Quy trình kỹ thuật thâm canh cây vừng
(Phần 1)
Chương I: Quy định chung
1. Mục tiêu kinh tế kỹ thuật
1.1 2. Yêu cầu sinh thái của cây vừng
2.1. Nhiệt độ: Cây vừng là loại cây chịu hạn, chịu nóng, nhiệt độ thích hợp cho
vừng sinh trưởng và phát triển tốt từ 25- 30
0
C.
2.2. Lượng mưa: Nhu cầu nước của vừng phụ thuộc vào từng thời kỳ, tổng
lượng mưa trong toàn bộ thời gian sinh trưởng và phát triển của cây vừng từ 250-
300mm. Thời kỳ vừng cần nhiều nước là: từ khi gieo đến 6 lá và lúc ra hoa, hình thành
quả. Nếu vừng bị ngập, đất thoát nước kém, thì trong một thời gian ngắn vừng sẽ chết
hàng loạt.
2.3. ánh sáng: Vừng là cây có thời gian sinh trưởng ngắn, nên rất cần ánh sáng
cho quang hợp để tổng hợp các chất hữu cơ phục vụ cho sinh trưởng và phát triển. Nếu
thiếu ánh sáng cây vừng vươn lóng dài, số mắt trên cây ít dẫn đến lượng quả ít và năng
suất thấp.
2.4. Đất: Vừng là loại cây dễ trồng, dễ thích nghi trên các loại đất sau khi thu
hoạch lạc, đậu, ngô Xuân. Đất cát pha, thịt nhẹ, tơi xốp, có mạch nước ngầm sâu,
thoát nước tốt thích hợp cho sản xuất vừng. Chương II: Giống vừng
1. Một số giống vừng
3. Lượng giống và phương pháp gieo
3.1. Lượng giống:
- Vừng V6: gieo 4kg/ha.
- Vừng địa phương: 5kg/ha.
3.2. Phương pháp gieo:
- Gieo hàng: khoảng cách hàng cách hàng 20cm, cây cách cây 10cm, rạch rãnh
sâu 3cm, gieo xong khoả lớp đất mỏng.
- Gieo vãi: sau khi lên luống xong, dùng vừng trộn với tro bếp hoặc đất bột rải
đều trên mặt luống, sau đó dùng cành cây kéo qua hoặc bừa lướt nhẹ, để lấp hạt vừng
1-2cm.
4. Phân bón
4.1. Vôi bột: 400kg/ha (bón trước khi cày bừa).
4.2. Phân chuồng: 4-5 tấn/ha.
4.3. Phân NPK 500 kg/ha loại 3:9:6.
Tất cả các loại phân này đều bón lót vào lần cày bừa cuối cùng (đối với đất
không cày thì bón trước khi bừa). Riêng đất quá xấu bón thúc 2kg urê/sào khi vừng 2-
3 lá.