Bài 4: Lý thuyết chung về doanh nghiệp
89
Mục tiêu Các kiến thức cần có
• Hiểu những khái niệm kinh tế liên quan
đến loại hình doanh nghiệp, hạch toán
kinh tế doanh nghiệp
• Biết tính toán các chỉ tiêu kinh tế chính:
Doanh thu, lợi nhuận, chi phí
• Hiểu những quy luật kinh tế cơ bản chi
phối sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp
• Hiểu để xem xét những nhân tố cơ bản
quyết định đến những sự lựa chọn tối
ưu trong kinh doanh của doanh nghi
ệp
• Hiểu sự khác nhau cơ bản về những
quyết định của doanh nghiệp trong ngắn
hạn và dài hạn Thời lượng học
• 10 tiết
• Đọc tài liệu
• Làm bài tập
Bài 4: Lý thuyết chung về doanh nghiệp
91Nhà cung cấp
Doanh nghiệp
Nếu như bài 3 đã phân tích về hành vi của người tiêu dùng để từ đó hiểu rõ hơn cầu thị
trường thì bài 4 tập trung phân tích các vấn đề liên quan đến những hành vi chung nhất của
các doanh nghiệp để từ đó hiểu rõ hơn về cung thị trường đã được trình bày tại bài 2.
4.1. Giới thiệu chung về doanh nghiệp
Trong Kinh tế Vi mô, khái niệm doanh nghiệp được
hiểu là người sản xuất hay nhà cung cấp. Trước khi thảo
luận về hành vi của doanh nghiệp, chúng ta cần nắm
Khái niệm doanh nghiệp được nghiên cứu từ rất sớm và được trường phái tân cổ điển lần
đầu tiên tập trung nghiên cứu chi tiết. Trường phái này cho rằng, doanh nghiệp đơn thuần là
một thực thể trừu tượng có trách nhiệm hoàn thành vai trò kỹ thuật của mình là chuyển các
nguồn lực đầ
u vào thành đầu ra, cung ứng cho thị trường. Sau này, thực tế cho thấy rằng các
doanh nghiệp không chỉ đơn thuần thực hiện nhiệm vụ kỹ thuật mà nhiệm vụ chính là tối đa
hóa lợi nhuận. Các vấn đề này được các nhà kinh tế học vi mô hiện đại thảo luận trong một
loạt các lý thuyết về doanh nghiệp. Mục tiêu các lý thuyết này là dự đoán hành vi của các
doanh nghiệp. Như vậy, khi xem xét một doanh nghiệp c
ần phải chú ý tới sự phân phối và
Bài 4: Lý thuyết chung về doanh nghiệp
92
Doanh nghiệp Nhà nước
liên kết các nguồn lực của doanh nghiệp trong việc sản xuất và cung ứng hàng hóa cho thị
trường nhằm đảm bảo mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.
Nói tóm lại, sản xuất được tổ chức ở các doanh nghiệp bởi vì tính hiệu quả đòi hỏi phải
chuyên môn hoá, hiện đại hoá và liên kết sản xuất thì hiệu quả kinh doanh sẽ cao hơn.
Phân biệt một số thuật ngữ về doanh nghiệp trong tiếng Anh
• Firm: Là một dạng công ty kinh doanh chuyên cung cấp các sản phẩm mang tính chuyên sâu
cao, như các dịch vụ tài chính, bảo hiểm v.v…
• Company: Là một tổ chức sản xuất, kinh doanh bán hàng hóa và dịch vụ, đặc biệt là những
hàng hóa có bản quyền trong một nước cụ thể và do các hộ gia đình sở hữu.
• Corporation: Tập đoàn.
•
Business: Là thuật ngữ chỉ công việc kinh doanh nói chung, hoặc dùng để chỉ các tổ chức
chuyên tổ chức và kinh doanh bán hàng.
không được phát hành cổ phiếu trên thị trường.
Bài 4: Lý thuyết chung về doanh nghiệp
93
Sàn giao dịch HASTC
Doanh nghiệp lớn
thị trường chứng khoán. Ở Việt Nam là sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội (HASTC), và
sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE). Các cổ đông có quyền kiểm
soát công ty theo số phần trăm cổ phần nắm giữ. Các cổ đông cao cấp quyết định vận mệnh
công ty gọi là Hội đồng quản trị. Đứng đầu Hội đồng quản trị là Chủ tịch công ty, hay Chủ
tịch hội đồng quản tr
ị, người có số cổ phần ủng hộ từ chính mình và từ người khác là cao
nhất trong công ty. Các công ty cổ
phần thường thuê các Giám đốc điều
hành để điều hành kinh doanh. Tất cả
các thông cáo báo chí cũng như hoạt
động đều do nhà quản lý trực tiếp
thực hiện và báo cáo lại với Hội đồng
quản trị. Như vậy người quản lý sẽ
điều hành công ty, còn các cổ đông thì
s
ở hữu công ty.
Các công ty cổ phần nếu chỉ kinh
doanh một ngành nghề, và một công
ty thì gọi là công ty cổ phần. Nhưng
nếu các công ty này kinh doanh đa
ngành nghề, và phân thành nhiều các
94
4.1.2.3. Doanh nghiệp quy định trong luật doanh nghiệp Việt Nam
Trong phần trên chúng ta đã giới thiệu khái quát mọi loại hình doanh nghiệp trên thế giới
cũng như tại Việt Nam. Phần này sẽ giới thiệu về các loại hình doanh nghiệp cụ thể ở Việt
Nam theo luật doanh nghiệp. Tuy nhiên, chi tiết có thể tìm hiểu trong luật doanh nghiệp,
luật doanh nghiệp Nhà nước. Ở đây chỉ nêu một số nét khác biệt về các loại doanh nghiệp
Việt Nam.
Đó là các loại hình hợp tác xã, các doanh nghiệp Nhà n
ước, các công ty cổ phần Nhà nước
chiếm cổ phần chi phối. Với loại hình hợp tác xã, trên thế giới cũng tồn tại loại hình này,
tuy nhiên ở Việt Nam, hợp tác xã thực chất là một cơ sở sản xuất kinh doanh từ góp vốn của
mọi thành viên tham gia lao động sản xuất. Vốn góp của mọi thành viên đều bằng nhau, cho
nên các xã viên đều có một phiếu biểu quyết như nhau trong hợp tác xã. Chú ý rằng hợp tác
xã không
được phát hành cổ phiếu. Một loại hình doanh nghiệp đặc biệt khác là doanh
nghiệp Nhà nước. Loại hình này do Nhà nước đứng ra làm chủ 100% vốn sở hữu. Có thể đó
là công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước 1 thành viên, nhiều thành viên, nhưng Nhà nước
làm chủ 100% tài sản. Bên cạnh đó còn có loại hình Tổng công ty Nhà nước. Ví dụ như
Tổng Công ty Điện lực. Tổng công ty Nhà nước là một doanh nghiệp Nhà nước nắm 100%
vốn chủ sở h
ữu, quản lý một nhóm các công ty con. Các tổng công ty chủ yếu chỉ kinh
doanh trong phạm vi một ngành.
Khi cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước, chúng ta có các công ty cổ phần, nhiều công
ty (tập đoàn) đã cổ phần hoá nhưng Nhà nước vẫn nắm giữ trên 51% vốn chi phối. Do vậy
sở hữu vẫn thuộc về Nhà nước, Nhà nước là một cổ đông đặc biệt và lớn nhất. Đây cũng là
sự khác biệt của các công ty c
ổ phần loại này với các công ty cổ phần của các nước khác.
4.2. Lý thuyết sản xuất
các trang thiết bị sản xuất, v.v…
Cụ thể hơn, đầu vào lao động bao gồm lao
động lành nghề (như kỹ sư), và các lao động
không lành nghề (như lao động nông
nghiệp), và các nhà quản lý doanh nghiệp.
Bên cạnh lao động, các doanh nghiệp cần có
nguyên nhiên liệu sản xuất. Đó là sắt, thép,
điện, nước và các loại hàng hóa khác mà
doanh nghiệp mua và sử dụng để chuyển hóa
thành sản phẩm cuối cùng. Đầu vào cuối
cùng là vốn của doanh nghiệp. Vốn của
doanh nghiệp bao gồm nhà cửa, trang thiết bị
sản xuất, tiền tệ, hay tài sản trí tuệ của công ty như phát minh sáng chế, v.v… Ba loại hình
đầu vào chính này kết hợp với nhau tạo thành quá trình sản xuất của doanh nghiệp.
4.2.1.2. Công nghệ sản xuất
Khi sản xuất hàng hóa, doanh nghiệp sử dụng
kết hợp đầu vào trong quá trình sản xuất để
tạo ra sản phẩm. Mối quan hệ giữa đầu vào và
đầu ra sản xuất được Kinh tế học phản ánh
qua việc lập ra các hàm sản xuất. Hàm sản
xuất là hàm số biểu thị mối tương quan giữa
sản lượng đầu ra (Q) mà doanh nghiệp sản
xuất thay đổi như thế nào khi các “biến s
ố”
yếu tố đầu vào (X1, X2,…Xn.) thay đổi trong
một trình độ công nghệ nhất định.
Một hàm sản xuất với nhiều yếu tố đầu vào
khác nhau có dạng:
Q = f(X
1
Sản xuất ngắn hạn
Khi nghiên cứu hàm sản xuất, kinh tế học đưa ra giả thiết: Hàm sản xuất phản ánh một quá
trình sản xuất có hiệu quả mà trong đó kỹ thuật sản xuất là khả thi và sự kết hợp đầu vào
thành đầu được thực hiện theo phương án có hiệu quả nhất có thể. Trên thực tế điều này
không phải luôn đúng nhưng lại hữu ích với kỳ vọng các doanh nghiệp luôn tìm cách nhậ
n
lợi nhuận mà không lãng phí các nguồn lực của họ.
4.2.1.3. Sản xuất ngắn hạn và sản xuất dài hạn
Hai yếu tố lao động và vốn ảnh hưởng nhiều tới sản xuất. Có thể nói khi hai yếu tố này thay
đổi (chất lượng, năng lực) thì hàm sản xuất cũng thay đổi theo. Thế nhưng, sự thay đổi của
các yếu tố sản xuất lại bị ảnh hưởng bởi các nhân tố khác như khả năng huy động vốn, mức
lương trả cho công nhân viên, thời gian sử dụng tài sản,
điều kiện tự nhiên, v.v... Kinh tế
học dùng khái niệm “sản xuất trong ngắn hạn và dài hạn” dựa trên sự thay đổi các yếu tố
đầu vào.
• Sản xuất trong ngắn hạn là khoảng thời gian mà trong đó một hay nhiều yếu tố của
sản xuất chưa thay đổi. Các yếu tố
không thay đổi trong ngắn hạn
(trong nhiều chu kỳ sản xuất) được
gọi là các yếu t
ố đầu vào cố định.
Ví dụ: Tại nhà máy, trang thiết bị
lắp đặt trong nhà máy đôi khi sau
nhiều năm mới thay thế. Trong ngắn
hạn doanh nghiệp có thể thay đổi
được cường độ sử dụng nhà máy,
máy móc để sản xuất, nhưng chi phí
đầu tư cho chúng thì không cần phải
chi thêm. Trong ngắn hạn, các yếu
Hàm sản xuất ngắn hạn thể hiện mối quan hệ giữa đầu ra với các yếu tố đầu vào biến đổi
trong điều kiện có các đầu vào và công nghệ chưa
thay đổi. Ở đây chỉ xét trường hợp vốn cố định,
nhưng yếu tố lao động lại biến đổi, do đó doanh
nghiệp có thể sản xuất nhiều hàng hóa hơn khi tăng
lượng lao
động. Hãy tưởng tượng rằng bạn đang
quản lý một nhà máy may. Nhà máy có nhà xưởng
và một lượng trang thiết bị cố định, nhưng bạn có thể
thuê thêm nhiều hơn hay ít hơn nhân công để may và
vận hành máy móc. Trường hợp này là sản xuất
trong ngắn hạn. Nhà máy cần thuê thêm bao nhiêu
công nhân, và sản xuất thêm bao nhiêu bộ quần áo?
Để đưa ra quyết định, bạn sẽ cần biết sản lượng tăng
lên là bao nhiêu khi tăng lao động
đầu vào. Trong phần tiếp theo chúng ta sẽ phân tích một
ví dụ cụ thể về hàm sản xuất ngắn hạn có biến số đầu vào là lao động, ký hiệu: Q = f(L).
4.2.2.2. Mối quan hệ giữa tổng sản phẩm (Q), sản phẩm bình quân (AP) và sản phẩm
cận biên (MP)
Bảng 4.1: Sản xuất với một đầu vào thay đổi (Tính cho 1 tháng sản xuất)
Số lao
động (L)
(1)
Số vốn
(K)
(2)
Tổng sản phẩm
(Q)
(3)
Sản phẩm bình
nhưng sau đó giảm dần. Sau khi đã có 8 lao động, nếu
tăng tiếp lao động thì tổng sản lượng đầu ra lại có xu
hướng giảm dần. Vì sao lại như vậy? Ta thấy khi lao
động đang ít, thì không sử dụ
ng được hết công suất
máy móc và cơ sở vật chất của xưởng. Nhưng sau khi
đã sử dụng hết công suất máy móc (trong ví dụ là khi
có 8 công nhân), việc tăng thêm lao động chỉ làm
chậm lại quá trình sản xuất và làm giảm hiệu quả sử
dụng các nguồn lực khác. Cho nên tổng sản lượng đầu
ra giảm dần.
Sản phẩm bình quân và sản phẩm cận biên
Kinh tế học cần đánh giá hiệ
u quả sử dụng lao động và
các nguồn lực khác trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp bằng cách tính các chỉ tiêu
năng suất. Đó là “sản phẩm bình quân” và “sản phẩm cận biên” theo lao động hay theo
nguồn đầu vào mà ta muốn tính như vốn (K), v.v…
Ví dụ: Cột thứ tư trong bảng 4.1 là số liệu về sản phẩm bình quân theo lao động (APL). Sản
phẩm bình quân là số lượng sản phẩm trên mỗi đơn vị đầu vào. APL đượ
c tính bằng tỉ số
giữa tổng sản phẩm (hay còn gọi là tổng sản lượng) Q trên tổng đầu vào lao động L. Trong
ví dụ, sản phẩm bình quân tăng dần nhưng sau đó lại giảm dần khi đầu vào lao động tăng
lên trên 4.
Cột (5) ghi giá trị sản phẩm cận biên theo lao động MPL. Sản phẩm cận biên của một đầu
vào là phần sản lượng đầu ra tăng thêm khi tăng thêm một đơn vị
đó. Trong ví dụ, sản phẩm
cận biên theo lao động được viết là MPL và tính bằng ∆Q/∆L, với mức vốn cố định tại
10 đơn vị, khi lao động tăng từ 2 lên tới 3, tổng sản lượng đầu ra tăng từ 30 lên 60, tức là
tăng thêm 30 đơn vị – 30 sản phẩm do người lao động thứ ba mới được thuê vào làm gia
tăng sản lượng. Giống như sản phẩm bình quân, sản ph
99
4.2.2.3. Đồ thị đường TP, AP, MP
Hình 4.1. Sản xuất với một đầu vào (L) biến đổi
Khi tất cả đầu vào ngoài lao động không đổi, đường tổng sản lượng trong phần (a) thể hiện
mức sản lượng được sản xuất ra với mỗi lượng lao động đầu vào khác nhau. Sản phẩm bình
quân và sản phẩm cận biên ở phần (b) phát sinh trực tiếp từ đường tổng sản phẩm. Vì ta
thấy, tại phần (a), sản phầm bình quân theo lao động là độ dốc của đường thẳng nố
i từ gốc
đồ thị với điểm tương ứng trên đường tổng sản phẩm, còn sản phẩm biên là độ dốc của
đường tiếp tuyến tại điểm ta cần tìm trên đường tổng sản phẩm.
Dựa trên bảng 4.1, chúng ta vẽ đồ thị để phân tích dạng đồ thị và mối quan hệ giữa các
đường này với nhau. Đồ thị 4.1a cho thấy sản lượng đầu ra /tháng (outputs per month or
total products) t
ăng lên cho tới khi đạt tới ngưỡng 112 đơn vị sản phẩm và sau đó lại đi
xuống, giảm dần về số lượng. Điểm uốn D tại mức lao động (labor) là 8 là giao giữa phần
tăng lên và giảm xuống về sản lượng. Như vậy, phần đồ thị đi lên tới điểm D là hàm sản
xuất thường có trong thực tế của các quá trình sản xuất. Sau
điểm D thường các doanh
nghiệp sẽ xem xét và không tăng thêm đầu vào L nữa nên trong thực tế hàm sản xuất (total
product) thường dừng lại tại điểm D – điểm tối đa về sản lượng.
Bài 4: Lý thuyết chung về doanh nghiệp
100Quy luật lợi tức giảm dần
Như trên ta thấy, sản phẩm biên theo lao động giảm dần khi ta tăng dần sử dụng lao động.
Điều này xuất hiện đối với mọi đầu vào khác trong mọi
quá trình sản xuất. Thuật ngữ “Quy luật lợi tức giảm dần”
thường được sử dụng để mô tả hiện tượng đó.
Nội dung quy luật như sau: Khi tăng thêm một đầu vào
(với các đầu vào khác c
ố định), thì tới một thời điểm nào
đó, việc tiếp tục tăng thêm đầu vào đó sẽ làm cho sản
lượng đầu ra giảm dần.
Ví dụ: Khi lao động đang ít (vốn cố định), việc tăng thêm
lao động sẽ giúp tăng thêm sản lượng đầu ra do có thêm
nhân công bổ sung vào các vị trí đang thiếu. Tuy nhiên,
không thể tiếp tục tăng thêm nhân công mãi bởi khi có quá
nhiều lao động không đủ đầu vào khác, thiế
u thiết bị vật tư, nhà máy có diện tích chật hẹp,
v.v… sẽ làm chậm quá trình tăng sản phẩm đầu ra. Nếu sản phậm cận biên giảm xuống dưới
không thì cũng tức là tổng sản lượng sẽ thực sự giảm xuống.
Quy luật lợi tức giảm dần thường được áp dụng cho phân tích ngắn hạn bởi vì theo định
nghĩa thì có ít nhất một đầu vào cố định. Tuy nhiên c
ũng có thể áp dụng quy luật này cho
phân tích dài hạn. Mặc dù tất cả các yếu tố đầu vào cho sản xuất đều biến đổi trong dài hạn,
Bài 4: Lý thuyết chung về doanh nghiệp
101
một nhà quản lý vẫn có thể muốn phân tích lựa chọn sản xuất cho một hay nhiều đầu vào
không thay đổi. Giả định rằng có sự mở rộng quy mô nhà máy đang hoạt động hay xây thêm
một nhà máy tương tự, khi đó nhà quản lý phải quyết định lựa chọn xây phương án nào?
Quy luật này sẽ giúp nhà quản lý để đưa ra quyết định lựa chọn tối ưu hơn.
Hình 4.2. Hiệu quả của việc cải thiện kỹ thuật
Năng suất lao động có thể được tăng lên nếu có nhiều cải thiện trong kỹ thuật, ngay trong
quá trình sản xuất mà có sự ảnh hưởng của quy luật lợi tức giảm dần. Qua thời gian, sản
xuất thường dịch chuyển từ điểm A của đường O1 tới điểm B của đường O2 và tới C của
đường O3, năng suất lao động tăng dần.
Ta thấy: S
ự nâng lên của đường tổng sản phẩm đã làm ẩn đi sự có mặt của quy luật lợi tức
giảm dần. Trong dài hạn, việc liên tục nâng cao kỹ thuật sẽ càng làm tăng nguy cơ xảy ra lợi
tức biên giảm dần. Lao động trong xã hội không phải lúc nào cũng đáp ứng được những yêu
cầu cao về kỹ thuật, và đôi khi sự bùng nổ kỹ thuật khiến cho lượng lao
động được thuê
Bài 4: Lý thuyết chung về doanh nghiệp
102
tăng nhanh hơn sự tăng trưởng kỹ thuật. Khi đó, việc vượt quá mức sản lượng tối đa là điều
tất yếu. Các đường tổng sản lượng về sau càng có khả năng suy giảm sản lượng nhiều hơn
so với các đường thấp hơn trước đó. Do vậy, khi xảy ra suy giảm về sản lượng do quá nhiều
lao động có thể dẫn tới sự
sụt giảm một lượng lớn hàng hóa, gây ra lãng phí xã hội rất lớn.
4.2.3. Hàm sản xuất dài hạn (hàm sản xuất có 2 yếu tố đầu vào thay đổi)
Đến đây chúng ta đã kết thúc việc phân tích hàm sản xuất trong ngắn hạn. Chúng ta bắt đầu
phân tích các ảnh hưởng tới sản xuất trong dài hạn. Các phân tích sẽ được thể hiện qua hàm
sản xuất dài hạn. Như trên đã nói, sản xuất trong dài hạn là thời gian mà khi đó mọi yếu tố
đầu vào đều có thể thay đổi (giả định sản xuất sử dụng 2 yếu tố đầu vào là lao động và vốn
và cả hai đầu vào này đều thay đổi). Trong phần này, chúng ta sẽ bắt đầu với việc phân tích
các đường đồng lượng. Tiếp đó là về tỉ lệ thay thế kỹ thuật cận biên, hiệu suất quy mô và
103
Vẽ số liệu trong Bảng 4.2 trên đồ thị sẽ tạo nên các điểm và nếu ta nối các điểm có cùng
mức sản lượng thì sẽ tạo nên đường đồng lượng. Một đường đồng (đẳng) lượng là một
đường thể hiện tất cả các kết hợp đầu vào hợp lý mà mang lại cùng một mức đầu ra.
Hình 4.3. Sản suất với 2 đầu vào biến đổi
Trục tung biểu thị vốn/năm (capital per year) và trục hoành lao động/năm (labor per year).
Đường đẳng lượng thể hiện sự kết hợp của những đầu vào biến đổi cần thiết của một doanh
nghiệp để sản xuất cùng một lượng đầu ra. Một tập hợp các đường đẳng lượng, hay bản đồ
đường đẳng lượng, mô tả hàm sản xuất của doanh nghiệp. Đầu ra tă
ng khi một đường dịch
chuyển từ đường đẳng lượng phía trong ra ngoài (từ Q1 tới Q2 và Q3).
Ví dụ: Đồ thị 4.3 cho ta ba đường đẳng lượng vẽ từ số liệu bảng 4.2. Ví dụ, đường đẳng
lượng Q1 đo lường tất cả sự kết hợp lao động hàng năm và vốn hàng năm cho cùng mức đầu
ra là 55. Hai điểm A và D, trên đồ thị, nối lại với nhau cho ta dạng thông thường của m
ột
đường đồng lượng. Tại điểm A, chỉ có một lao động với 3 vốn trong khi tại B là 3 lao động
và 1 vốn sử dụng trong năm. Đường đẳng lượng Q2, nằm phía trên đường Q1 ở mức sản
lượng đầu ra là 75, vì đường này có kết hợp nhiều lao động, hoặc vốn hoặc cả hai đầu vào
hơn đường thứ nhất. Tương tự vậy, đường đồng lượng Q3 là đường cao nh
ất. Chú ý: Doanh
nghiệp sẽ thay đổi các điều kiện này theo thời gian, và điều đó làm phức tạp bài toán của
chúng ta. Để đơn giản hóa, chúng ta sẽ không tính tới thời gian mà chỉ xét số lượng của lao
động, vốn và đầu ra tại một khoảng thời gian và không gian nhất định.
Đường đẳng lượng tương tự đường bàng quan mà chúng ta đã sử dụng để nghiên cứu hành
vi người tiêu dùng. Đó là: Trên cùng một đường đẳng l
ượng, số lượng đầu ra là như nhau;
đường đẳng lượng có dạng lõm, dốc xuống; các đường đẳng lượng thì không cắt nhau
(chứng minh tương tự như cho đường bàng quan). Tuy nhiên, không giống như đường bàng
Khái niệm “tỉ lệ thay thế kỹ thuật cận biên” (MRTS) là dùng để phản ánh tính chất này của
sản xuất dài hạn. Nó được định nghĩa như sau: Tỉ
lệ thay thế kỹ thuật cận biên của một đầu
vào này (L) đối với một đầu vào kia (K) là lượng đầu vào kia (K) có thể giảm xuống để sử
dụng thêm một đơn vị đầu vào này (L), sao cho tổng đầu ra không đổi.
MRTS tính bằng độ dốc của đường đẳng lượng và độ dốc chỉ ra bao nhiêu lượng đầu vào
này có thể được đánh đổi bằng một lượng của đầu vào khác,
để sản xuất một lượng đầu ra
không đổi. Ở đây chúng ta đưa thêm dấu âm vào để loại trừ giá trị âm của MRTS. Do vậy
MRTS luôn dương. Công thức như sau: MRTS = ∆K/∆L ( với một mức Q cố định).
Trong đó ∆K và ∆L là mức thay đổi về vốn và lao động dọc theo đường đẳng lượng (Q).
Hình 4.4. MRTS – Tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên