Bảo vệ quyền lợi của cổ đông trong công ty cổ phần chưa niêm yết chứng khoán theo pháp luật Việt Nam - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐINH THỊ KIỀU TRANG BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA CỔ ĐÔNG
TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN CHƢA NIÊM YẾT CHỨNG KHOÁN
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC



LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Viết Tý

HÀ NỘI - 2009 1
MC LC
Trang

Trang ph bỡa Li cam oan Mc lc M U

21
1.2.2.
S cn thit bo v c ụng trong cụng ty c phn
25
1.2.3.
Vai trũ ca bo v c ụng trong cụng ty c phn
28
1.2.4.
Bo v c ụng theo phỏp lut mt s quc gia trờn th gii
29
1.2.5.
Bo v c ụng theo B Nguyờn tc qun tr cụng ty ca OECD
32

Chng 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam vũ bảo vệ cổ
đông trong công ty cổ phần ch-a niêm yết
chứng khoán
43
2.1.
Bo v c ụng trong cụng ty c phn theo Lut Doanh
nghip (2005)
43
2.1.1.
Cỏc quyn ca c ụng
43
2.1.2.
Cụng khai húa cỏc giao dch t li v cỏc li ớch liờn quan
56
63
3.1.1.
Tỡnh trng vi phm cỏc quyn c bn ca c ụng
63
3.1.2.
S lm quyn ca c ụng Nh nc trong cỏc cụng ty c
phn chuyn i t doanh nghip nh nc
65
3.1.3.
S lm quyn ca ngi qun lý xõm phm li ớch c ụng
67
3.1.4.
Bt cp trong cỏch thc thc hin quyn c ụng
70
3.2.
Mt s kin ngh nhm hon thin phỏp lut v bo v c
ụng trong cụng ty c phn cha niờm yt Vit Nam
71
3.2.1.
Kin ngh i vi Lut Doanh nghip nm 2005
72
3.2.2.
Kin ngh i vi cỏc quy nh phỏp lut v c phn húa cụng
ty nh nc
73
3.2.3.
Kin ngh v cỏc vn chung nhm bo v tt quyn ca c
ụng trong cụng ty c phn
74


của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh ngày 20 tháng 7
năm 2000. Tuy nhiên, với đặc điểm là một thị trường non trẻ, các định chế hỗ
trợ cho sự phát triển của thị trường chưa được hình thành một cách đầy đủ và
toàn diện, việc quyền lợi của các nhà đầu tư trên thực tế được bảo vệ như thế 4
nào đang là mối quan tâm hàng đầu không những của cơ quan quản lý mà còn
cả của các nhà đầu tư tiềm năng trong nước cũng như nhà đầu tư nước ngoài.
Trong bối cảnh hiện nay, các công ty cổ phần ngày càng phát triển
nhanh về số lượng, tính đến ngày 30 tháng 6 năm 2009, có 3.894 doanh
nghiệp nhà nước được cổ phần hóa [59], và khoảng hơn 2000 công ty cổ phần
hiện có cổ phiếu đang được giao dịch mạnh trên thị trường chứng khoán
không chính thức (OTC). Nếu vậy thì con số này lớn hơn nhiều so với 437
công ty hiện đang được niêm yết trên Trung tâm Giao dịch chứng khoán
thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh [56]. Do vậy, vấn đề thiết lập
các thể chế và thiết chế hữu hiệu để bảo vệ tốt quyền và lợi ích của nhà đầu tư
càng trở lên cấp thiết.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề làm thế nào để bảo vệ các cổ đông là vấn đề có tính chất quan
trọng, vì việc bảo vệ các cổ đông quyết định đến sự tồn tại và phát triển của
thị trường chứng khoán. Chính vì vậy, việc bảo vệ các cổ đông trong công ty
cổ phần là vấn đề thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà quản lý trên thị
trường cũng như các nhà khoa học kinh tế và đặc biệt là các nhà lập pháp
như: hai tác giả Rafael La Porta, Florencio Lopez-de-silanesb trong các tác
phẩm "Law and Finance" và "Investor Protection and Corporate governence";
Kenneth A.Kim, Pattanaporn Kitsabunnarat với "Shareholder Protection Laws
and Corporate Boards Evidence from Europe". Ngoài ra, còn có các nghiên
cứu về luật công ty và quản trị công ty như Henry Hannsman and Reinier
Kraakman "What is Corporate law" của Benard Black và Reinier Kraakman

Với mục tiêu nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận của
pháp luật về bảo vệ quyền lợi của các cổ đông trong công ty cổ phần chưa
niêm yết chứng khoán. Đặc biệt là các công ty cổ phần hậu cổ phần hóa
doanh nghiệp nhà nước, đánh giá thực trạng pháp luật cũng như tình hình
vi phạm các quyền lợi của cổ đông, trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp 6
nhằm hoàn thiện các quy định về bảo vệ cổ đông nói chung và cổ đông
trong các công ty cổ phần chưa niêm yết chứng khoán nói riêng theo pháp
luật Việt Nam.
Để đạt được mục tiêu trên, luận văn tập trung vào một số vấn đề sau:
- Các vấn đề cơ bản về công ty cổ phần, cổ đông và bảo vệ cổ đông;
- Quy định pháp luật Việt Nam nhằm bảo vệ cổ đông trong công ty cổ
phần hiện nay, đặc biệt là các công ty cổ phần chưa niêm yết trên thị trường
chứng khoán Việt Nam;
- Thực trạng bảo vệ cổ đông trong công ty cổ phần chưa niêm yết
chứng khoán ở Việt Nam. Trên cơ sở thực tiễn, tìm ra một số giải pháp và cơ
chế nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi của các cổ đông cũng như việc hoàn thiện
pháp luật về vấn đề này.
4. Phạm vi nghiên cứu
Quyền lợi của các cổ đông ở trong các công ty cổ phần là một lĩnh vực
rất nhạy cảm và có quan hệ mật thiết với nhiều lĩnh vực: Chính trị, kinh tế -
xã hội và pháp luật. Pháp luật là phương tiện quan trọng để đảm bảo cho các
cổ đông cũng như đảm bảo cho thị trường chứng khoán vận hành ổn định và
phát huy tác dụng. Tuy nhiên, Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu trong khuôn
khổ pháp luật về bảo vệ các quyền lợi của cổ đông ở công ty cổ phần chưa
niêm yết chứng khoán.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở các chủ trương, đường lối của Đảng

Dưới góc độ kinh tế, công ty được hiểu như là các tổ chức chuyên
hoạt động thương nghiệp dịch vụ (để phân biệt với các nhà máy, xí nghiệp là
những đơn vị chuyên sản xuất…).
Dưới góc độ pháp lý, công ty được hiểu là sự liên kết của nhiều người
để tiến hành một công việc với mục đích kiếm lời. Việc chỉ ra một khái niệm
công ty đã được nhiều nhà khoa học đưa ra: "Công ty được hiểu là sự liên kết
của hai hay nhiều cá nhân bằng một sự kiện pháp lý, nhằm tiến hành một mục
tiêu chung nào đó"; hay định nghĩa về Luật công ty là "Luật liên kết các cá
nhân thông qua một sự kiện pháp lý theo luật tư nhằm đạt một mục đích
chung đã xác định" Bộ Luật Dân sự Cộng hòa Pháp quy định "Công ty là một
hợp đồng thông qua đó hai hay nhiều người cùng thỏa thuận với nhau sử
dụng tài khoản hay khả năng của mình vào một hoạt động chung nhằm cùng
chia lợi nhuận thu được qua hoạt động đó".
Theo định nghĩa trên thì công ty có ba đặc điểm cơ bản, đó là: (i) Sự
liên kết của nhiều thành viên (cá nhân, pháp nhân); (ii) Liên kết thông qua
một sự kiện pháp lý (như hợp đồng, điều lệ, quy chế); (iii) Có mục đích chung
(kinh doanh nhằm kiếm lời).
Từ các khái niệm trên, cho thấy khó có thể đưa ra một khái niệm
chung cho tất cả các loại hình công ty có hoạt động kinh doanh vì sự đa dạng
của các loại hình liên kết. Hiện nay trên thực tế, hệ thống luật pháp trên thế 9
giới (trong đó có Việt Nam) đã quy định loại hình công ty trách nhiệm hữu
hạn một thành viên (hay một chủ sở hữu). Tuy nhiên, dấu hiệu sự liên kết vẫn
là đặc điểm cơ bản của các loại hình công ty.
Ở Đức năm 1892, có Luật Công ty trách nhiệm hữu hạn (Luật này
được sửa đổi năm 1980 và vẫn đang có hiệu lực thi hành). Theo Luật công ty
trách nhiệm hữu hạn, các công ty trách nhiệm hữu hạn đã xuất hiện đầu tiên ở
Đức, sau đó được công nhận và phát triển ở Pháp, Italia, Tây Ban Nha, các

công ty đơn giản hơn rất nhiều.
1.1.2. Các loại công ty
• Công ty đối nhân
Công ty đối nhân là những công ty mà thực hiện dựa trên sự tin cậy
của các thành viên về nhân thân, sự góp vốn chỉ là thứ yếu. Công ty đối nhân
có đặc điểm rất quan trọng là không có sự tách biệt về tài sản của cá nhân
thành viên và tài sản của công ty. Các thành viên hoặc ít nhất một thành viên
công ty phải chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của công ty. Các công
ty đối nhân có thể tồn tại dưới dạng sau:
- Công ty hợp danh, là loại hình công ty mà tất các thành viên đều
phải chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của công ty.
- Công ty hợp vốn đơn giản, là các loại hình công ty có ít nhất một
thành viên chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ, các thành viên khác, chỉ
chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số vốn góp vào công ty.
- Công ty nặc danh, là loại hình công ty mà các thành viên nhận vốn
để kinh doanh phải chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của công ty, các
thành viên góp vốn (nặc danh) chỉ có trách nhiệm góp vốn cho các thành viên
nhận vốn, được hưởng một phần lợi nhuận của công ty và không phải chịu
trách nhiệm về nợ của công ty.
Công ty đối nhân không có sự tách bạch về tài sản của công ty và tài
sản của thành viên công ty và chịu trách nhiệm vô hạn. Vì vậy, luật pháp của 11
hầu hết các nước đều quy định các công ty đối nhân không phải là pháp nhân,
nhưng khác với các cá nhân ở chỗ khi giao dịch các thành viên đều nhân danh
tên hãng chung của công ty. Các thành viên công ty chịu trách nhiệm vô hạn
phải có quyền cùng nhau điều hành hoạt động của công ty và cùng có quyền
đại diện cho công ty. Thông thường các quyết định của công ty phải được sự
đạig ý của tất cả các thành viên chịu trách nhiệm vô hạn, mỗi thành viên đều

cách cá nhân của các thành viên của công ty, mà chỉ quan tâm đến phần vốn
góp của thành viên và công ty. Đặc điểm quan trọng của các loại hình công ty
này là công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản của
công ty. Các thành viên công ty chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi
vốn góp của mình vào công ty. Các công ty đối vốn có những đặc điểm như:
(i) Công ty đối vốn là pháp nhân có tài sản khác biệt với tài sản của các thành
viên công ty; (ii) Công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty
bằng tài sản của công ty. Các thành viên chỉ chịu trách nhiệm bằng phần vốn
tham gia vào công ty; (iii) Khi liên kết, các thành viên không quan tâm đến tư
cách cá nhân thành viên công ty mà chỉ quan tâm đến phần vốn góp mà họ
tham gia vào công ty; (iv) Thành viên công ty dễ dàng thay đổi; (v) Các quy
định bắt buộc của pháp luật nhiều hơn so với công ty đối nhân.
Công ty đối vốn có nhiều ưu điểm, nó được người kinh doanh ưa
chuộng, vì chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn. Điều đó tạo cho người kinh
doanh sẵn sàng đầu tư vào các khu vực có nhiều rủi ro lớn và khả năng họ
phân tán vốn đầu tư vào nhiều cơ sở kinh doanh khác nhau. Công ty đối vốn
cũng tạo điều kiện cho những người không hiểu biết về kinh doanh cũng có
thể tham gia vào hoạt động kinh doanh của công ty. Công ty đối vốn tạo ra
khả năng để cho các nhà kinh doanh giỏi có thể huy động số vốn đầu tư lớn
và mục đích mở rộng kinh doanh. Mặt khác, công ty đối vốn ra đời là cơ sở
cho thị trường vốn phát triển, các nguồn vốn trong xã hội dễ dàng được tập
trung đúng vào các khu vực cần thiết của nền kinh tế… 13
Bên cạnh các ưu điểm trên, công ty đối vốn cũng có những nhược
điểm: Do chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn bằng tài sản đối với các khoản nợ, nên
công ty đối vốn dễ dàng gây rủi ro cho các chủ nợ, đặc biệt là ngân hàng. Mặt
khác, công ty chỉ quan tâm đến phần vốn của các thành viên mà không quan
tâm đến tư cách cá nhân của các thành viên và số lượng thành viên thì rất

công ty.
Căn cứ vào các quy định của pháp luật thì có thể đưa ra nhiều điểm
khác nhau giữa hai loại hình công ty này. Tuy nhiên, đặc điểm khác nhau cơ
bản nhất và quyết định đến các tính chất khác nhau của hai loại công ty này là
mức độ "đóng" của công ty đối với sự ra nhập của các nhà đầu tư khác. Công
ty đóng thường được thành lập bởi các thành viên trong một gia đình hoặc
trong một nhóm người có sự quen biết, tin cậy lẫn nhau. Vấn đề ở đây là họ
không muốn trao quyền quản lý công ty cho người khác. Đối lập với công ty
đóng, công ty mở bán cổ phần của mình cho cả nhà đầu tư mà họ thậm chí
không mấy quan tâm đến công ty này. Phần lớn các công ty có quy mô lớn
trên thế giới đều là công ty mở.
1.1.3. Khái niệm về công ty cổ phần theo pháp luật một số nƣớc
trên thế giới
Các công ty cổ phần đầu tiên trên thế giới ra đời vào khoảng thế kỷ
XVIII. Tuy nhiên, cho đến thế kỷ XIX còn rất hiếm. Quá trình tập trung tư
bản đã phát triển ở mức độ cao và nhất là sau khi có sự bùng nổ luật pháp của
các cuộc cách mạng công nghiệp và đếm đến sự hình thành các loại công ty
cổ phần. Cho đến giữa Thế kỷ XIX, công ty cổ phần đã phát triển mạnh mẽ và
rộng khắp trên các nước tư bản nhờ sự phát triển của nền đại công nghiệp cơ
khí và sự phát triển rộng rãi chế độ tín dụng.
Công ty cổ phần được pháp luật của nhiều quốc gia quan tâm điều
chỉnh. Mặc dù khái niệm về cổ phần được tiếp cận từ nhiều phương diện
khác nhau. 15
Ở Pháp, công ty cổ phần được gọi là công ty vô danh, ở đó phải có ít
nhất 7 cổ đông, với vốn pháp định tối thiểu là 25.000FF (đối với các công ty
không phát hành chứng khoán), còn 1.500.000FF (đối với công ty phát hành
chứng khoán), mệnh giá thống nhất mỗi cổ phiếu là 100FF. Các cổ đông có

(Public corporation), trong đó công ty mở có đặc điểm pháp lý giống như
công ty hữu hạn ở Anh và Úc [33].
Pháp luật của các nước khác nhau trên thế giới có quy định phong
phú và đa dạng về công ty cổ phần bởi pháp luật của mỗi nước được hình
hình trên cơ sở nguồn gốc lịch sử và điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau. Tuy
nhiên, dù tiếp cận dưới góc độ nào thì pháp luật của các quốc gia cũng đều
ghi nhận những đặc điểm pháp lý cơ bản tương đối thống nhất về công ty cổ
phần như: (i) Công ty cổ phần là một tổ chức có tư cách pháp nhân độc lập;
(ii) Người góp vốn vào công ty chịu trách nhiệm hữu hạn; (iii) Phần vốn góp
vào công ty (cổ phần) về cơ bản được tự do chuyển nhượng; (iv) Công ty
được quản lý tập trung; (v) Công ty cổ phần có cấu trúc vốn linh hoạt, mang
tính xã hội hóa cao.
Trong cấu trúc vốn của công ty cổ phần, phần vốn quan trọng nhất là
vốn điều lệ. Vốn điều lệ được chia thành các loại cổ phần, các cổ phần được
tự do chuyển nhượng (trừ trường hợp pháp luật và điều lệ công ty không cho
phép). Trong quá trình hoạt động, công ty cổ phần được phép phát hành các
loại chứng khoán ra thị trường để công khai huy động vốn trong dân chúng,
điều này tạo ra khả năng huy động vốn lớn, cũng như tính xã hội hóa cao của
công ty cổ phần.
Tư cách pháp nhân của công ty cổ phần:
Công ty cổ phần là một thực thể có tư cách pháp nhân độc lập. Ở Mỹ,
pháp nhân được định nghĩa là "Một thực thể, không phải là con người tự
nhiên, nhưng có thể hoạt động, có thể đi kiện hoặc bị kiện" [52]. Pháp luật 17
Việt Nam dùng "nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách
độc lập" [37]. Công ty cổ phần tách bạch khỏi những người đã góp vốn thành
lập nên nó. Khi cổ đông đã góp tài sản vào công ty, công ty trở thành chủ sở
hữu đối với tài sản, cổ đông không còn quyền sở hữu đối với tài sản đó nữa.

Khả năng tự do chuyển nhượng cổ phần của cổ đông còn tạo ra một
sức ép lành mạnh cho bộ máy quản lý, điều hành của công ty phải hoạt động
hiệu quả nếu không muốn bị thay thế.
Quản lý tập trung và thống nhất:
Nếu tất cả cổ đông cùng có quyền quản lý như thành viên trong công
ty trách nhiệm hữu hạn, thì sẽ không hiệu quả về mặt kinh tế cũng như không
khả thi. Hơn nữa, đa số cổ đông chỉ mong đợi hưởng cổ tức hoặc hưởng lãi
vốn (từ việc bán cổ phiếu khi tăng giá) chứ ít quan tâm đến quản lý kinh
doanh và cũng không có khả năng quản lý. Vì thế, các cổ đông cần một đội
ngũ chuyên nghiệp để quản lý công ty. Đồng thời, cũng cần có cơ chế để kiểm
soát hoạt động của bộ máy đó đi đúng quỹ đạo hướng đến mục tiêu tối đa hóa
lợi nhuận của cổ đông và công ty.
Ngoài ra, công ty cổ phần còn có đặc trưng riêng là có thể phát hành
chứng khoán (cổ phiếu) để huy động vốn. Lịch sử hình thành và phát triển của
công ty cổ phần cho ta thấy đây là phương thức huy động vốn cao nhất của
loài người. Theo Các Mác "không có công ty cổ phần thì không có nền đại
công nghiệp", với các ưu điểm trên, công ty cổ phần đang và sẽ trở thành loại
hình doanh nghiệp phổ biến nhất trong thế giới hiện đại.
Công ty cổ phần có khả năng thu hút nguồn vốn lớn từ công chúng
bằng việc phát hành chứng khoán nhằm huy động vốn. Bằng cách này, công
ty có thể huy động được số lượng vốn lớn, do mở rộng đối tượng huy động,
đồng thời giảm được chi phí vào việc huy động vốn, nhờ việc tiếp cận trực
tiếp (không phải gián tiếp qua ngân hàng) với người đầu tư. Điều này cũng 19
đáp ứng được nhu cầu cạnh tranh và tạo ra được những thời cơ cũng như cơ
hội kinh doanh cho công ty.
Hơn nữa, nền kinh tế càng phát triển thì cũng phát sinh nhiều ngành
nghề và lĩnh vực kinh doanh mới với công nghệ kỹ thuật cao, có khả năng tạo

đồng lợi (Công ty nặc danh). Trong hội vốn chia thành hai loại là hội vô danh
(Công ty cổ phần) và hội hợp cổ (Công ty hợp vốn đơn giản cổ phần) trong
luật này không có công ty trách nhiệm hữu hạn.
Từ sau 1954, đất nước bị chia làm hai miền, do đó có hai hệ thống
pháp luật khác nhau. Ở miền Bắc bắt đầu xây dựng một nền kinh tế tập trung -
kế hoạch hóa với hai thành phần kinh tế chủ yếu là quốc doanh và tập thể, do
đó công ty không phát triển không có luật công ty. Luật kinh tế tập trung vào
khu vực kinh tế quốc doanh và các hợp tác xã [41].
Như vậy, ở Việt Nam Luật Công ty ra đời muộn và chưa phát triển.
Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986 đề ra đường lối đổi mới, xây
dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự điều
tiết của nhà nước đã tạo điều kiện cho các công ty ra đời. Thực tế từ những
năm 1986 đến 1990, đã chứng minh sự đúng đắn trong việc đổi mới cơ chế
quản lý kinh tế này.
Ở nước ta, do ảnh hưởng của nền kinh tế Liên Xô và Đông Âu xây
dựng theo mô hình tổ chức quản lý thống nhất từ trung ương tới cơ sở doanh
nghiệp với cơ chế gắn chặt bộ máy của Đảng, đoàn thể quần chúng và Nhà
nước, lấy tinh thần làm chủ tập thể trên cơ sở động viên chính trị làm chính.
Do vậy, bộ máy điều hành từ Trung ương đến các doanh nghiệp trên cơ sở kế
hoạch hóa tập trung bao cấp, lao động được coi có cơ sở kế hoạch hóa tập
trung bao cấp, lao động được coi có tính chất xã hội trực tiếp, Nhà nước thu
tất cả và chi tất cả. Với tiền đề trên, mỗi doanh nghiệp quốc doanh có nhiệm
vụ sản xuất được chuyên môn hóa theo ngành kinh tế - kỹ thuật; Giám đốc chỉ
biết điều hành sản xuất và lo giao nộp sản phẩm đúng số lượng và thời gian 21
quy định không cần biết đến nó được tiêu thụ ra sao (việc tiêu thụ hàng hóa
trong nước là do các công ty thương nghiệp, hoặc công ty vật tư, công ty
lương thực… đảm nhiệm; còn hàng hóa xuất khẩu thì do các cơ quan xuất

chứng nhận đăng ký kinh doanh;
(3) Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy
động vốn.
1.1.5. Công ty cổ phần niêm yết chứng khoán và công ty cổ phần
chƣa niêm yết chứng khoán
Trong các cách phân loại công ty cổ phần, cách phân thành công ty cổ
phần niêm yết chứng khoán và công ty cổ phần chưa niêm yết chứng khoán
có nhiều ý nghĩa hơn cả.
• Công ty cổ phần niêm yết chứng khoán
Công ty cổ phần niêm yết là công ty được Ủy ban Chứng khoán cho
phép đưa chứng khoán vào danh mục chứng khoán có đủ tiêu chuẩn giao dịch
tại thị trường giao dịch tập trung (Sở giao dịch chứng khoán). Công ty niêm
yết phải tuân thủ kỷ luật chặt chẽ của thị trường giao dịch chứng khoán, đặc
biệt là chế độ công bố thông tin khi đăng ký niêm yết, công bố thông tin định
kỳ và bất thường cho mọi nhà đầu tư và cổ đông trong công ty. Trong công ty
cổ phần niêm yết chứng khoán, cổ đông được cung cấp nhiều công cụ để bảo
vệ quyền lợi của mình hơn: Cổ đông dễ dàng thực hiện giao dịch bán chứng
khoán nhằm chuyển quyền sở hữu cổ phần, tiếp cận thông tin nhiều hơn.
Ngoài ra, có cả thiết chế của Ủy ban Chứng khoán hoạt động vì mục tiêu là
bảo vệ nhà đầu tư.
• Công ty cổ phần chưa niêm yết chứng khoán
Công ty cổ phần chưa niêm yết chứng khoán, các yêu cầu về công
khai thông tin "nhẹ nhàng" hơn. Tuy vậy, luật công ty đảm bảo cổ đông 23
được cung cấp những thông tin cơ bản về tình hình tài chính, hoạt động của
công ty.
Công ty cổ phần chưa niêm yết chứng khoán là loại hình công ty vốn tiềm
ẩn trong đó nhiều yếu tố bất ổn và tồn tại ngoài ý muốn chủ quan của các cổ đông.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status