VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ ANH THƯ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN
XÃ ĐẠI PHƯỚC, HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG
NAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, năm 2020
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ ANH THƯ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN
XÃ ĐẠI PHƯỚC, HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG
NAI
Ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 8340410
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THỊ NGỌC
HÀ NỘI, năm 2020
MỞ ĐẦU.................................................................................................................. 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
TRONG THU HỒI ĐẤT ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ, XÃ HỘI.......................7
1.1. Khái quát chung về đất đai, thu hồi đất và quản lý nhà nước về thu hồi đất để
triển kinh tế, xã hội...............................................................................................7
1.1.1. Khái niệm đất đai...................................................................................7
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của thu hồi đất...................................................7
1.1.3. Khái niệm quản lý nhà nước trong quá trình thu hồi đất đai................10
1.2. Quản lý Nhà nước trong quá trình thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội. 12
1.2.1. Sự cần thiết khách quan của thu hồi đất để triển kinh tế - xã hội.........12
1.2.2. Mục đích quản lý Nhà nước trong q trình thu hồi đất.......................16
1.2.3. Chủ thể và đối tượng tham gia quản lý nhà nước về thu hồi đất...........17
1.2.4. Nội dung quản lý Nhà nước trong quá trình thu hồi đất.......................18
1.3. Tiêu chí đánh giá Quản lý Nhà nước trong quá trình thu hồi đất để phát triển
kinh tế - xã hội..................................................................................................... 23
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý Nhà nước trong quá trình thu hồi đất để
phát triển kinh tế xã hội....................................................................................... 24
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THU HỒI ĐẤT
TRÊN ĐỊA BÀN XÃ ĐẠI PHƯỚC, HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG
NAI......................................................................................................................... 29
2.1. Khái quát chung về xã Đại Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai........29
2.1.1. Điều kiện địa lý tự nhiên....................................................................... 29
2.1.2. Đặc điểm kinh tế, xã hội....................................................................... 29
2.2. Thực trạng quản lý nhà nước về thu hồi đất để phát triển kinh phát triển kinh
tế, xã hội tại xã Đại Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai..........................30
2.2.1. Tình hình thu hồi đất để phát triển kinh tế, xã hội tại xã Đại Phước,
huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.................................................................. 30
2.2.2. Thực trạng xây dựng, áp dụng quy định về thu hồi đất.........................33
2.2.3. Tổ chức thực hiện thu hồi đất tại xã Đại Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh
KẾT LUẬN............................................................................................................. 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
FAO:
Food and Agriculture Organization of the United Nations
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc
FDI:
Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
WTO:
World Trade Organization
Tổ chức Thương mại Thế giới
USD:
United States dollar
Đồng đô la Mỹ
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Tình hình thu hồi đất tại xã Đại Phước................................................... 31
Bảng 2.2. Đánh giá của đối tượng khảo sát về tính minh bạch trong cơng tác quản
lý nhà nước về thu hồi đất tại xã Đại Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai....42
phương nơi có đất bị thu hồi cho các dự án phát triển kinh tế, xã hội phải hết sức
thận trọng, cân nhắc thật kỹ để có những quyết sách đúng đắn, hài hịa lợi ích giữa
Nhà nước - người có đất bị thu hồi - nhà đầu tư được Nhà nước giao đất, cho thuê
đất. Bất kỳ sự lơ là, tắc trách nào dù nhỏ đều có thể dẫn tới sự xung đột, thậm chí là
sự phản kháng của những người có đất bị thu hồi, dự án của Nhà nước có thể bị
đình trệ, có thể gây mất an ninh trật tự và an toàn xã hội.
Trong thời gian qua, việc chú trọng đến nâng cao năng lực quản lý Nhà nước
về đất đai và thu hồi đất được quan tâm, nhưng vẫn còn thể hiện những yếu kém về
cơ sở khoa học và thực tiễn thực hiện. Nhiều chính sách được ban hành cịn chưa
hợp lý; việc tổ chức thực hiện còn thiếu minh bạch, chưa tạo được đồng thuận của
người dân; nguồn lực về đất đai chưa được sử dụng thật hiệu quả, cịn tình trạng
lãng phí; tham nhũng, tiêu cực, sai phạm xảy ra... gây bất bình và khiếu kiện, khiếu
nại nhiều trong thời gian qua. Với tình hình hiện nay, nếu cơng tác quản lý Nhà
1
nước về thu hồi đất nông nghiệp để thực hiện các dự án không được thay đổi sẽ dễ
dẫn đến bức xúc và niềm tin của người dân đối với Nhà nước. Điều này sẽ gây bất
lợi về mặt chính trị và xã hội, gây khó khăn cho Nhà nước trong quản lý kinh tế vĩ
mơ. Vì vậy đổi mới cơng tác quản lý Nhà nước trong q trình thu hồi đất để thực
hiện các dự án phát triển kinh tế xã hội là vô cùng cần thiết, nhằm điều tiết hợp lý
đất đai, phân phối lại các lợi ích từ đất đai và đảm bảo hài hịa lợi ích của Nhà nước,
nhà đầu tư và đời sống của người dân sau khi thu hồi đất, góp phần phát triển kinh
tế và ổn định chính trị, xã hội. Đổi mới cơng tác quản lý Nhà nước trong q trình
thu hồi đất là vấn đề khó khăn, cần phải dựa trên cơ sở lý thuyết khoa học và có
những giải pháp toàn diện, đúng đắn đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Trong thời gian qua, những địa phương có tốc độ đơ thị hóa nhanh, vấn đề
thu hồi đất cho các mục đích phát triển kinh tế, xã hội gặp rất nhiều trở ngại và
vướng mắc, nhiều trường hợp thu hồi đất gặp phải sự phản đối quyết liệt của người
dân, dẫn đến việc thu hồi đất dây dưa, kéo dài ... thực tế ở xã Đại Phước, huyện
cứu một cách hệ thống và tồn diện.
Trong q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tốc độ đơ thị hóa
mạnh, phát sinh những mâu thuẫn về quyền và lợi ích giữa người sử dụng đất bị thu
hồi đất với quyền lợi của Nhà nước trong các chính sách về bồi thường, hỗ trợ khi
nhà nước thu hồi đất.
Cho đến nay, nước ta đã có một số cơng trình nghiên cứu của nhiều nhà khoa
học và nhà quản lý về đất đai cũng như về thu hồi đất, chẳng hạn cơng trình của
Nguyễn Khắc Sơn, năm 2007, đã nêu ra những vấn đề chính về quản lý nhà nước về
đất đai của Việt Nam bao gồm: những vấn đề chung về quản lý hành chính nhà nước
và quản lý nhà nước về đất đai; q trình phát triển của cơng tác quản lý nhà nước
về đất đai của Việt Nam từ khi lập nước đến nay; nội dung quản lý đất đai được đề
cập ở đây như ban hành các văn bản về đất đai và tổ chức thực hiện, xác định địa
giới hành chính, khảo sát, lập quy hoạch, quản lý việc giao đất thu hồi đất, đăn ký
quyền sử dụng, thống kê về đất đai…
Chính sách chuyển đổi đất đai đã được thực hiện như một phần của chính
sách đổi mới kinh tế. Các tác giả như Nguyễn Đình Bồng, năm 2014, với ấn phẩm
“Mơ hình quản lý đất đai hiện đại ở các nước và kinh nghiệm cho Việt Nam”;
Nguyễn Văn Sửu, năm 2010, với ấn phẩm “Đổi mới chính sách đất đai ở Việt
3
Nam”. Từ lý luận đến thực tiễn đều khẳng định vấn đề ruộng đất không chỉ là vấn
đề kinh tế mà cịn thuộc loại vấn đề chính trị và tác động đến sự phát triển kinh tế xã hội của các nước trên thế giới, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển. Trong
đó, các tác giả đề cập đến q trình chuyển đổi và thu hồi đất nơng nghiệp như một
quá trình tất yếu của sự phát triển đất nước. Trong quá trình này, nội dung của quản
lý Nhà nước bao gồm việc ban hành và thực hiện các chính sách để điều tiết đất đai.
Đây là những chính sách có tầm quan trọng thiết yếu đối với tăng trưởng bền vững,
quản trị quốc gia hiệu quả, tạo phúc lợi và các cơ hội kinh tế mở ra cho cả người
dân nông thôn và thành thị, đặc biệt là người nghèo.
3.
người sử dụng đất; Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai.
Về mặt không gian: Công tác quản lý nhà nước về thu hồi đất tại xã Đại
Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
Thời gian nghiên cứu: Từ khi có Luật Đất đai năm 2013 đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu này tác giả sử dụng các phương pháp như:
-
Phương pháp so sánh, phân tích… được sử dụng trong Chương 1 tìm hiểu
một số vấn đề lý luận về Pháp luật thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế, xã hội.
-
Phương pháp phân tích thống kê, so sánh, tổng hợp… để phân tích, đánh
giá thực trạng quản lý thu hồi đất tại xã Đại Phước, đồng thời đề xuất một số giải
pháp tích cực nhằm hồn thiện công tác quản lý nhà nước về thu hồi đất trên địa bàn
xã.
-
Phương pháp điều tra khảo sát: Luận văn tiến hành khảo sát bằng bảng hỏi
đối với 60 trường hợp là cán bộ công chức cấp xã, huyện và người dân Đại Phước
trong diện có đất bị thu hồi.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn phân tích được thực trạng, quản lý nhà nước trong thu hồi đất, làm
rõ các mối quan hệ, lợi ích trong việc thu hồi đất để phát triển kinh tế, xã hội tại xã
Đại Phước. Chỉ ra những bất cập của quy định trong Luật Đất đai và các văn bản
pháp luật có liên quan khác, những bất cập trong cơng tác quản lý. Từ đó đề xuất
giải pháp hồn thiện quản lý nhà nước về thu hồi đất tại xã Đại Phước, huyện Nhơn
Đất đai có tính cố định vị trí, khơng thể di chuyển được, tính cố định vị trí
quyết định tính giới hạn về quy mơ theo không gian và chịu sự chi phối của các yếu
tố mơi trường nơi có đất. Mặt khác, đất đai khơng giống các hàng hóa khác có thể
sản sinh qua q trình sản xuất do đó, đất đai là có hạn. Tuy nhiên, giá trị của đất
đai ở các vị trí khác nhau lại khơng giống nhau. Đất đai ở đơ thị có giá trị lớn hơn ở
nơng thơn và vùng sâu, vùng xa; đất đai ở những nơi tạo ra nguồn lợi lớn hơn, các
điều kiện cơ sở hạ tầng hồn thiện hơn sẽ có giá trị lớn hơn những đất đai có điều
kiện kém hơn.
Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ đất đai phong phú hơn rất nhiều,
quyền sử dụng đất được trao đổi, mua bán, chuyển nhượng và hình thành một thị
trường đất đai. Lúc này, đất đai được coi như là một hàng hóa và là một hàng hóa
đặc biệt. Thị trường đất đai có liên quan đến nhiều thị trường khác và những biến
động của thị trường này có ảnh hưởng đến nền kinh tế và đời sống dân cư.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của thu hồi đất
1.1.2.1. Khái niệm thu hồi đất
7
Ngược lại với khái niệm giao đất, cho thuê đất là những hình thức pháp lý
làm hình thành một quan hệ pháp luật đất đai thì thu hồi đất là một biện pháp pháp
lý làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai. Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học thu
hồi đất được hiểu là: “Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi quyền sử dụng đất
của người vi phạm quy định về sử dụng đất để Nhà nước giao cho người khác sử
dụng hoặc trả lại cho chủ sử dụng đất bị lấn chiếm. Trường hợp thật cần thiết, Nhà
nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích an
ninh, quốc phịng, lợi ích quốc gia, cơng cộng”. Hiến pháp năm 2013 quy định:
“Nhà nước thu hồi đất do cá nhân, tổ chức đang sử dụng trong trường hợp thật cần
thiết do luật định vì mục đích quốc phịng, an ninh; phát triển kinh tế, xã hội vì lợi
ích quốc gia, công cộng. Việc thu hồi đất phải minh bạch, công khai và được bồi
phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội và nhu cầu của các chủ thể sử dụng
đất;
-
Việc thu hồi đất xuất phát từ nhu cầu của Nhà nước và xã hội hoặc là biện
pháp chế tài được áp dụng nhằm xử lý các hành vi vi phạm pháp luật đất đai của
người sử dụng đất. Như vậy, chúng ta có thể hiểu thu hồi đất như sau: Là các văn
bản hành chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm chấm dứt một quan hệ
pháp luật đất đai để phục vụ lợi ích của Nhà nước, của xã hội hoặc xử lý hành chính
hành vi vi phạm pháp luật đất đai của người sử dụng đất và các trường hợp chấm
dứt khác theo luật định.
1.1.2.2. Đặc điểm của thu hồi đất
Qua việc phân tích khái niệm thu hồi đất, thì thu hồi đất có ba đặc điểm cơ
bản sau:
- Thu hồi đất phải do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành: Thu hồi
đất được thực hiện bởi quyết định thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Trong đó xác định rõ lý do thu hồi, mục đích thu hồi, chủ thể bị thu hồi, diện tích
thu hồi. Thực tế cho thấy, dù thu hồi đất ở phương diện nào, do nhu cầu của Nhà
nước hay do lỗi của người sử dụng đất thì hệ quả cũng làm mất đi quyền khai thác,
sử dụng và sinh sống ổn định của một chủ thể đối với đất bị thu hồi, cho nên, việc
chấm dứt đó phải hết sức thận trọng và cân nhắc kỹ lưỡng. Theo đó, quy định của
pháp luật xác định rõ cơ quan nào có thẩm quyền thu hồi đất thì cơ quan đó mới
được thực hiện quyền này mà không cơ quan nào khác thay thế. Quy định này nhằm
nâng cao vai trò và trách nhiệm của Nhà nước trước mỗi quyết định thu hồi đất.
-
Thu hồi đất được thực hiện theo một trình tự, thủ tục nhất định: thu hồi đất
là một trong những nội dung cơ bản của quản lý Nhà nước về đất đai cùng với việc
bảo vệ các quyền hợp pháp đối với đất đai, mục tiêu cuối cùng là sử dụng đất tiết
kiệm, hiệu quả và bảo vệ môi trường trên phạm vi cả nước và ở từng địa phương.
Nội dung của công tác quản lý Nhà nước về đất đai được quy định trong Luật
Đất đai năm 2013. Tại Điều 22 có chỉ rõ quản lý nhà nước về đất đai bao gồm: ban
10
hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện
văn bản đó; xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính,
lập bản đồ hành chính; khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử
dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra
xây dựng giá đất; quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; quản lý việc giao đất,
cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất; quản lý việc bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư khi thu hồi đất; đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất; thống kê, kiểm kê đất đai; xây dựng hệ thống thông tin đất đai; quản lý tài
chính về đất đai và giá đất; quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của
người sử dụng đất; thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành
quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai; Phổ biến,
giáo dục pháp luật về đất đai; giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại,
tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai; quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai”.
Quản lý nhà nước về đất đai ở Việt Nam có những nét khác biệt với nhiều
nước trên thế giới đó là: đất đai thuộc sở hữu tồn dân, có nghĩa là quản lý nhà nước
về đất đai phải thể hiện được vai trị làm chủ của người dân thơng qua các hoạt động
kiểm tra giám sát; sử dụng đất đai nhằm đem lại hiệu quả lớn nhất cho người dân,
cho cộng đồng, cho xã hội. Nhà nước trong đó có chính quyền địa phương các cấp
là Nhà nước của dân, do dân bầu ra và thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân
về đất đai tại địa bàn theo quy định của pháp luật. Những mục đích tốt đẹp đó cần
được thể chế hố bằng các chính sách và các phương pháp tổ chức thực hiện khoa
học trong quản lý nhà nước về đất đai của chính quyền các cấp bằng các hành động
hội là một công cụ để triển khai thực hiện các nhiệm vụ của chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch và chương trình phát triển một cách hiệu quả nhất. Góp phần giải quyết
quan hệ cung cầu về vốn trong phát triển kinh tế - xã hội và giải quyết quan hệ cung
cầu về sản phẩm, dịch vụ trên thị trường. Cải thiện đời sống dân cư và cải biến bộ
mặt kinh tế - xã hội của từng địa phương, từng vùng và của cả nước. Là một phương
pháp kế hoạch hóa được áp dụng tại nhiều nước trên thế giới. Đây là công cụ để
triển khai thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu của kế hoạch với hiệu quả kinh tế - xã hội
cao nhất. Với vai trị và tầm quan trọng đó, Nhà nước với vị thế là tổ chức của
quyền lực chính trị, kinh tế và pháp lý, là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và
12
là chủ thể quản lý thống nhất toàn bộ vốn đất của quốc gia có quyền phân bổ và
điều chỉnh đất đai, thu hồi đất của những người đang sử dụng để chuyển giao cho
chủ thể khác sử dụng cho mục đích quan trọng này.
- Sự cần thiết phải thu hồi đất cho mục đích phát triển kinh tế, xã hội: Đất đai
là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của dân tộc ta, là hiện thân của chủ quyền, của
lãnh thổ quốc gia, là tư liệu sản xuất không gì có thể thay thế được trong sản xuất
nơng nghiệp, là nguồn nội lực để phát triển đất nước. Tuy nhiên, vốn đất là có hạn,
2
hiện tổng quỹ đất tự nhiên của nước ta hiện nay chiếm khoảng 331.699 km , trong
khi đó, dân số khoảng 96.880.645 triệu người, đứng thứ 15 trên thế giới. Mật độ dân
2
số của Việt Nam là 290 người/km , nhưng dân cư phân bố không đồng đều, phần
lớn là tập trung vào các khu đơ thị, các thành phố lớn (Số liệu tính đến ngày
31/12/2019 theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019).
Dân cư phân bố không đồng đều giữa những nơi có kinh tế phát triển, điều
kiện tự nhiên thuận lợi và những vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao, điều kiện khó
bản với tổng diện tích đất tự nhiên 25 nghìn ha.
Chính vì vậy, nhu cầu về đất đai cho các dự án đầu tư trong và ngoài nước là
một vấn đề rất cần thiết và quan trọng. Việc thu hồi đất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao cho các dự án đầu nhằm đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế cũng là vấn đề cần
thiết đặt ra và cần phải thực hiện. Cùng với đó, điều khơng thể phủ nhận rằng, thu
hồi đất cho các dự án phát triển kinh tế cũng là một trong những phương thức
chuyển dịch đất đai có hiệu quả, nâng cao giá trị sử dụng đất, từng bước thực hiện
thành công của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp và thương
mại dịch vụ.
Điều 62 Luật Đất đai 2013 quy định Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh
tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, cơng cộng trong các trường hợp sau đây:
-
Thực hiện các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ
trương đầu tư mà phải thu hồi đất;
-
Thực hiện các dự án do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư
mà phải thu hồi đất, bao gồm:
+ Dự án xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu
kinh tế; khu đô thị mới, dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức
(ODA);
14
+
Dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính
Dự án khai thác khoáng sản được cơ quan có thẩm quyền cấp phép, trừ
trường hợp khai thác khống sản làm vật liệu xây dựng thơng thường, than bùn,
khống sản tại các khu vực có khống sản phân tán, nhỏ lẻ và khai thác tận thu
khoáng sản.
Từ việc phân tích khái niệm cũng như đặc điểm của thu hồi đất chúng ta có
thể thấy rằng thu hồi đất là một khái niệm khá phức tạp và phải được xem xét từ
nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, các khái niệm đều có một điểm chung về chủ
thể của thu hồi đất đó là Nhà nước, nhà đầu tư và người sử dụng đất. Vì vậy, để cân
15
bằng lợi ích của ba chủ thể này thì vai trò điều tiết của Nhà nước là cực kỳ quan
trọng. Để làm được điều đó thì Nhà nước phải làm tốt hai chức năng cơ bản của
mình đó là chức năng quản lý và chức năng phục vụ. Có như vậy việc thu hồi đất
mới góp phần vào việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Nội dung của quá trình thu hồi đất bao gồm chuyển mục đích sử dụng đất và
chuyển đối tượng sử dụng đất. Vì vậy, quản lý Nhà nước trong quá trình thu hồi đất
nông nghiệp bao gồm việc thiết lập và thực hiện tất cả các quy tắc, cách thức, quy
trình, cấu trúc và các phương pháp mà các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sử
dụng, để định huớng, điều tiết, thúc đẩy, tạo điều kiện cho các quyết định về chuyển
mục đích sử dụng đất nơng nghiệp và chuyển đối tượng sử dụng đất đó. Các chủ thể
và đối tượng tham gia, mục đích, nội dung và các cơng cụ quản lý Nhà nước trong
quá trình thu hồi đất sẽ được trình bày trong các nội dung tiếp theo.
1.2.2. Mục đích quản lý Nhà nước trong q trình thu hồi đất
Quản lý Nhà nước trong quá trình thu hồi đất được thực hiện hướng tới các
mục đích cụ thể gồm:
Một là, quản lý nhà nước nhằm quản lý quỹ đất, sử dụng đất đai hiệu quả và