115
CHƯƠNG X.
CÁC BỆNH LIÊN QUAN ĐẾN DINH DƯỠNG
I Các bệnh thiếu dinh dưỡng có ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng
Những kết quả nghiên cứu của khoa học dinh dưỡng đã chỉ ra trong thức ăn có chứa các
thành phần dinh dưỡng cần thiết đối với cơ thể, đó là các chất protein, lipid, các vitamin,
các chất khoáng và nước. Sự thiếu một trong các chất này có thể gây ra nhiều bệnh tật
như bệnh scobut do thiếu vitamin C đã lấy đi sinh mạng 100 trong số 160 thủy thủ theo
Vasco de Gama tìm đường sang phương Đông, viêm da pellagre hay gặp ở các vùng ăn
toàn ngô do thiếu vitamin PP, bệnh tê phù do thiếu vitamin B
1
... Người ta gọi đó là các
bệnh thiếu dinh dưỡng đặc hiệu, nghĩa là nguyên nhân chủ yếu là do thiếu một thành phần
dinh dưỡng nào đó.
Nhờ áp dụng kiến thức dinh dưỡng vào chăm sóc sức khỏe; nhiều loại bệnh này được đẩy
lui về quá khứ. Tuy vậy ở các nước nghèo vẫn còn nổi trội lên các vấn đề sức khỏe do
thiếu dinh dưỡng, các bệnh thiếu dinh dưỡng quan trọng nhấ
t hiện nay là thiếu protein-
năng lượng, thiếu vitamin A và bệnh khô mắt, thiếu máu dinh dưỡng, thiếu iot và bệnh
bướu cổ. Các đặc điểm về tình trạng dinh dưỡng là những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá
tình trạng sức khoẻ và phát triển của một cộng đồng.
Dinh dưỡng là một trong những nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến các dạng rối loạn
thường gặp. Do vậy sự
phát hiện vai trò cần thiết của các chất dinh dưỡng trong thức ăn
mà khi thiếu có thể gây ra các bệnh đặc hiệu như các bệnh thiếu vitamin, bướu cổ, khô
mắt, kwashiorkor... Người ta gọi đó là các bệnh thiếu dinh dưỡng đặc hiệu, nguyên nhân
chủ yếu là do thiếu một thành phần dinh dưỡng nào đó.
Đói và các bệnh thiếu dinh dưỡng hiển nhiên là đặc điểm của các nước nghèo nhưng liệu
các nước đã no, d
Tiểu đường
Chất xơ K đại tràng Thịt, chất béo
116
K trực tràng Bia
Béo phì Năng lượng
Đường
Chất béo, rượu
Ca, Fluor Loãng x
ương
Vitamin D Mềm xương
Viêm khớp
Fe, acid folic Thiếu máu
Hình 10.1 Mối quan hệ giữa dinh dưỡng và bệnh tật
1.1 Thiếu dinh dưỡng protein-năng lượng (Protein Energy Malnutrition
PEM)
Thiếu dinh dưỡng protein năng lượng là loại thiếu dinh dưỡng quan trọng nhất ở trẻ em,
với biểu hiện lâm sàng bằng tình trạng chậm lớn và hay đi kèm với các bệnh nhiễm
khuẩn. Thiếu dinh dưỡng protein năng lượng ở trẻ em thường xảy ra do:
117
- Chế độ ăn thiếu về số lượng và chất lượng
- Tình trạng nhiễm khuẩn, đặc biệt là các bệnh đường ruột, sởi, và viêm cấp đường
hô hấp dẫn đến giảm ngon miệng và giảm hấp thu.
Suy dinh dưỡng thể còm Marasmus là thể thiếu dinh dưỡng nặng hay gặp nhất. Ðó là hậu
quả của chế độ ăn thiếu cả nhiệt lượng lẫn protein do cai sữa sớ
m hoặc ăn bổ sung không
Suy dinh dưỡng bắt đầu từ biểu hiện chậm lớn cho đến các thể nặng là Marasmus và
Kwashiorkor. Trong hoạt động chăm sóc sức khỏe ban đầu, việc nhận biết các thể nhẹ và
vừa có ý nghĩa quan trọng đặc biệt. Trong điều kiện thực địa, người ta chủ yếu dựa vào
các chỉ tiêu nhân trắc (cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi, cân nặng theo chiều cao,
vòng cánh tay) để phân loại tình trạng suy dinh d
ưỡng. Khi đo vòng cánh tay cần sờ nắn
để đánh giá tình trạng lớp mỡ dưới da.
Ở cộng đồng, cách phân loại thông dụng nhất trước đây do Gomez F. đưa ra từ năm 1956
dựa vào cân nặng theo tuổi quy ra phần trăm của cân nặng chuẩn. Thiếu dinh dưỡng độ 1
tương ứng 75% - 90% của cân nặng chuẩn. Thiếu dinh dưỡng độ 2 tương ứng 60%-75%
của cân nặng chuẩn. Cách phân loại của Gomez F. đơn gi
ản nhưng không phân biệt được
thiếu dinh dưỡng mới xảy ra hay đã lâu.
Ðể khắc phục nhược điểm đó, Waterlow J.C. đề nghị cách phân loại như sau: Thiếu dinh
dưỡng thể gầy còm (tức là hiện đang thiếu dinh dưỡng) biểu hiện bằng cân nặng theo
chiều cao thấp so với chuẩn, thiếu dinh dưỡng thể còi cọc (tức là thiếu dinh dưỡng trường
diễn) dựa vào chiều cao theo tu
ổi thấp so với chuẩn. Theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế
thế giới, các chỉ tiêu thường dùng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng là cân nặng theo tuổi
và cân nặng theo chiều cao (Bảng 10.2).
Bảng 10.2 Bảng phân loại theo Waterlow
Cân nặng theo chiều cao
(80 % hay -2SD)
Trên Dưới
Trên Bình thường Thiếu dinh dưỡng gầy
còm
Quáng gà (trẻ 24 - 71 tháng) : trên 1%
Vệt Bitot : trên 0,5%
Khô/loét/nhũn giác mạc : trên 0,01%
Sẹo giác mạc : trên 0,05%
Hàm lượng vitamin A trong
huyết thanh dưới 10 mcg/ml : trên 5%
Các nghiên cứu của Viện Dinh Dưỡng cho thấy tỷ lệ mắc bệnh chung là 0,72%, trong đó
tỷ lệ
tổn thương giác mạc là 0,075 và sẹo giác mạc là 0,12% cao hơn nhiều so với tiêu
chuẩn đề nghị của OMS. Hầu hết các trường hợp khô nhuyễn giác mạc hoạt tính thấy ở
nhóm tuổi từ 12 - 36 tháng. Nhóm tuổi 25 - 36 tháng mắc bệnh nhiều nhất với các biểu
hiện lâm sàng nặng nhất. Thiếu Vitamin A liên quan chặt chẽ với suy dinh dưỡng. Các
tổn thương hoạt tính ở mắt thường gặp ở trẻ suy dinh dưỡng n
ặng. Chỉ tiêu đánh giá tình
trạng dinh dưỡng vitamin A thể hiện ở Bảng 10.3. 120
Dưới 200 Dưới 10 Dưới 10 Xuất hiện các biểu hiện
lâm sàng (quáng gà, khô
giác mạc, loét và nhũn
giác mạc)
1.3 Thiếu máu dinh dưỡng
Thiếu máu dinh dưỡng là một vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng ở Việt nam nhưng
các số liệu về tỷ lệ mắc bệnh và các nhân tố nguy cơ vẫn còn chưa đầy đủ. Trong các điều
tra dịch tễ học ở cộng đồng, tổ chức Y tế thế giới khuyến nghị lấy các mức hemoglobin
(Hb) sau đây là thiếu máu:
Trẻ em 6 tháng - 6 tuổi 110 g/l
Trẻ
em 7 tuổi - 14 tuổi 120 g/l
Nam giới trưởng thành 130 g/l
Nữ trưởng thành 120 g/l
Bà mẹ mang thai 110 g/l
Các kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thiếu máu cao nhất ở trẻ em 6 - 24 tháng và phụ nữ
có thai. Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thiếu máu tương đối thấp ở đồng bằng Bắc Bộ, cao