủ đề xuất. Luật thuế GTGT bao gồm các quy định
điều chỉnh các quan hệ thuế GTGT, tác động vào các quan hệ thuế GTGT nhằm
thiết lập và duy trì một trật tự nhất định trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế
GTGT. Bằng việc điều chính quan hệ thuế GTGT bằng Luật thuế GTGT, kết hợp
với Luật Quản lý thuế điều chỉnh các quan hệ trong hoạt

8


động quản lý thuế, Nhà nước đảm bảo thực hiện chính sách thuế GTGT một
cách hài hòa.
Chính vì thế, vừa để tạo nguồn thu cho ngân sách vừa đảm bảo quyền,
lợi ích của doanh nghiệp nộp thuế thì việc nghiên cứu văn bản quy phạm pháp
luật điều chính về thuế GTGT cũng như cơ chế thực hiện Luật thuế GTGT có
ý

nghĩa quan trọng trong đánh giá thực trạng và những giải pháp để hoàn

thiện pháp luật thuế GTGT. Xuất phát từ những điều đó tôi đã mạnh dạn

quyền lợi của doanh nghiệp trong pháp luật thuế GTGT.
-

Nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của pháp luật hiện

hành về thuế GTGT và pháp luật bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp trong
pháp luật thuế GTGT.
-

Thực tiễn áp dụng các quy định của luật, từ đó tìm ra những vấn đề tồn

tại của pháp luật thuế GTGT trong việc bảo vệ quyền lợi ích của doanh nghiệp.
-

Đưa ra những kiến nghị hoàn thiện các quy định trong pháp luật thuế

GTGT nhằm bảo vệ một cách có hiệu quả hơn quyền lợi của doanh nghiệp
góp phần tăng tính khả thi của pháp luật thuế GTGT.
4. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp trong thi hành pháp luật thuế
GTGT ở Việt Nam được nghiên cứu theo hai phạm vi:
4.1. Về không gian
Vấn đề bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp trong pháp luật thuế GTGT
diễn ra trên phạm vi toàn quốc, theo từng khu vực và đặc biệt ở những khu
vực trung tâm như: Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí minh… Bên cạnh
đó, luận văn nghiên cứu tình hình bảo về quyền lợi doanh nghiệp trong pháp
luật thuế GTGT ở nhiều quốc gia phát triển đã đi trước mở đường cho Luật
Thuế GTGT áp dụng trên phạm vi toàn cầu như Anh, Hàn Quốc, Đức, Nhật…
Như vậy, chúng ta sẽ có cái nhìn toàn cảnh về tình hình bảo vệ quyền lợi của
doanh nghiệp trong pháp luật thuế GTGT theo pháp luật Việt Nam.

lợi của doanh nghiệp và một số kiến nghị hoàn thiện.

11


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG, PHÁP
LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ QUYỀN LỢI CỦA DOANH
NGHIỆP TRONG PHÁP LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ PHÁP
LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

1.1.1. Khái niệm và đặc điểm thuế giá trị gia tăng
1.1.1.1. Khái niệm thuế giá trị gia tăng
Thuế GTGT là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá,
dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng (dưới
đây viết tắt là VAT - Value Added Tax). VAT là loại thuế gián thu, đã được
nhiều nước áp dụng để thay cho thuế doanh thu. Được gọi là thuế VAT vì thuế
chỉ đánh trên phần giá trị tăng thêm qua mỗi khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, và tổng số thuế thu được ở mỗi khâu bằng chính số thuế tính trên
giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng. Về bản chất, thuế VAT do các nhà sản
xuất kinh doanh nộp hộ người tiêu dùng thông qua việc tính gộp thuế này vào
giá bán mà người tiêu dùng phải thanh toán bằng chính số thuế tính trên giá
bán cho người tiêu dùng cuối cùng. Theo Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12,
thuế GTGT được định nghĩa như sau: "Thuế giá trị gia tăng là thuế thu trên
phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình tư sản
xuất, lưu thông đến tiêu dùng" [29].
1.1.1.2. Đặc điểm thuế giá trị gia tăng
Thứ nhất, thuế GTGT có đối tượng chịu thuế rất rộng. Mọi đối tượng
tồn tại trong xã hội cho dù là tổ chức hay cá nhân, là người nghèo hay người

người tiêu dùng phải chịu. Đây vừa là đặc điểm vừa là ưu việt của thuế GTGT
so với thuế hàng hóa dịch vụ thông thường mà Việt Nam và nhiều quốc giá
khác đã áp dụng trong giai đoạn trước đây [39, tr. 149].
1.1.2. Vai trò của thuế giá trị gia tăng và pháp luật thuế giá trị gia tăng

1.1.2.1. Vai trò của thuế giá trị gia tăng
-

Khắc phục được nhược điểm trùng lắp "Thuế thu trên thuế" nên góp

phần khuyến khích chuyên môn hóa, hợp tác hóa để nâng cao năng suất chất

13


lượng, hạ giá thành sản phẩm, phù hợp với nền kinh tế sản xuất hàng hóa theo
cơ chế thị trường.
-

Thuế GTGT được áp dụng rộng rãi với mọi tổ chức và cá nhân có

tiêu dùng sản phẩm, hàng hóa hoặc được cung ứng dịch vụ, thuế GTGT chỉ
tính vào phần giá trị tăng thêm, không tính vào vốn nên thuế GTGT không
những đảm bảo được nguồn thu cho NSNN tương ứng với số thuế doanh thu
trước đây mà còn góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh. Trên cơ sở đó để
tăng thu cho NSNN. Thuế GTGT hàng năm ở các nước thuộc OECD (Tổ
chức Hợp tác và Phát triển kinh tế) chiếm 18,7%. Ở Việt Nam, thuế GTGT
đóng góp vào NSNN liên tục tăng, đem lại 742.650 tỷ đồng, chiếm 26,08%
trong tổng nguồn thu về thuế trong năm 2012 [15], Có thể thấy, thuế GTGT
đóng góp phần quan trọng với tỷ lệ lớn nguồn thuế nộp vào NSNN hàng năm.

1.1.2.2. Vai trò của pháp luật thuế giá trị gia tăng
Thuế GTGT có tầm quan trọng như vậy nên việc pháp điển hóa thuế
GTGT càng có ý nghĩa sâu sắc. Hệ thống thuế của một quốc gia có nhiều sắc
thuế khác nhau mà thuế GTGT là một trong số đó. Phụ thuộc vào tình hình
kinh tế xã hội ở mỗi nước và trình độ lập pháp, sự lựa chọn của các nhà làm
luật khác nhau mà việc xây dựng pháp luật thuế lại khác nhau. Có nước quy
định tất cả các sắc thuế trong một Bộ luật, trong đó vừa có quy định về nội
dung điều chỉnh đối với các đối tượng chịu thuế vừa quy định về trình tự, thủ
tục thực hiện và cơ chế quản lý, xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp đối với
sắc thuế đó. Có nước lại có một đạo luật riêng về nội dung từng sắc thuế và
đạo luật riêng về quản lý thuế. Tuy nhiên nhìn vào bản chất khi doanh nghiệp
thực thi một sắc thuế cụ thể thì doanh nghiệp cần thực hiện theo nội dung các
quy định của sắc thuế cũng như các quy định về trình tự để thực hiện sắc thuế
đó. Vì vậy, dù pháp luật thuế GTGT dù được xây dựng theo hình thức nào thì
pháp luật thuế GTGT cũng gồm hai bộ phận: luật nội dung là luật thuế GTGT
và luật hình thức là luật quản lý thuế.
* Vai trò của Luật Thuế GTGT
Luật thuế GTGT khuyến khích việc sản xuất hàng hoá xuất khẩu và xuất
khẩu thay vì luật thuế cũ khuyến khích sản xuất hàng thay thế hàng nhập khẩu,
đặc biệt Luật thuế GTGT đã khuyến khích sản xuất, kinh doanh những mặt hàng
mà Việt Nam có thế mạnh: nông sản, lâm sản, hải sản, thủ công mỹ nghệ.

Đặc biệt Luật thuế GTGT góp phần đến công tác quản lý của doanh
nghiệp tạo điều kiện cho cơ quan Nhà nước kiểm tra, giám sát hoạt động kinh
doanh của các doanh nghiệp, tăng cường công tác hạch toán, kế toán và thúc

15


đẩy việc mua bán hoá đơn GTGT ở các doanh nghiệp. Do yêu cầu của việc kê

-

Luật quản lý thuế tạo sự đồng bộ , nâng cao tính rõ ràng , minh bạch

trong công tác hành thu ; tăng cường vai trò kiểm tra giám sát của Nhà nước ,
xã hội trong công tác quản lý thuế; là cơ sở pháp lý để NNT thực hiện thuế

16


GTGT, góp phần tạo môi trường thuận lợi cho NNT tuân thủ pháp luật về
thuế, tự giác nộp đúng, đủ, kịp thời tiền thuế vào NSNN.
1.1.3. Lịch sử hình thành phát triển của pháp luật thuế giá trị gia tăng

Thuế GTGT ra đời muộn trong lịch sử phát triển của thuế. Một doanh
nhân người Đức, Wilhelm von Siemens đưa ra ý tưởng đầu tiên vào năm 1920.
Ông đặt ra ý tưởng là đặt ra một loại thuế dựa trên phần giá trị tăng thêm ở từng
giai đoạn sản xuất. Tuy nhiên phải đến khi một người Pháp là Maruice Laure,
một quan chức thuế đề xướng và giúp hiện thực sắc thuế này trên thực tế. Năm
1954 thuế GTGT được áp dụng tại Pháp dưới hình thức đánh thuế vào giai đoạn
sản xuất. Đến năm 1968, thuế này được nhập vào thuế lưu thông đánh vào dịch
vụ và thuế địa phương đánh vào lưu thông bán lẻ thành một loại thuế thống nhất
chung [42]. Từ đó đến này, thuế GTGT đã thể hiện tính ưu việt của mình nên
thuế GTGT ngày càng được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới dưới các
tên gọi khác nhau như TVA (Pháp); VAT (Anh); Thuế hàng hóa và dịch vụ (Úc,
Cannada, Singapore), Thuế tiêu dùng (Nhật Bản)… Thuế GTGT được sớm áp
dụng ở Châu Âu, chỉ hơn hai mươi năm sau khi ra đời hình thức sơ khai đầu tiên,
nó đã được coi là một trong những điều kiện tiên quyết để gia nhập khối EC
(năm 1977). Sau 80 năm, thuế GTGT phủ sóng khắp Tây Châu Âu và Mỹ La
tinh. Ngày nay, Thuế GTGT được áp dụng

Theo Luật quản lý thuế Trung Quốc: "Quản lý thuế là một chuỗi các
hoạt động bảo đảm mục tiêu thu ngân sách nhà nước bao gồm: quản lý đăng
ký thuế, quản lý sổ sách chứng từ, quản lý khai báo nộp thuế, truy thu tièn
thuế, kiểm tra thuế và đảm bảo trách nhiệm pháp luật về thuế" [13, tr. 18].
Theo Điều 3 Luật Quản lý thuế hiện hành của Việt Nam liệt kê các nội dung
quản lý thuế gồm:
Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; thủ tục
hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; xóa nợ tiền thuế, tiền phạt; quản lý
thông tin về người nộp thuế; kiểm tra thuế, thanh tra thuế; cưỡng
chế thi hành quyết định hành chính thuế; xử lý vi phạm pháp luật về
thuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế [28].
Luật Quản lý thuế của Trung Quốc và Việt Nam đều đưa ra khái niệm
quản lý thuế dựa trên sự liệt kê các nhiệm vụ quản lý, các hoạt động tổ chức
điều hành của cơ quan thuế.

18


Theo Tổng cục Thuế Latvia cho rằng:
Quản lý thuế là hệ thống các quá trình có mối quan hệ chặt
chẽ nhằm đảm bảo mục tiêu thu thuế đúng, đủ và công bằng trên cơ
sở của pháp luật thuế, bao gồm các hoạt động thu nhận, hồ sơ khai
thuế, tính toán số thuế phải nộp, đôn đốc thu nộp thuế và cung cấp
dịch vụ tư vấn cho người nộp thuế [32, tr. 25].
Theo tài liệu của Viện Nghiên cứu lập pháp - Quốc hội Việt Nam năm
2011: Quản lý thuế là hoạt động quản lý hành chính trong lĩnh vực thuế. Cụ
thể, quản lý thuế là việc tổ chức và điều khiển của các cơ quan có thẩm quyền
đối với cá nhân, doanh nghiệp hay các chủ thể khác nhằm tuân thủ các quy
định của pháp luật thuế [32, tr. 25]. Cùng với sự ra đời của thuế thì quản lý ra
đời như một dạng quản lý của Nhà nước gắn với quyền lực nhà nước, quản lý

quản lý thuế [19, tr. 51].
Pháp luật về nội dung từng sắc thuế là cơ sở, tiền đề để xây dựng và
hoàn thiện pháp luật quản lý thuế trong khi pháp luật quản lý thuế là pháp luật
về tổ chức thực hiện các luật thuế, đưa luật thuế vào cuộc sống, hiện thực hóa
các quy định của luật thuế. Theo cách hiểu này, pháp luật thuế GTGT được
cấu thành từ hai bộ phận chính: Một là các quy định về thuế GTGT gọi là
Luật thuế GTGT, hai là các quy định về quyền, nghĩa vụ của NNT, cơ quan
quản lý thuế và các chủ thể liên quan đến quản lý thuế GTGT; quy định trình
tự thủ tục, cách thức, phương pháp tổ chức thực hiện luật thuế GTGT.
Rõ ràng, luật quản lý thuế GTGT là một bộ phận quan trọng trong
pháp luật thuế GTGT ở các quốc gia, là công cụ chủ yếu được nhà nước sử
dụng để thực hiện công tác quản lý thuế GTGT. Luật Thuế GTGT và Luật
quản lý thuế cùng tham gia điều chỉnh quan hệ giữa cơ quan quản lý thuế với
NNT phát sinh trong quá trình quản lý thu, nộp các loại thuế; quan hệ giữa cơ
quan quản lý thuế với NNT với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan,
quan hệ giữa NNT với các chủ thể khác có liên quan đến việc thực hiện quyền
và nghĩa vụ của NNT, ngoài ra còn quan hệ phát sinh trong nội bộ cơ quan
quản lý thuế. Luật quản lý thuế có phạm vi điều chỉnh các quan hệ xã hội phát

20


sinh trong hoạt động quản lý thuế của Nhà nước, hay nói cách khác là các mối
quan hệ phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện luật các sắc thuế riêng.
Chính vì thế, doanh nghiệp khi tham gia vào quan hệ thuế GTGT sẽ là đối
tượng nộp thuế chịu sự chi phối không chỉ bởi Luật nội dung là luật thuế
GTGT mà còn bởi Luật hình thức là Luật quản lý thuế. Luật Quản lý thuế
hiện hành của Việt Nam liệt kê các nội dung quản lý thuế gồm: Đăng ký thuế,
khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; Thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế;
Xoá nợ tiền thuế, tiền phạt; Quản lý thông tin về người nộp thuế; Kiểm tra

thuế và cơ chế NNT tự tính thuế, hay còn lại là thuế NNT tự khai, tự nộp thuế.
-

Cơ chế cơ quan tính thuế: Theo cơ chế này đòi hỏi cán bộ thuế phải

kiểm tra các tờ khai thuế, các khoản thu dựa trên những số liệu mà cơ quan thuế
có được để xác định số thuế chính thức phải nộp và ra thông báo thuế cho doanh
nghiệp nộp thuế thực hiện. Cơ chế này không khuyến khích NNT tự giác tuân
thủ mà đặt nặng trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế. Vì vậy, hệ thống quản lý
thuế sẽ trở nên cồng kềnh hơn do số lượng cán bộ thuế gia tăng để đáp ứng yêu
cầu ngày càng cao của nền kinh tế, số lượng các doanh nghiệp đóng thuế ngày
càng nhiều. Cơ chế tính thuế này mang tính chất truyền thống khi doanh nghiệp
nộp thuế không được đặt ở vị trí trung tâm, mọi cải cách đều hướng đến nhằm
tăng cường hoạt động của cơ quan quản lý thuế trong việc thu thuế cho NSNN,
doanh nghiệp có vị trí là đối tượng bị quản lý, bị cai trị.
-

Cơ chế tự khai, tự nộp thuế: Khi nền kinh tế thị trường phát triển và

lan rộng ở khắp các quốc gia trên thế giới đồng thời nền dân chủ cũng được
mở rộng, nâng cao và tác động đến nhận thức của doanh nghiệp và cơ quan
thuế. Việc đăng ký, kê khai, nộp thuế không chỉ đơn thuần là nghĩa vụ của đối
tượng là doanh nghiệp nộp thuế mà xét ở góc độ nào đó còn là quyền của đối
tượng nộp thuế: quyền được đăng ký nộp thuế, quyền được kê khai thuế,
quyền được tính thuế, quyền được chủ động nộp thuế vào NSNN. Ngày nay,
doanh nghiệp ngày càng có ý thức nghĩa vụ thuế của mình, vai trò ý nghĩa của
việc nộp thuế đối với NSNN, cơ quan thuế ý thức được chức năng, nhiệm vụ
của mình trong hoạt động quản lý thuế, hệ thống thuế. Do đó, nhiều quốc gia

22

thuế, ép thuế đối với doanh nghiệp mà để doanh nghiệp tự tính và tự nộp thuế
đồng thời tự chịu trách nhiệm với hành vi của mình. Theo cơ chế này, doanh

23


nghiệp được đặt ở vị trí trung tâm, cơ quan quản lý thuế hỗ trợ, hướng dẫn
doanh nghiệp thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của họ đối với nhà nước, đề cao
quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện Luật Thuế GTGT.
Doanh nghiệp tự chủ trong hoạt động kê khai và nộp thuế đồng thời chịu trách
nhiệm đối với hành vi của mình trong từng khâu của việc thực hiện thuế
GTGT. Cơ quan quản lý thuế thực hiện cân bằng giữa hai chức năng: chức
năng phục vụ, cung cấp dịch vụ thuế cho doanh nghiệp và chức năng giám
sát, chức năng quản lý nhà nước, kiểm tra hoạt động tuân thủ pháp luật thuế
đối với doanh nghiệp nộp thuế. Cơ quan thuế không can thiệp vào quá trình
kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp nhưng cơ quan thuế sẽ tiến hành thanh tra,
kiểm tra và áp dụng các biện pháp xử phạt, cưỡng chế theo luật định đối với
những trường hợp có hành vi vi phạm pháp luật về thuế như không nộp thuế,
trốn thuế, gian lận thuế… Áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp thuế này, cơ quan
thuế còn tiết kiệm được chi phí hành chính về thuế, công sức, nguồn nhân lực
khi mà cơ quan thuế không phải gửi hàng triệu thông báo thuế hàng tháng. Cơ
quan quản lý thuế có điều kiện để đầu tư vào chức năng như: hỗ trợ, tư vấn
cho doanh nghiệp, thanh tra, kiểm tra, cưỡng chế về thuế.
Tuy nhiên, áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp có hiệu quả hay không còn
phụ thuộc vào các điều kiện sau:
+

Nhà nước phải có hệ thống thuế thực sự minh bạch, doanh nghiệp

có thể dễ dàng tiếp cận, tìm hiểu chính sách thuế. Đặc biệt các thủ tục như

quản lý thuế nhằm tạo điều kiện thực hiện phương pháp quản lý và phân bổ
nguồn lực phù hợp với những rủi ro về quản lý thuế đối với các nhóm đối
tượng nộp thuế khác nhau, tạo ra sự an toàn cho việc thu ngân sách.
Trong các mô hình quản lý thuế thì mô hình quản lý thuế thì mô hình
quản lý thuế hỗn hợp được áp dụng phổ biến nhất và có nhiều ưu điểm vượt
trội. Mô hình quản lý thuế hỗn hợp là mô hình quản lý kết hợp giữa ba tiêu
chí của ba loại mô hình phía trên. Hiện nay, mô hình quản lý thuế hỗn hợp,
kết hợp giữa hai tiêu chí: chức năng và nhóm đối tượng nộp thuế được áp
dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia tiên tiến trên thế giới.


mô hình quản lý thuế GTGT ở các quốc gia trên thế giới khi tổ

chức theo mô hình quản lý thuế hỗn hợp thường có sự kết hợp giữa tiêu chí
quản lý thuế GTGT theo chức năng và quản lý sắc thuế thuế GTGT theo
nhóm đối tượng nộp thuế. Nhóm đối tượng nộp thuế có thể được phân chia
theo mức độ tuân thủ, đặc điểm của NNT: quy mô, ngành nghề… nhằm giúp

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status