THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN XUẤT KHẨU HÀNG HÓA SANG THỊ TRƯỜNG EU CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM - Pdf 70

64
lượng và được đào tạo tốt và có sự hỗ trợ tích cực từ phía các tổ chức
XTTM nói chung và các tổ chức XTXK của Chính phủ nói riêng.
Doanh nghiệp muốn tham gia xuất khẩu phải có đội ngũ lao động
được đào tạo, trang bị các kiến thức và kỹ năng chuyên môn về xuất
khẩu, về thị trường nước ngoài, ngoại ngữ để có đủ năng lực tham gia
vào hoạt động xuất khẩu.
Bên cạnh đó, hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp sẽ thành
công hơn nếu họ có được sự trợ giúp có hiệu quả của các tổ chức
XTXK. Điều này đã được chứng minh bởi kinh nghiệm thúc đẩy xuất
khẩu của Nhật Bản, các nước NICs, Trung Quốc, Thái Lan, …
. Cùng
với
việc đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho quá trình phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước và phục vụ cho chính sách thúc đẩy xuất khẩu,
đội ngũ nhân lực cho hoạt động XTXK cũng được Chính phủ các quốc
gia này rất chú trọng. Họ được đào tạo và bồi dưỡng kiến thức chuyên
môn về quản lý, tổ chức thực hiện hoạt động XTXK và trình độ ngoại
ngữ để có thể hỗ trợ tốt cho hoạt động xuất khẩu của cộng đồng doanh
nghiệp.
Như vậy, trong bất kỳ một chiến lược xuất khẩu nào cũng phải có
yếu tố then chốt là đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho hoạt động
xuất khẩu và XTXK. Trong đó cần lưu ý, việc phát triển nguồn nhân
lực trong lĩnh vực xuất khẩu là một quá trình liên tục trang bị những
kiến thức, kỹ năng xuất khẩu cơ bản, không ngừng cập nhật những kiến
thức và kỹ năng mới nhất đúc kết từ thực tiễn
[41].

13.6.2 Những bài học không thành công trong xúc tiến xuất
khẩu của Chính phủ
65

thật sự được chú trọng
Sự thành công trong hoạt động XTXK của một quốc gia rất cần
những hỗ trợ từ phía các tổ chức XTXK quốc tế (về đào tạo nguồn nhân
lực, thiết kế nội dung, xây dựng mạng lưới và triển khai một số hoạt
động XTXK cụ thể ở nước ngoài), đặc biệt là đối với các nước đang
phát triển như Việt Nam. Các nước đạt được nhiều thành công trong
xuất khẩu như Trung Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc trong những năm gần
đây hay Nhật Bản trong những năm 1960 và 1970 hầu như đều dựa vào
sự nỗ lực của bản thân doanh nghiệp, sự hỗ trợ của các tổ chức XTXK
quốc gia. Sự tham gia hỗ trợ của Các tổ chức XTXK quốc tế hầu như
chỉ dừng lại ở giới thiệu thông tin về XTXK và đào tạo nguồn nhân lực,
chưa mang tính hợp tác toàn diện và lâu dài với các tổ chức XTXK
quốc gia. Điều này xuất phát từ việc Chính phủ các quốc gia chưa chú
trọng đến việc xây dựng đề án và chương trình hợp tác toàn diện, lâu
dài với các tổ chức quốc tế nhằm phát huy tốt hơn vai trò của các tổ
chức này trong hỗ trợ phát triển quan hệ hợp tác kinh tế nói chung và
quan hệ thương mại nói riêng giữa các quốc gia trên thế giới.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trước bối cảnh đất nước đang xây dựng nền kinh tế thị trường và
chủ động hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, việc tăng cường
hoạt động XTTM nói chung và hoạt động XTXK nói riêng là hoàn toàn
phù hợp và đúng đắn để phát triển xuất khẩu. Những nội dung đã trình
bày trong chương một ở trên đã giúp chúng ta phần nào khẳng định
được điều này.
67
Việc làm rõ và phân định các khái niệm liên quan ; hệ thống hóa
các vai trò, nội dung, phân loại hoạt động XTXK của Chính phủ ;
khẳng định tầm quan trọng của hoạt động XTXK của Chính phủ Việt
Nam ; tổng kết kinh nghiệm từ thực tiễn hoạt động XTXK của Chính

Nếu tính từ khi Hiệp ước thành lập Cộng đồng Than - Thép Châu
Âu (1951) thì đến nay Liên minh Châu Âu đã bước vào năm thứ 57.
Trong suốt thời gian qua, nhìn tổng quát có thể thấy Liên minh Châu
Âu đã trải qua 3 giai đoạn phát triển chủ yếu sau:
69
− Giai đoạn 1 (1951 - 1957): Hợp tác trong phạm vi Cộng đồng
Than Thép Châu Âu gồm 6 nước Pháp, Cộng hoà Liên Bang Đức,
Italia, Hà Lan, Bỉ và Lúc xăm bua.
− Giai đoạn 2 (1957 - 1992): Phát triển mối quan hệ hợp tác trên
lĩnh vực kinh tế và chính trị gồm 12 nước: 6 nước của Cộng đồng Than
Thép Châu Âu cộng thêm Anh, Đan mạch, Ai len, Tây Ban Nha, Bồ
Đào Nha, và Hy lạp.
− Giai đoạn 3 (1993 đến nay): Liên minh Châu Âu đã thay thế cho
Cộng đồng Châu Âu (EC). Đây là giai đoạn đẩy mạnh “nhất thể hoá”
trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế − tiền tệ, ngoại giao, an ninh, đến nội
chính và tư pháp. Với việc kết nạp thêm Áo, Thuỵ điển, Phần Lan vào
năm 1995, số thành viên của EU đã lên tới 15 và từ 01/01/2007 EU với
27 nước thành viên. Giai đoạn thứ 3 là giai đoạn phát triển về chất so
với 2 giai đoạn trước. Tuy nhiên, con tàu EU chưa thể chạy nhanh với
tốc độ cao ngay vì thành viên cũ và mới vẫn đang chạy trên 2 tốc độ.
Cho đến nay, EU đạt trình độ cao về khoa học kỹ thuật, công
nghệ, hệ thống công nghiệp hiện đại, đặc biệt về cơ khí, năng lượng
nguyên tử, dầu khí, hoá chất, dệt may, điện tử công nghiệp vũ trụ và vũ
khí.

2.1.1.2. Đặc điểm chung của thị trường EU
Từ năm 1968, EU đã là một thị trường thống nhất về thủ tục hải
quan, có định mức thuế quan chung với các nước ngoài khối. Ngày
07/02/1992, Hiệp ước Maastricht được ký kết tại Hà Lan, hình thành
lên một khối thị trường chung gồm 12 nước thành viên của EU. Ngày

71
thế, EU chính là thị trường xuất khẩu quan trọng bậc nhất đối với nhiều
nước trên thế giới đặc biệt là nước đang phát triển như Việt Nam. Mặt
khác, EU cũng là một “nhà xuất khẩu” khổng lồ của thế giới, với cán
cân thương mại tương đối cân bằng.
Hàng năm, EU nhập khẩu một lượng lớn hàng hoá từ khắp các
quốc gia trên thế giới. Kim ngạch nhập khẩu không ngừng gia tăng từ
622,48 tỷ USD năm 1994 lên đến khoảng 2610 tỷ USD năm 2007.
Trong đó, giá trị nhập khẩu từ các quốc gia đang phát triển chiếm
khoảng 50% trong tổng nhập khẩu năm 2007 của EU
[72].
Cơ cấu của nhập khẩu của thị trường EU bao gồm: Sản phẩm thô
chiếm 29,74%, sản phẩm chế tạo chiếm trên 67,19%, các sản phẩm
khác chiếm 3,07% trong tổng kim ngạch nhập khẩu hàng năm. Các mặt
hàng nhập khẩu chủ yếu phải kể đến nông sản 11,79%, khoáng sản
17,33%, máy móc 24,27%, thiết bị vận tải trên 8%...Các thị trường
nhập khẩu chính của EU là Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, ASEAN,
OPEC
[66].
Thị hiếu và thói quen tiêu dùng
EU là một thực thể kinh tế chính trị hùng mạnh gồm 27 thành
viên, với mỗi thành viên có đặc điểm tiêu dùng riêng, do đó có thể nhận
thấy rằng thị trường EU có nhu cầu rất đa dạng và phong phú về hàng
hoá và dịch vụ. Tuy nhiên, người dân EU vẫn có những điểm chung về
sở thích: Người dân EU có sở thích và thói quen tiêu dùng các sản
phẩm có nhãn hiệu nổi tiếng. Họ cho rằng những nhãn hiệu nổi tiếng sẽ
gắn với chất lượng sản phẩm và có uy tín lâu đời, cho nên dùng những
sản phẩm nổi tiếng sẽ rất an tâm về chất lượng và an toàn cho người sử
dụng. Vì thế, nhiều trường hợp sản phẩm giá rất đắt nhưng người dân
72

quy định các thành phần của sản phẩm, cách bảo quản. Việc làm sai
quy cách về đóng gói, bao bì, các sản phẩm nhập lậu, đánh cắp bản
quyền, … bị xử lý rất nghiêm ngặt.
Cuối cùng, tuy giá trị nhập khẩu từ các nước ngoài khối EU luôn
có chiều hướng gia tăng, EU thực sự là một thị trường lớn, tiềm năng,
nhưng thâm nhập đứng vững trên thị trường này không dễ dàng, bởi
hàng hoá nhập khẩu vào thị trường EU phải chịu áp lực cạnh tranh
tương đối gay gắt do mức độ tập trung các nhà sản xuất và xuất khẩu
trên thế giới ngày càng quan tâm đến thị trường đầy tiềm năng và triển
vọng này
[66].
2.1.2. Tình hình xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang thị trường
EU
2.1.2.1. Về kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường
EU
Theo số liệu thống kê, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa Việt Nam
sang thị trường EU trong giai đoạn từ năm 2000 - 2008có xu hướng
tăng lên tương đối đều với tốc độ tăng khoảng 20%/ năm [52]. Cụ thể,
đến năm 2008, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU
đạt 12589 triệu USD, tăng gấp hơn 4 lần so với năm 2000 (đạt 2854
triệu USD).
Đồng thời, giá trị kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU so
với tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước luôn chiếm tỷ trọng cao
trong giai đoạn này, đạt khoảng xấp xỉ 20% (
xem bảng 2.1 và hình 2.1).
Điều đó đã chứng tỏ vị thế quan trọng của thị trường EU đối với xuất
khẩu hàng hóa của Việt Nam.

74
Bảng 2.1: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU

3.82
26.03
4.97
31.5
5.4
39.8
7.1
48.5
10.7
62.9
12.6
0
10
20
30
40
50
60
70
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
Tổng kim ngạch xuất khẩu Kim ngạch xuất khẩu sang EU

Đơn vị: Tỷ
USD
75
Hình 2.1: Kim ngạch xuất khẩu Việt Nam sang EU so với tổng kim
ngạch xuất khẩu của cả nước
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các nguồn: Tổng cục Thống kê
[52],
European Commission

2000 giá trị kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Anh là
479,3 triệu USD (chiếm 16,97%); năm 2007 tương ứng đạt là 1431,4
triệu USD và chiếm tỷ trọng 16,86%. Các thị trường Pháp và Hà lan
cũng có giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn, đạt khoảng 400 – 1000 triệu
USD và chiếm tỷ trọng khoảng 11% – 15% kể từ năm 2000 đến nay
(
xem bảng 2.2 và bảng 2.3). Nguyên nhân chính của việc các nước
Anh, Pháp, Đức và Hà lan nhập khẩu một lượng lớn hàng hoá từ Việt
Nam là do cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam tương đối phù hợp
với nhu cầu nhập khẩu của các nước này.
Các nước Thụy Ðiển, Áo, Ailen, Bồ Đào Nha là những thị trường
nhỏ, sức tiêu thụ hàng hoá của Việt Nam thấp. Bồ Đào Nha là nước có
tỷ trọng nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam thấp nhất với giá trị kim
ngạch trên dưới 10 triệu USD và tỷ trọng chưa đầy 0,5%/năm. Thụy
Điển, Áo, Ailen giá trị kim ngạch cũng chỉ đạt khoảng 20 triệu USD và
tỷ trọng dưới 1% vào những năm 2000-2005. Tuy nhiên, các năm tiếp
theo (2006 và 2007), xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào các thị
trường này lại tăng lên khá mạnh. Cụ thể, giá trị kim ngạch xuất khẩu
sang thị trường Thụy Điển tăng từ 133,6 triệu USD năm 2005 lên 171
triệu USD năm 2006 và 202,4 triệu USD năm 2007, sang thị trường Áo
tương ứng là 88,9 triệu USD (2005), 97,5 triệu USD (2006) và 111,9
triệu USD (2007) (xem bảng 2.2).
77
Bảng 2.2: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các nước
thành viên EU 15 - Ðơn vị: triệu USD
Tên nước 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Ailen
12,1 20,8 19,0 16,7 28,4 25,1 28,1 34,9
Anh
479,3

2824,4 3002,9 3149,9 3852,8 4971 5309,1 6750,6 8492

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các nguồn: Tổng cục Thống kê [52],
European Commission
[71]
.

Trong những năm gần đây, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị
trường các nước như Tây Ban Nha, Hy Lạp có xu hướng tăng cả về giá
trị và tỷ trọng. Đây là những thị trường mới với hàng hoá của Việt
Nam, nhưng có nhiều hứa hẹn vì mức tăng trưởng hàng năm rất cao.
Tây Ban Nha trung bình mỗi năm có giá trị nhập khẩu từ Việt Nam tăng
gần 10%: Từ năm 2000 - 2007, tỷ trọng giá trị nhập khẩu của Tây Ban
Nha tăng từ 4,86% lên 8,94%. Cũng trong giai đoạn này, nhập khẩu của
Hy Lạp từ Việt Nam có giá trị kim ngạch tăng lên gần 4 lần với giái trị
78
năm 2000 đạt 21,1 triệu USD (chiếm 0,70%)và năm 2007 tương ứng là
81,8 ( chiếm 0,96%) (
xem bảng 2.2 và bảng 2.3).
Bảng 2.3: Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
sang các nước thành viên EU 15
Ðơn vị: %
Tên nước 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Ailen
0,43 0,69 0,6 0.42 0,57 0,47 0,42 0,41
Anh
16,97
17,04 18,12 19,6 20,35 19,13 17,47 16,86
Áo
0,84 0,69 0,94 0,99 1,2 1,67 1,44 1,32

European Commission
[71].

Có được sự tăng lên như vậy là do các doanh nghiệp Việt Nam
đã có chiến lược xâm nhập phù hợp hơn kết hợp với các biện pháp
XTXK của Chính phủ Việt Nam (thương vụ và các tổ chức XTXK ở
trong nước) bắt đầu phát huy tác dụng, đặc biệt là hoạt động cung cấp
thông tin thị trường
79
và tư vấn kinh doanh. Thêm vào đó, người tiêu dùng các nước này cũng
có sự am hiểu và ưa chuộng hơn đối với hàng hóa có xuất xứ Việt Nam.
* Đối với 12 nước thành viên mới của EU
Hàng hóaViệt Nam xuất khẩu sang các nước thành viên mới của
EU chủ yếu tập trung vào các nước như Ba Lan, Séc, Hung-ga-ri. Đây
là những nước đã có quan hệ truyền thống với Việt Nam. Trong đó, Ba
Lan là nước chiếm tỷ trọng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam sang khối
nước mới gia nhập EU với tỷ trọng đạt xấp xỉ 50%, cụ thể là năm 2000
giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 61,4 triệu USD chiếm tỷ trọng 50,17%;
năm 2001 là 78,51 triệu USD chiếm tỷ trọng 53,17%; năm 2002 là
66,96 triệu USD chiếm 45,52%; năm 2003 là 83,63 triệu USD chiếm
50,49%; năm 2004 là 82,17 triệu USD chiếm 46,26% và đến năm 2007
đạt 220,9 triệu USD. Séc có giá trị nhập khẩu hàng hoá từ Việt Nam
tương ứng qua các năm 2000 - 2007 là: 35,22 triệu USD; 102 triệu
USD. Tiếp đến là Hung-ga-ri có giá trị kim ngạch vào khoảng từ 15 -
20 triệu USD, chiếm tỷ trọng khoảng 15% trong giai đoạn 2000-2004
và kim ngạch tăng lên đạt 62, 7 triệu USD vào năm 2007. Tuy vậy, đến
năm 2007 tỷ trọng giá trị xuất khẩu hàng hóa Việt Nam vào các thị
trường này có xu hướng giảm (xuống còn dưới 10%) do sự tham gia
của các thị trường mới như Bun ga-ri và Ru-ma-ni
(xem bảng 2.4 và

8
18,33 21,64 27,0 33,0 62,7
Lat-via
1,53 1,56 1,06
3,33 3,49 - - -
Lit-va
0,18 0,73 5,41
5,98 6,23 - - -
Malta
0,49 0,19 0,24
0,51 0,76 - - -
Ba-lan
61,4
78,51 66,9
6
83,63
82,1 81,8 160 220,
9
Séc
35,2
38,22 39,5 39 42,73 49,0 70,1 102,
0
Slô-va-
kia
5,36 5,48 7,24
8,2 8,62 11,7 23,1 71,5
Slô-vê-
nia
1,68 1,57 2,15
2,23 6,99 - - -

Ðơn vị: %

2000 2001 2002 2003 2004 200
5
2006 200
7
Síp
1,11 1,52 1,0 1,28 1,63 0,44
1,72 0,32
Es-to-
nia
0,17 0,78 1,37 1,39 1,23 - - -
Hung-ga-ri
12,21 11,22 14,33 11,07 12,18 2,47 9,61 2,88
Lat-via
1,25 1,07 0,72 2,01 1,96 - - -
Lit-va
0,15 0,5 3,68 3,61 3,5 - - -
82
Malta
0,4 0,13 0,16 0,31 0,43 - - -
Ba-lan
50,17
53,17 45,52 50,49 46,26 7,50 46,62 10,2
Séc
28,78
26,18 26,84 23,54 24,05 4,49 20,41 4,69
Slô-va-
kia
4,38 3,75 4,92 4,95 4,85 1,07

13].
83
Đứng thứ 3 trong số các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang EU
là hàng thủy sản. Giai đoạn 2000 - 2007 được coi là giai đoạn nhiều
biến động của thủy sản xuất khẩu Việt Nam sang thị trường EU. Sau sự
sụt giảm năm 2002 do tình trạng mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu Việt Nam
vi phạm các quy định về rào cản kỹ thuật của thị trường EU. Từ năm
2003 đến năm 2007 kim ngạch xuất khẩu hàng thuỷ sản Việt Nam sang
thị trường EU đã có sự phục hồi và tăng lên nhanh chóng, tỷ lệ tăng
trưởng bình quân hàng năm là 65,5 % (từ 153,2 triệu USD năm 2003
lên 912,24 triệu USD năm 2007) [
13] và (xem bảng 2.6).
Bảng 2.6: Một số mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang EU
Ðơn vị: triệu USD
Tên hàng
2005 2006 2007
Giày dép
1760,3 1951,0 2176,3
Dệt may
905,4 1244,5 1487,6
Thủy sản 439,9 730,6 912,2
Cà phê 308,6 539,0 878,9
Thủ công mỹ
nghệ
178,3 193, 5 119,3
Các mặt hàng
khác
2807,5 2435,4 5091,7
Tổng kim ngạch
XK sang EU

dịch vụ công và thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước
tại doanh nghiệp có vốn nhà nước thuộc phạm vi quản lý của Bộ theo
quy định của pháp luật.
Theo quy định tại Nghị định số 86/2002/NĐ-
CP ngày 05 tháng 11 năm 2002 của chính phủ quy định chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ, Bộ
Công Thương thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quản lý Nhà nước về
thương mại với những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau đây:
(1). Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các dự án luật, pháp
lệnh và các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ
85
tướng Chính phủ về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của
Bộ.
(2). Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chiến lược, quy
hoạch phát triển, kế hoạch dài hạn, năm năm và hàng năm, chương
trình, dự án quan trọng về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước
của Bộ.
(3). Ban hành các quyết định, chỉ thị, thông tư về các lĩnh vực
thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ.
(4). Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và chịu trách nhiệm thực hiện
các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về
thương mại đã được phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo
dục pháp luật về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước cỷa Bộ
[11]. Tháng 7 năm 2000, thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số
78/2000 QĐ-TTg cho phép thành lập Cục Xúc tiến thương mại (với tên
gọi tắt là VIETRADE) trực thuộc Bộ Thương mại (nay thuộc Bộ Công
thương) nhằm giúp Bộ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về xúc


(8). Chỉ đạo, hướng dẫn các Sở Công Thương về công tác quản
lý Nhà nước đối với hoạt động xúc tiến thương mại, đầu tư phát triển
ngành công nghiệp và thương mại.
87
(9). Chỉ đạo, hướng dẫn các Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài
về các hoạt động xúc tiến thương mại, đầu tư phát triển ngành công
nghiệp và thương mại.
(10). Nghiên cứu thị trường phục vụ hoạch định chính sách xúc
tiến thương mại quốc gia; thu thập, tổng hợp, xử lý và cung cấp thông
tin đối với các cơ quan, doanh nghiệp, các tổ chức xúc tiến thương mại
trong nước và ngoài nước.
(11). Xây dựng, tổ chức thực hiện, quản lý chương trình thương
hiệu quốc gia; quảng bá hình ảnh đất nước, hình ảnh doanh nghiệp Việt
Nam ở trong nước và ngoài nước; hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam
xây dựng, quảng bá và bảo vệ thương hiệu.
(12). Quản lý các trung tâm giới thiệu sản phẩm, trung tâm xúc
tiến thương mại của Việt Nam ở nước ngoài.
(13). Xây dựng, quản lý Chương trình truyền hình công thương
để thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại, thương hiệu, đầu tư
phát triển ngành công nghiệp và thương mại.
(14). Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện, hướng dẫn về
chuyên môn nghiệp vụ, tuyên truyền, phổ biến các văn bản quy phạm
pháp luật về xúc tiến thương mại, đầu tư phát triển ngành công nghiệp
và thương mại đối với doanh nghiệp, tổ chức xúc tiến thương mại.
(15). Về khoa học và công nghệ
a) Xây dựng và đăng ký các đề tài ngiên cứu khoa học, ứng dụng
tiến bộ kỹ thuật chuyên ngành;
b)Tổ chức triển khai các dự án, đề án, đề tài nghiên cứu, ứng
dụng, phổ biến, phát triển công nghệ thông tin và thương mại điện tử

doanh nghiệp .


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status