xây dựng các chiến lược nhằm tạo lợi thế cạnh tranh cho Vinamilk - Pdf 70

Mục Lục
Lý do chọn đề tài: ......................................................................................................................................... 1
CHƯƠNG I : Tổng quan về Công Ty VINAMILK..................................................................................................3
CHƯƠNG IV: Xây dựng, đánh giá, lựa chọn các phương án chiến lược.........................................................41
Lời kết:.............................................................................................................................................................66
Giới thiệu đề tài:
Lý do chọn đề tài:
Ngày nay không ai có thể phủ nhận vị trí quan trọng của ngành sữa trong nền kinh tế,
vì sản phẩm từ sữa là nguồn cung cấp nhiều giá trị dinh dưỡng cho xã hội, nâng cao sức
khỏe và trí tuệ cho con người.
Ở các nước phát triển có đời sống cao như Mỹ, các nước châu âu, châu úc, công
nghiệp chế biến sữa phát triển rất mạnh và phong phú. Mức tiêu thụ sữa và các sản phẩm
từ sữa ở các nước này tính trên bình quân đầu người rất cao từ 350- 450 lít sữa/ người/năm.
Đối với các nước này , sản xuất đang hướng vào xuất khẩu, do thị trường trong nước đã
bão hòa.
Đối với các nước đang phát triển kinh tế, ngành sữa cũng đang tăng cao và dần dần
chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế. Theo Tổ chức Nông Lương Liên hiệp quốc
1
thì tăng trưởng ngành sữa ở các nước đang phát triển là trên 4% và xu hướng này càng tăng
nhanh so với các nước phát triển.
Công ty sữa Việt Nam ( Vinamilk) là một doanh nghiệp nhà nước, trực thuộc Bộ
Công Nghiệp, được thành lập từ năm 1976. Công ty đã hoạt động trong cả hai cơ chế điều
hành của nền kinh tế: nền kinh tế chỉ huy, kế hoạch hóa , bao cấp và nền kinh tế thị trường
dưới sự điều tiết của chính phủ. Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường với quy luật cạnh
tranh nghiệt ngã, công ty vẫn tiếp tục phát triển với một số thành tích nhất định. Chẳng hạn
sản phẩm ngày càng phong phú , đa dạng về chủng loại, chất lượng, bao bì ngày càng được
cải tiến, uy tín của sản phẩm càng được biết đến trong đại đa số người tiêu dùng Việt Nam.
Trong hơn 30 năm qua, công ty đã chọn cho mình con đường phát triển đúng
hướng, các sản phẩm của công ty không những có thể cạnh tranh được với các sản phẩm
cùng loại trong nước , mà một số mặt hàng còn cạnh tranh được với nước ngoài trên thị
trường xuất khẩu.

tăng trưởng vượt trội là sữa tươi (20%), sữa chua (15%), sữa bột (10%) và kem (10%).
Ngoài ra, chính phủ còn có kế hoạch đầu tư vào các trang trại nuôi bò sữa và công nghệ
chế biến sữa để tăng sản lượng sữa tươi trong nước và giảm lệ thuộc vào sữa bột nhập
khẩu.
1.1.Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của VINAMILK.
1.1.1.lịch sử hình thành:
Công ty sữa Việt Nam Vinamilk là doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Bộ
Công Nghiệp, được thành lập ngày 20/8/1976, trên cơ sở tiếp quản 6 nhà máy
thuộc ngành nghề chế biến thực phẩm sau ngày miền nam hoàn toàn giải
phóng:
• Nhà máy sữa Thống Nhất
• Nhà máy sữa Trường Thọ
• Nhà máy sữa Dielac
• Nhà máy Café Biên Hòa
3
• Nhà máy Bột Bích Chi
• Nhà máy bánh kẹo Lubico
1978 : Công ty được chuyển cho Bộ Công Nghiệp thực phẩm quản lý và
Công ty được đổi tên thành Xí Nghiệp Liên hợp Sữa Café và Bánh Kẹo I.
1988 : Lần đầu tiên giới thiệu sản phẩm sữa bột và bột dinh dưỡng trẻ em tại
Việt Nam.
1991 : Lần đầu tiên giới thiệu sản phẩm sữa UHT và sữa chua ăn tại thị
trường Việt Nam.
1992 : Xí Nghiệp Liên hợp Sữa Café và Bánh Kẹo I được chính thức đổi tên
thành Công ty Sữa Việt Nam và thuộc sự quản lý trực tiếp của Bộ Công Nhiệp Nhẹ.
Công ty bắt đầu tập trung vào sản xuất và gia công các sản phẩm sữa.
1994 : Nhà máy sữa Hà Nội được xây dựng tại Hà Nội. Việc xây dựng nhà
máy là nằm trong chiến lược mở rộng, phát triển và đáp ứng nhu cầu thị trường
Miền Bắc Việt Nam.
1996 : Liên doanh với Công ty Cổ phần Đông lạnh Quy Nhơn để thành lập

2007 : Mua cổ phần chi phối 55% của Công ty sữa Lam Sơn vào tháng 9
năm 2007, có trụ sở tại Khu công nghiệp Lễ Môn, Tỉnh Thanh Hóa.
1.1.2.Tầm nhìn, sứ mệnh và giá trị cốt lõi:
TẦM NHÌN
“Trở thành biểu tượng niềm tin số một Việt Nam về sản phẩm dinh dưỡng và sức
khỏe phục vụ cuộc sống con người “
SỨ MỆNH
“Vinamilk cam kết mang đến cho cộng đồng nguồn dinh dưỡng tốt nhất, chất lượng
nhất bằng chính sự trân trọng, tình yêu và trách nhiệm cao của mình với cuộc sống con
người và xã hội”
GIÁ TRỊ CỐT LÕI
Chính trực
Liêm chính, Trung thực trong ứng xử và trong tất cả các giao dịch.
Tôn trọng
Tôn trọng bản thân, tôn trọng đồng nghiệp. Tôn trọng Công ty, tôn trọng đối tác.
Hợp tác trong sự tôn trọng.
5
Công bằng
Công bằng với nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp và các bên liên quan khác.
Tuân thủ
Tuân thủ Luật pháp, Bộ Quy Tắc Ứng Xử và các quy chế, chính sách, quy định của
Công ty.
Đạo đức
Tôn trọng các tiêu chuẩn đã được thiết lập và hành động một cách đạo đức.
1.1.3.Thành tích đạt được:
Thời gian Danh hiệu Cơ quan trao tặng
1985 Huân chương lao động hạng III Chủ tịch nước
1991 Huân chương lao động hạng II Chủ tịch nước
1996 Huân chương lao động hạng I Chủ tịch nước
2000 Anh Hùng Lao động Chủ tịch nước

Các năm từ
1995-2009
Top 10 “Hàng Việt Nam chất lượng cao” Báo Sài Gòn tiếp thị
6
2009
Giải vàng thương hiệu an toàn vệ sinh an toàn
thực phẩm
Cục An toàn thực
phẩm
2009 Thương hiệu ưa thích nhất năm 2008-2009
Báo Sài Gòn giải
phóng cấp giấy
chứng nhận và cúp
2009
“Doanh nghiệp xanh” cho 3 đơn vị của Vinamilk:
Nhà máy sữa Sài gòn; Nhà máy sữa Thống Nhất
và nhà máy sữa Trường Thọ
Uỷ ban nhân dân
TP. Hồ Chí Minh
2009
Cúp vàng “Thương hiệu chứng khoán Uy tín
2009” và giải thưởng “Doanh nghiệp tiêu biểu
trên thị trường chứng khoán Việt Nam năm
2009”
Hiệp hội kinh doanh
chứng khoán, Trung
tâm Thông tin tín
dụng,Tạp chí chứng
khoán VIệt Nam
2009 Thương hiệu hàng đầu Việt Nam

Asia,
Thượng hiệu chứng khoán uy tín 2010 HH kinh doanh CK
31/1000 DN đóng thuế thu nhập lớn nhất VN V1000
Top 5 DN lớn nhất VN VNR
Top 10 Thương người tiêu dùng thích nhất VN
AC
1.1.4.Cơ cấu tổ chức quản lý:
1.1.4.1.Cơ cấu tổ chức theo hệ thống:
8
1.1.4.2.Cơ cấu bộ máy quản lý:
Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) là cơ quan có thẩm quyền cao nhất quyết
định mọi vấn đề quan trọng của Công ty. Đại hội đồng cổ đông là cơ quan thông
quan chủ trương chính sách đầu tư dài hạn trong việc phát triển công ty, quyết định
cơ cấu vốn, bầu ra ban quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh cùa Công ty.
Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, nhân danh công ty quyết định
mọi vấn đề liên quan trừ những vấn đề do ĐHĐCĐ quyết định.
Ban kiểm soát do ĐHĐCĐ bầu, thay mặt cổ đông kiểm soát mọi hoạt động
kinh doanh, quản trị và điều hành công ty.
Tổng giám đốc quyết định các vấn dề hàng ngày của công ty.
Phòng kinh doanh: thiết lập mục tiêu kinh doanh, xây dựng chiến lược và kế
hoạch kinh doanh, theo dõi và thực hiện các kế hoạch kinh doanh, xây dựng mạng
lưới kênh phân phối, chính sách phân phối, chính sách giá.
Phòng Marketing: hoạch định chiến lược xây dựng nhãn hiệu các sản phẩm,
xây dựng chiến lược giá, phân tích và xác định nhu cầu thị trường…
Phòng nhân sự: phụ trách các vần đề về nhân sự.
Phòng dự án: lập, triển khai, giám sát đầu tư dự án mới và mở rộng sản xuất
cho các nhà máy…
Phòng cung ứng điều vận: mua sắm, cung cấp nguyên nhiên liệu, vật tư kỹ
thuật, thực hiện các công tác xuất nhập khẩu, nhận đơn đặt hàng của khách hàng…
Phòng tài chính kế toán: quản lý, điều hành các hoạt động tài chính kế toán.

2007
Sữa đặc 79% 34% 38%
Sữa tươi 35% 26% 18%
Sữa bột ngũ cốc ăn liền 14% 24% -21%*
Sữa chua: uống
ăn
24%
96% 10% 10%
Sản phẩm khác 6%
*Tỷ lệ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) 2004-2007:16%
Nguồn: Báo cáo thường niên 2007 của Vinamilk
11
12
Sữa đặc (chiếm 34% doanh thu)
Sữa đặc là dòng sản phẩm chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu doanh thu
trong nước của công ty. Năm 2007, dòng sản phẩm này đạt tỷ lệ tăng trưởng 38%
và chiếm 79% thị phần, phục vụ chủ yếu phân khúc thị trường bình dân và có sức
cầu lệ thuộc chủ yếu vào sự gia tăng dân số. Người tiêu dùng chủ yếu sử dụng sữa
này để làm chất tạo ngọt, uống cà phê hoặc pha cocktail trái cây. Tại những vùng
nông thôn và vùng có phần lớn dân cư có thu nhập thấp, người tiêu dùng chủ yếu
dùng sữa này để uống. Hầu hết người tiêu dùng đều quá quen thuộc với nhãn hiệu
sữa “Ông Thọ” và “ Ngôi sao Phương Nam”. Dutch Lady là đối thủ cạnh tranh
chính nhưng hiện vẫn chưa đánh bại được Vinamilk trên thị trường sữa đặc.
Sữa tươi (chiếm 26% doanh thu)
Năm 2007, sữa tươi đạt mức tăng trưởng 18%, chiếm khoảng 26% tổng
doanh thu của công ty và có tỷ trọng đóng góp cao thứ nhì vào doanh thu so với tất
cả các dòng sản phẩm của công ty. Sữa tươi Vinamilk chiếm 35% thị phần. Đây là
dòng sản phẩm có tính đa dạng cao với nhiều nhãn hiệu. Tuy nhiên, Vinamilk đã
phải nhường lại vị trí dẫn đầu trên phân khúc thị trường này cho Dutch Lady vì
công ty này có mối quan hệ công chúng mạnh hơn và chiến lược marketing tốt hơn.

qua. Lượng bia sản xuất trong nước năm 2003 là 1,3 tỷ lít, tăng lên 1,4 tỷ lít
trong năm 2004 và có thể sẽ đạt 2,5 tỷ lít vào năm 2010. Tuy nhiên, lượng bia
tiệu thụ bình quân tính trên đầu người tại Việt Nam vẫn còn thấp so với các
nước khác trong khu vực. Bia Zorok được đưa ra thị trường vào đầu năm 2007
và đã thu hút sự chú ý của khách hàng.
1.1.4.4.Tình hình sản xuất kinh doanh của công ty:
14
Năm 2010,VNM đạt 15,845 tỷ đồng doanh thu vượt 9.8% so với kế hoạch
14,428 tỷ đồng doanh thu cả năm 2010.
Lợi nhuận từ hoạt động SXKD quý 3 tăng so với cùng kỳ là do sản lượng
bán ra của Công ty tăng 36,57% so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, nhờ doanh thu tài
chính quý 3 tăng 43,26% so với cùng kỳ do thu nhập từ lãi tiền gửi ngân hàng và lãi
trái phiếu tăng cũng góp phần gia tăng thêm lợi nhuận trong quý 3. Theo đó, lợi
nhuận lũy kế 9 tháng của VNM đạt 2,878 tỷ đồng vượt 7,9 % so với kế hoạch. Lợi
nhuận sau thuế năm 2010 đạt 3,602 nghìn tỷ đồng, tăng 51,27 % so với năm 2009
15
Công ty có EPS năm 2010 là 10,205 đồng/cp, khá ấn tượng so với các doanh
nghiệp cùng ngành trong bối cảnh nền kinh tế trong nước tăng trưởng chậm lại. Chỉ
tiêu ROE đạt 45,27%. BV đạt 22,541 đồng/CP. P/E năm 2010 đạt 8.96 lần.
16
Chương II: Phân tích môi trường bên ngoài của công ty.
2.1 Phân tích môi trường Vĩ Mô.
Tất cả các loại hình doanh nghiệp, các loại tổ chức thuộc các ngành, có quy mô lớn
hoặc nhỏ trong nền kinh tế mỗi quốc gia đều hoạt động trong một cộng đồng xã hội nhất
định và chịu ảnh hưởng của các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô nằm ngoài tầm kiểm soát
của các doanh nghiệp, nhiều yếu tố của môi trường này tác động đan xen lẫn nhau và ảnh
hưởng đến quản trị chiến lược của công ty,và Vinamilk cũng không phải là ngoại lệ. Vì
vậy,nhà quản trị cần phải xem xét tính chất tác động của từng yếu tố, mối tương tác giữa
các yếu tố… để dự báo mức độ, bản chất và thời điểm ảnh hưởng nhằm xử lý tình huống
một cách linh hoạt, đồng thời có giải phát hữu hiệu để tận dụng tối đa các cơ hội, hạn chế

khó lòng sản xuất sữa được nhiều như trước. Trong khi đó ở Ấn Độ, lũ lụt lại là nguyên
nhân làm tăng giá sữa. Ấn Độ là quốc gia sản xuất sữa (bò và trâu) và chế phẩm từ sữa số
hai thế giới với 101,4 triệu tấn/năm nhưng chỉ xuất 0,7 triệu tấn.
2.1.2 Thị trường trong nước:
2.1.2.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế:
Kinh tế Việt nam tăng trưởng khá ấn tượng trong 10 năm trở lại đây, thuộc
vào hàng các nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực và trên thế giới.
18
Theo số liệu biểu đồ trên, GDP của Việt nam liên tục tăng ở mức từ 6-8%,
do đó GDP bình quân trên đầu người cũng liên tục tăng, đến năm 2007 đã đạt
200.6% so với năm 2000. Năm 2008, do tác động của khủng hỏang tài chính tòan
cầu đã khiến kinh tế tăng trưởng chậm hơn dự kiến. Mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh
tế năm 2009 thấp hơn tốc độ tăng 6,18% của năm 2008 nhưng đã vượt mục tiêu
tăng 5% của kế họach. Đáng chú ý là GDP của quý III/2009 tăng 6.04% và quý IV/
2009 tăng 6.9%, cao hơn so với cùng kỳ năm 2008, cho thấy nền kinh tế nước ta đã
vượt qua thời kỳ suy giảm, càng về cuối càng nâng cao tốc độ tăng trưởng trong bối
cảnh kinh tế thế giới suy thóai với nhiều nền kinh tế tăng trưởng âm.
Thu nhập của người dân cũng luôn được cải thiện. Mặc dù năm 2008 và
2009 nền kinh tế Việt nam đi xuống theo xu hướng chung của kinh tế thế giới
nhưng thu nhập bình quân đầu người vẫn tăng đều đặn. Điều này đã tác động tích
cực đến sức mua trong nước, trong đó có ngành chế biến sữa. Thu nhập được nâng
cao, người dân sẽ quan tâm hơn đến sức khỏe của bản thân và sẵn sàng gia tăng chi
tiêu cho các lọai thực phẩm giàu chất dinh dưỡng như sữa, dẫn đến lượng khách
hàng tiêu thụ sữa ngày càng gia tăng.
Lạm phát vẫn chưa bị đẩy lùi và bùng phát trở lại vào năm 2010. không phải
là vấn đề của năm 2009, nhưng năm 2010 là một năm lạm phát bùng lên trở lại do
các nguyên nhân gây ra lạm phát bị tích lũy ngày càng nhiều trong năm 2009.Cụ
thể, như các chính sách hỗ trợ lãi suất làm tăng trưởng tín dụng, nới lỏng kiểm soát
giá một số mặt hàng như điện, nước, xăng dầu, điều chỉnh tăng lương và có thể là
cả những nỗ lực phát hành tiền mà không được công bố chính thức. Nguy cơ lạm

sản của bò cũng như dò tìm các dấu hiệu bệnh. Hệ thống vi tính hóa ở các chuồng
gia súc và trong văn phòng điều hành nông trại đã giúp sản lượng đàn bò sữa ngày
càng được nâng cao.
Ngành sữa trên thế giới đã có mặt lâu đời với công nghệ tiên tiến từ các nước
có công nghệ và thiết bị ngành sữa phát triển như Mỹ, Thụy Điển, Đan Mạch, Thụy
20
Sĩ, Đức, Ý, Hà Lan. Sản phẩm ngày càng đạt chất lượng cao với các dây chuyền sản
xuất sữa hiện đại có công suất lớn như hệ thống máy rót UHT đóng gói tự động cho
các lọai hộp giấy chuyên dung, dây chuyền sản xuất sữa chua ăn khép kín với công
nghệ lên men tiên tiến, dây chuyền sản xuất và đóng gói sữa tươi thanh trùng, …
2.1.2.4 Văn hóa - xã hội:
Mặc dù Việt nam không phải là nước có truyền thống sản xuất sữa và dân
chúng trước đây chưa có thói quen dùng sữa, nhưng với tốc độ tăng dân số nhanh
(1,2% -theo năm 2009), đặc biệt là tỉ lệ tăng của dân số thành thị cao hơn nông thôn
nên ý thức bảo vệ sức khỏe ngày càng được chú trọng, đặc biệt là vấn đề dưỡng
chất cần thiết cho trẻ em giai đọan thôi bú sữa mẹ dần dần giúp hình thành nên thói
quen tiêu thụ sữa cho mọi lứa tuổi trong giai đọan sau này. Theo thống kê của Viện
dinh dưỡng quốc gia, hiện mức tiêu thụ sữa của người Việt nam đã tăng lên đáng kể
(29,9g mỗi ngày)
Ngoài ra, các chương trình chính sách khuyến khích dùng sữa trong trường
học, cung cấp miễn phí hoặc giá rất rẻ cho các cháu mẫu giáo và học sinh tiểu học
cũng đã được chính phủ đề cập đến trong chương trình phát triển quốc gia và thực
hiện thí điểm ở một số địa bàn có điều kiện thuận lợi. Cụ thể là chương trình “sữa
học đường” với ngân sách nhà nước đang được thực hiện tại Bà Rịa Vũng Tàu là
một điểm sáng cần nghiên cứu nhân rộng cho cả nước.
2.1.2.5 Điều kiện tự nhiên:
Khí hậu Việt Nam mang đặc điểm của khí hậu gió mùa, nóng ẩm. Tuy nhiên,
có nơi có khí hậu ôn đới như tại Sa Pa, tỉnh Lào Cai; Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng; có nơi
thuộc khí hậu lục địa như Lai Châu, Sơn La thích hợp trồng cỏ cho chất lượng
cao.Mặc dù khí hậu nóng ẩm nhưng nhìn chung các điều kiện tự nhiên khá thích

nam.
Năm 2009, mặc dù giá nguyên liệu sữa bột nhập khẩu trên thị trườngthế giới
đã giảm (khoảng 13,8 - 43%) nhưng các doanh nghiệp vẫn giữ nguyên mức giá cao
tăng từ năm 2008, thậm chí có doanh nghiệp tiếp tục tăng giá. Điều này được các
nhà sản xuất giải thích là giá nguyên liệu có giảm nhưng vẫn ở mức cao, chưa bằng
giá của năm 2007 và tỉ giá ngoại tệ và đồng Việt Nam liên tục bị trượt giá nên buộc
phải tăng giá sản phẩm. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến nhiều
người Việt Nam, đặc biệt là các em nhỏ ở những vùng khó khăn không có điều kiện
uống sữa.
2.2 Môi trường vi mô ( môi trường ngành):
22
Việt Nam đang trong giai đoạn tăng trưởng và phát triển kinh tế mạnh mẽ kéo theo mức
thu nhập, mức sống của người dân cũng được cải thiện rõ rệt. Nếu trước đây thành ngữ
“ăn no mặc ấm” là ước mơ của nhiều người thì hôm nay, khi đất nước đã gia nhập WTO
lại là “ăn ngon mặc đẹp”. Sữa và các sản phẩm từ sữa đã gần gũi hơn với người dân, nếu
trước những năm 90 chỉ có 1-2 nhà sản xuất, phân phối sữa, chủ yếu là sữa đặc và sữa bột
(nhập ngoại), tính đến hiện nay trên thị trường hiện có khoảng hơn 300 sản phẩm của các
công ty lớn như: Vinamilk, Dutch Lady, Nutifood Việt Nam, New Zealand, Abbott... rất
nhiều doanh nghiệp phân phối sữa chia nhau một thị trường tiềm năng với 87 triệu dân.
Số liệu được công bố tại Hội thảo Thúc đẩy sự gắn kết ngành sữa Việt Nam với thế
giới vừa được tổ chức tại Hà Nội cho biết, trẻ em tại TP.HCM và Hà Nội tiêu thụ 78% các
sản phẩm sữa tại Việt Nam. Bình quân mức tiêu thụ là 9kg sữa/người/năm - tăng
14,1%/năm. Trong khi con số này ở Thái Lan là 25kg, Pháp là 130kg và Úc là 320 kg.
Điều này đã cho thấy tiềm năng của thị trường sữa Việt Nam vẫn chưa được khai thác
đúng mức trong thời gian qua.
Đối với thị trường sữa Việt Nam, Vinamilk là Công ty chiếm thị phần lớn nhất tại hiện
nay, với tổng công suất của 9 nhà máy sản xuất sữa các loại đạt khoảng 570.406 tấn
sữa/năm, khoảng trên 220 dòng sản phẩm đa dạng, bao gồm các sản phẩm sữa, thực phẩm
dinh dưỡng, cà phê và một số loại nước giải khát. Vinamilk đang trong quá trình tiếp tục
mở rộng hoạt động sản xuất thông qua việc xây dựng thêm 3 nhà máy sữa tại Bắc Ninh, Đà

chua uống là 52% và 48%.
Ở vị trí dẫn đầu, sữa tươi - tiệt trùng có 55% số hộ gia đình được hỏi cho biết
đã lựa chọn dùng thường xuyên nhất. Sữa chua ăn và sữa bột nguyên kem dành cho
trẻ em lần lượt chiếm tỷ lệ là 19,9% và 11,9%. Như vậy, xu hướng tiêu dùng các
thức uống bổ dưỡng, có lợi cho sức khỏe mà cụ thể là sử dụng các loại sữa chiếm
ưu thế phổ biến.
24
Ngoài việc chiếm một tỷ lệ khá lớn trong thị phần nội địa, mức tiêu thụ của
người tiêu dùng ở thị trường nước ngoài (Úc, Campuchia, Iraq, Philipines, Mỹ..)
cũng chiếm từ 10% đến 20% trong tổng doanh thu của công ty thông qua xuất
khẩu.
Trong suốt quý 4 ngành sữa luôn đóng góp thị phần giá trị cao nhất so với
các ngành hàng thuộc sản phẩm tiêu dùng thường xuyên. Đây là dấu hiệu đáng
mừng, theo chiều hướng này sản phẩm sữa sẽ trở thành sản phẩm không thể thay
thế trong tiêu dùng của các hộ gia đình đô thị; muốn giành được cơ hội này các
doanh nghiệp cần củng cố và xây dựng thương hiệu để tạo ấn tượng và giành được
niềm tin của người tiêu dùng.
2.2.2 Đối thủ cạnh tranh:
Ngành chế biến sữa là ngành có mức độ cạnh tranh cao. Hiện tại Việt Nam
có khoảng 23 doanh nghiệp cung cấp sữa ra thị trường, tiêu biểu như Vinamilk,
Dutch Lady Vietnam, Nutifood, Hanoimilk, Mộc Châu… Sản phẩm được tập trung
chính là sữa bột, sữa đặc, sữa nước và sữa chua. trong đó Vinamilk là công ty lớn
nhất với khoảng 38% thị phần, Dutch Lady với khoảng 28% thị phần, phần còn lại
thuộc về các công ty nhỏ hơn và sản phẩm sữa cao cấp nhập khẩu trực tiếp.
Với tiềm năng và nhu cầu tiêu thụ rất lớn về sữa các loại tại VN nên dẫn đến
đối thủ cạnh tranh ngày càng nhiều và gay gắt. Các nhà đầu tư nước ngoài ngày một
đổ xô vào việt Nam để triển khai hoạt động kinh doanh. Đó là thách thức lớn của
Vinamilk trong việc cạnh tranh dành thị trường sữa. Hiện tại, Vinamilk đang phải
đang phải đối đầu với các đối thủ cạnh tranh trong nước hay nói cách khác là đối
thủ cạnh tranh trực tiếp và đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn. Trên thị trường hiện nay,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status