VJE
Tạp chí Giáo dục, Số 480 (Kì 2 - 6/2020), tr 36-40
ISSN: 2354-0753
MỘT SỐ KHÓ KHĂN VÀ MỨC ĐỘ ẢNH HƯỞNG
CỦA CÁC YẾU TỐ TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC
HỌC PHẦN “PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC”
CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP
Phạm Thị Diệu Thúy
Article History
Received: 24/3/2020
Accepted: 13/4/2020
Published: 20/6/2020
Keywords
difficulties, influencing
factors, an integrated
perspective, educational
research methodology,
students of educational
universities.
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Email: [email protected]
ABSTRACT
Currently, the competency of doing research is considered one of the important
competencies that need to be developed for pedagogical students, especially
through Educational Research Methodology module. The paper analyzes some
difficulties and the influences of some factors in the teaching process of Educational
Research Methodology module for pedagogical universities students from an
Theo Xavier Roegiers (1996), “Quan điểm sư phạm tích hợp là một quan niệm về q trình học tập góp phần
hình thành ở học sinh những năng lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho học sinh, nhằm phục vụ
cho các quá trình học tập tương lai hoặc nhằm hòa nhập học sinh vào cuộc sống lao động. Như vậy, “sư phạm tích
hợp nhằm làm cho q trình học tập có ý nghĩa”. Từ định nghĩa trên, có thể hiểu DHTH là q trình dạy học mà ở
đó, các thành phần năng lực được tích hợp với nhau trên cơ sở các tình huống cụ thể để hình thành năng lực cho
người học (Đặng Thị Thuận An và Trần Trung Ninh, 2015).
36
VJE
Tạp chí Giáo dục, Số 480 (Kì 2 - 6/2020), tr 36-40
ISSN: 2354-0753
Ngoài ra, qua nghiên cứu tài liệu, chúng tơi thấy cịn nhiều quan niệm khác nhau về DHTH, như quan niệm
về DHTH của UNESCO (dẫn theo Trần Bá Hồnh, 2002), khái niệm về DHTH trong Chương trình giáo dục phổ
thông tổng thể (Bộ GD-ĐT, 2018). Các quan niệm trên đều có sự thống nhất ở chỗ coi DHTH là một quan điểm
sư phạm; ở đó, người học cần huy động mọi nguồn lực để giải quyết một tình huống phức hợp, có vấn đề nhằm
phát triển các năng lực và phẩm chất cá nhân (Trần Thị Thanh Thủy và cộng sự, 2016). DHTH là quá trình dạy
học mà ở đó các hoạt động dạy học, kiến thức, kĩ năng và thái độ được tích hợp với nhau trong cùng một nội dung
dựa trên các tình huống thực tiễn, hoạt động nghề nghiệp để hình thành và phát triển năng lực cho người học
(Phạm Hồng Quân, 2019).
- DHTH ở trường đại học sư phạm:
Theo chúng tôi, DHTH ở trường đại học sư phạm là Hoạt động kết hợp các đối tượng học tập có liên quan đến
nhau của một hoặc một số lĩnh vực môn học khác nhau thành một nội dung thống nhất nhằm hình thành cho SV
trường đại học sư phạm các năng lực chung và năng lực nghề nghiệp cần thiết để giải quyết hiệu quả các vấn đề
học tập, vấn đề xã hội và thực tiễn nghề nghiệp.
- Dạy học học phần PPNCKHGD cho SV trường đại học sư phạm theo quan điểm tích hợp: Theo chúng
tôi, đây là hoạt động kết hợp các đối tượng học tập của học phần PPNCKHGD có liên quan đến nhau và có
32
60,4
2
2
Xác định mục tiêu bài học tích hợp
21
39,6
4
3
Xác định các năng lực cần hình thành cho SV
18
34,0
7
4
Lập kế hoạch bài giảng tích hợp
VJE
Tạp chí Giáo dục, Số 480 (Kì 2 - 6/2020), tr 36-40
ISSN: 2354-0753
7
Lựa chọn hình thức kiểm tra, đánh giá
11
20,8
14
8
Quản lí hoạt động của lớp học
13
24,5
11
9
Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học còn thiếu
24
45,3
3
13
SV còn thiếu kiến thức chuyên ngành
33
62.3
1
14
SV chưa hứng thú với hình thức DHTH
13
24,5
11
Bảng 1 cho thấy, trong những khó khăn được đưa ra, có 62,3% GV (xếp thứ bậc 1) cho rằng “SV còn thiếu kiến
thức chuyên ngành” khi học học phần này. Qua tìm hiểu, chúng tơi thấy, trong đa số các chương trình đào tạo, học
phần PPNCKHGD được tổ chức giảng dạy ở năm thứ hai, thậm chí trong một số chương trình đào tạo, học phần này
được tổ chức giảng dạy ở năm thứ nhất, một số ít học ở năm thứ ba hoặc năm thứ tư. Do đó, nhiều GV cho rằng việc
593
72,7
2
2
Thời gian tổ chức dạy học trên lớp ít
349
42,8
3
3
Bản thân khơng hứng thú với chủ đề DHTH mà GV lựa chọn
197
24,1
5
4
Cơ sở vật chất, trang thiết bị của nhà trường chưa đảm bảo
họ như do khả năng tự học, tự nghiên cứu còn chưa đủ đáp ứng và do lượng kiến thức chuyên ngành của bản thân
chưa đầy đủ. Bên cạnh đó, mặc dù với tỉ lệ lựa chọn thấp hơn, nhưng vẫn có một số SV cho rằng nguyên nhân một
phần xuất phát từ phía GV và cơ sở đào tạo như cơ sở vật chất, trang thiết bị của nhà trường chưa đảm bảo, năng lực
DHTH của GV còn hạn chế. Điều này cho thấy, bên cạnh việc rèn luyện cho SV khả năng tự học, tự nghiên cứu để
38
VJE
Tạp chí Giáo dục, Số 480 (Kì 2 - 6/2020), tr 36-40
ISSN: 2354-0753
nâng cao lượng kiến thức chuyên ngành của bản thân họ, GV và cơ sở đào tạo cần có những biện pháp nâng cao
năng lực dạy học của GV, đầu tư hơn nữa trang thiết bị dạy học hiện đại phục vụ quá trình dạy học.
2.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến dạy học học phần Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục cho sinh viên trường
đại học sư phạm theo quan điểm tích hợp
- Đánh giá của CBQL, GV về các yếu tố ảnh hưởng đến dạy học học phần PPNCKHGD cho SV trường đại học
sư phạm theo quan điểm tích hợp
Bảng 3. Đánh giá của CBQL, GV về các yếu tố ảnh hưởng đến dạy học học phần PPNCKHGD
cho SV trường đại học sư phạm theo quan điểm tích hợp
Điểm
Độ lệch
Thứ
STT
Các yếu tố ảnh hưởng
trung bình
chuẩn
bậc
Yếu tố chủ quan
Xu hướng đổi mới của giáo dục đại học Việt Nam trong giai
6
4,04
0,572
5
đoạn hiện nay
7
Quy trình DHTH học phần
4,34
0,754
2
8
Cơ sở vật chất, phương tiện dạy học và mơi trường học tập
3,91
0,692
7
Trung bình
4,06
0,448
Bảng 3 cho thấy, có 4 yếu tố chủ quan và 4 yếu tố khách quan được CBQL và GV đánh giá có ảnh hưởng đến
dạy học học phần PPNCKHGD cho SV trường đại học sư phạm theo quan điểm tích hợp. Cả 8 yếu tố đều được các
CBQL và GV đánh giá ở mức “Ảnh hưởng cao” và “Ảnh hưởng rất cao”. Trong đó, các yếu tố được đánh giá ở mức
độ “Ảnh hưởng rất cao” bao gồm “Năng lực DHTH của GV”, “Quy trình DHTH học phần” và “Tính tích cực, tự
giác trong học tập của SV”. Trong các yếu tố được đưa ra, nhóm các yếu tố chủ quan được CBQL và GV đánh giá
có ảnh hưởng cao hơn các yếu tố khách quan (điểm trung bình của các yếu tố chủ quan là 4,13 so với điểm trung
bình của các yếu tố khách quan là 4,06). Như vậy, những yếu tố được GV đánh giá có ảnh hưởng nhiều nhất chính
là năng lực DHTH của bản thân, quy trình DHTH học phần mà GV lựa chọn và tính tích cực, tự giác trong học tập
của SV.
- Đánh giá của SV về các yếu tố ảnh hưởng đến việc học tập những nội dung DHTH học phần PPNCKHGD
Bảng 4. Đánh giá của SV về các yếu tố ảnh hưởng đến việc học tập những nội dung DHTH
4,25
4,09
4,13
4,16
0,714
0,706
0,733
0,623
1
4
3
3,83
4,21
4,07
3,72
3,71
3,91
0,815
0,767
0,813
0,799
0,838
0,625
6
được GV và SV đánh giá có ảnh hưởng ở mức độ “rất cao” đó là quy trình DHTH mà GV lựa chọn. Đây là tiền đề
để chúng tôi thực hiện biện pháp thiết kế quy trình dạy học học phần PPNCKHGD cho SV trường đại học sư phạm
theo quan điểm tích hợp nhằm định hướng cho GV lựa chọn được một quy trình dạy học phù hợp nhằm nâng cao
chất lượng và hiệu quả của việc dạy học học phần này.
Tài liệu tham khảo
Bộ GD-ĐT (2018). Chương trình giáo dục phổ thơng - Chương trình tổng thể (Ban hành kèm theo Thông tư số
32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT).
Đặng Thị Thuận An, Trần Trung Ninh (2015). Phát triển năng lực dạy học tích hợp cho sinh viên sư phạm Hóa học.
Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt tháng 12, tr 126-128.
Phạm Hồng Quân (2019). Một số biện pháp bồi dưỡng năng lực dạy học tích hợp cho giảng viên khoa học xã hội và
nhân văn ở các trường đại học trong quân đội hiện nay. Tạp chí Giáo dục, số 450, tr 24-28.
Trần Bá Hồnh (2002). Dạy học tích hợp. Tạp chí Khoa học giáo dục, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, số 12, tr
11-14.
Trần Thị Thanh Thủy (chủ biên), Nguyễn Công Khanh, Nguyễn Văn Ninh, Nguyễn Mạnh Hưởng, Bùi Xuân Anh,
Lưu Thị Thu Hà (2016). Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh - Quyển 2. NXB Đại học Sư phạm.
Viện Ngôn ngữ học (2006). Từ điển tiếng Việt. NXB Đà Nẵng.
Xavier Roegiers (Đào Trọng Quang và Nguyễn Ngọc Nhi dịch, 1996). Khoa sư phạm tích hợp hay làm thế nào để
phát triển các năng lực ở nhà trường. NXB Giáo dục.
40