“Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên vùng đất dốc ở huyện Nghĩa Đàn - Nghệ An” - Pdf 70

Luận văn tốt nghiệp SV: Hồ Thị Hồng Hạnh - KHĐ51
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài:
Đất là tài nguyên vô cùng quý giá, là địa bàn phân bố của con người,
là nơi phát triển xây dựng các cơ sở kinh tê – văn hoá – xã hội. Đặc biệt
đất là tài liệu không có gì thay thế được trong sản xuất nông - lâm – ngư
nghiệp. Hầu hết các nước trên thế giới đều xây dựng một nền kinh tế trên
cơ sở phát triển nông nghiệp dựa vào khai thác tiềm năng của đất, lấy đó
làm cơ sở cho sự phát triển của các ngành khác. Do đó, việc tổ chức sử
dụng nguồn tài nguyên đất hợp lý đầy đủ và đem lại hiệu quả cao theo
quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đang trở thành vấn đề cấp
thiết.
Trong mấy thập kỷ gần đây, do sự gia tăng của dân số quá nhanh
cùng với sự phát triển của Khoa học kỹ thuật đã làm cho yêu cầu sử
dụng đất ngày càng cao. Đất không những dành cho nông – lâm – ngư
nghiệp mà còn tham gia vào mục đích khác như công nghiệp, thương
nghiệp, dịch vụ, giao thông, … Việc sử dụng đất vào nhiều mục đích
khác nhau đã làm ảnh hưởng tới đất theo nhiều hướng khác nhau. Trên
thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đặc biệt quan tâm tới vấn đề
phát triển bền vững, trong đó việc sử dụng đất bền vững là một lí do để
FAO đề ra “Hiến chương đất đai “ hợp lí vì sự an toàn lương thực và sự
tồn tại của loài người trên thế giới.
Vấn đề cấp thiết có tính toàn cầu là cần có kế hoạch, biện pháp
bảo vệ và xây dựng đầy đủ, hợp lí tài nguyên đất - nguồn tài nguyên
đang trở nên khan hiếm để phát triển nông nghiệp bền vững. trong đó
việc sử dụng những vùng đất dốc được đặt lên hàng đầu vì việc sử dựng
1
Luận văn tốt nghiệp SV: Hồ Thị Hồng Hạnh - KHĐ51
vùng đất dốc nếu không được chú trọng quản lí một cách chặt chẽ sẽ gây
ra hiện tượng xói mòn rửa trôi làm thoái hoá đất một cách nhanh chóng.
Đặc biệt, ở Việt Nam là một nước nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa,

3
Luận văn tốt nghiệp SV: Hồ Thị Hồng Hạnh - KHĐ51
1.2. Mục tiêu và yêu cầu nghiên cứu:
1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu:
- Đánh giá các loại hình sử dụng đất dốc và lựa chọn các loại hình
sử dụng đất dốc có hiệu quả và bền vững ở huyện Nghĩa Đàn - Nghệ An.
- Đề xuất hướng sử dụng đất hợp lí, bền vững cho vùng đất dốc
trên địa bàn nghiên cứu.
1.2.2. Yêu cầu nghiên cứu:
- Số liệu thu thập phải đảm bảo chính xác, trung thực và có ý nghĩa
đối với mục đích sử dụng đất sản xuất nông nghiệp.
- Các điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của vùng cần được xem xét,
cân nhắc kỹ cho các hướng sử dụng đất hợp lí, hiệu quả và biện pháp.
- Các phương pháp và các hệ thống chỉ tiêu vận dụng trong đánh giá
phải mang tính khoa học phù hợp với thực tiễn.
- Phương hướng, giải pháp đưa ra nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
đất dốc của địa phương nghiên cứu phải đảm bảo tính khả thi và phù hợp với
điều kiện thực tế của vùng.
4
Luận văn tốt nghiệp SV: Hồ Thị Hồng Hạnh - KHĐ51
PHẦN II: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng đất dốc trên thế giới và ở
Việt Nam:
2.1.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng đất dốc trên thế giới:
Trên thế giới, đất dốc đã được người dân khai thác và sử dụng cho các
mục đích nông lâm ngư nghiệp từ rất lâu đời. Đất dốc chiếm 14.7% tổng tài
nguyên đất của thế giới.
Nhìn chung, đối với các nước có trình độ phát triển vấn đề sử dụng
đất dốc được người ta nhìn nhận một cách thích hợp trên cơ sở khai thác một

bền nguồn tài nguyên đất dốc ở các khía cạnh khác nhau. Một số công trình
nghiên cứu đất dốc, xói mòn trên đất dốc được tiến hành trong 15 năm gần
đây tại Srilanka, Ấn Độ, Oxtraylia, Nhật Bản, Thái Lan… Đã đi đến kết luận
là: Hiện tượng nghiêm trọng xẩy ra ở vùng nhịêt đới là do tính xâm kích rất
mạnh của khí hậu hơn là do tính cảm ứng hay tính bền vững của đất nhiệt
đới. Ngoài các trận mưa làm đất bị rửa trôi và suy thoái còn có một nhân tố
khí hậu khác tác dụng thay đổi tính chất vật lý của đất đó là sự bốc hơi nước
xẩy ra mãnh liệt về mùa khô, làm phần trên của phẫu diện đất bị khô, sự kết
dính tăng mạnh gây bất lợi cho sinh trưởng và phát triển của thực vật. Về sự
rửa trôi, những cơn mưa nhiệt đới có cường độ mạnh đã mang theo những
nguyên tố khoáng kéo chúng xuống sâu vượt khỏi tầm hút của rễ cây. Người
ta nhận thấy rằng tình trạng nghèo chất hoá học do rửa trôi ở vùng nhiệt đới
rất khác nhau tùy từng nơi, đặc biệt khác nhau lớn ở những vùng nhiệt đới
ẩm hoặc xích đạo. Chẳng hạn như dưới rừng chuối ở Azaguize và rừng
chuối ở Versalless ﴾Pháp﴿ tổn thất Ca
2+
tương tự nhau. Nhưng ở Versalless
6
Luận văn tốt nghiệp SV: Hồ Thị Hồng Hạnh - KHĐ51
tổn thất về đạm cao gấp 5 lần, về Mg
2+
cao gấp 11 lần, K
+
gấp 74 lần so với ở
Azaguize. [ 4 ].
Sản xuất trên đất dốc gặp khó khăn lớn nhất là xói mòn, ở Liên Xô
theo Xô – bô – lép mỗi năm xói mòn đã làm trôi mất 535 triệu tấn đất màu,
gây thiệt hại về kinh tế rất lớn tương đương 4,5 tỷ rúp tại thời những năm
1978 ﴿. Ở Hoa Kỳ, theo H.N Benet, hàng năm xói mòn làm phá hỏng 113
triệu ha đất canh tác và điều này đã làm mất đi trị giá tương đương với 10 tỷ

của việc khai thác rừng và sử dụng đất dốc không có kiểm soát dẫn đến đất
bị suy thoái nghiêm trọng do xói mòn, rửa trôi, bạc màu hoá và sau đó là
hiện tượng xói mòn trơ sỏi đá làm cho đất không có khả năng sản xuất và
điều đáng lưu tâm ở đây là khi lớp đất màu mỡ bị phá huỷ thì phải đòi hỏi
một thời gian rất dài mới phục hồi lại được và trong nhiều trường hợp hầu
như không có khả năng phục hồi.
Bảng 2.1: Tỷ đất bị thoái hoá do xói mòn ở vùng đồi núi Việt Nam
Vùng sinh thái
Tỷ lệ đất dốc
( %)
Tỷ lệ đất thoái hoá
do xói mòn ( %)
1. Miền núi phía Bắc 95 80
2. Miền núi khu IV cũ 80 70
3. Miền núi Duyên Hải miền Trung 70 65
4. Vùng cao nguyên Tây Nguyên 90 60
( Nguồn: Thái Phiên, Nguyễn Tử Xiêm, 1999)
Theo Bùi Quang Toản, ở Vùng Tây Bắc nước ta chỉ tính riêng 10 vạn
ha đất canh tác thì hàng năm xói mòn đã cuốn đi khoảng 27 triệu tấn đất
tương đương với khoảng 4 – 6 vạn tấn Đạm, 2 – 3 vạn tấn Lân và hàng chục
vạn tấn Kali. Một trận mưa lớn ﴾ khoảng 100 – 150mm﴿ có thể làm mất đi
8
Luận văn tốt nghiệp SV: Hồ Thị Hồng Hạnh - KHĐ51
lớp đất dày một đến vài cm, trong khi để tạo ra lớp đất tơi xốp dày 5mm –
2cm thì cần có thời gian khoảng 100 năm.
Diện tích đồi núi nước ta chiếm 2/3 diện tích đất tự nhiên. Do vậy,
việc sử dụng đất đồi núi sản xuất nông - lâm nghiệp chiếm một vị trí quan
trọng trong nền kinh tế. Trong 9 vùng sinh thái thì có 7 vùng thuộc vùng đồi
núi. Trong tổng số 22 triệu ha đất đồi núi thì diện tích đất chưa sử dụng còn
khoảng gần 4.5 triệu ha có khả năng khai thác đưa vào sử dụng.

15 - 25
0
> 25
0
Tỷ lệ ﴾%﴿ 21 14 65
Trước đây, diện tích đất đồi núi sử dụng cho nông nghiệp chỉ vào
khoảng 1,55 triệu ha, cho lâm nghiệp khoảng 9,6 triệu ha ( Nguyễn Khang,
1997) cho đến nay, diện tích đất đồi núi sử dụng cho nông nghiệp lên tới 9,3
triệu ha, cho lâm nghiệp 11,6 triệu ha còn dịên tích đất đồng cỏ và trồng cỏ
để phục vụ chăn nuôi có khoảng 534.000 ha. Đất đồi núi thuận lợi cho việc
mở ra những vùng chuyên canh cây trồng mang tính hàng hoá cao. Ở những
diện tích đã được khai phá ở vùng đồi núi thì diện tích trồng các loại cây lâu
năm mới chỉ khoảng 2,2 triệu ha tập trung chủ yếu các loại cây có giá trị như
cá phê, cao su, chè, hồ tiêu ở Tây Nguyên; cao su, điều ở vùng Đông Nam
bộ; vùng đồi núi phí Bắc được trồng các loại cây chè, trẩu, quế, mía đồi và
các loại cây ăn quả như vải, nhãn, mận, hồng… Theo Nguyễn Tử Siêm,
Thái Phiên 1999 thì ở trung du và đồi núi nước ta có 18 vùng chuyên canh
cây cao su, 13 vùng chuyên canh cây cà phê, 16 vùng chuyên canh cây ăn
quả và 11 vùng chuyên canh cây đặc sản. Những cây trồng này cho thu nhập
cao hơn hẳn so với cây lương thực và mở ra nhiều ngành sản xuất như chế
biến nông sản, dịch vụ tạo thêm công việc cho người lao động, làm thay đổi
bộ mặt kinh tế - xã hội miền núi.[2]
Vùng đồi núi nước ta có độ dốc cao, địa hình chia cắt mạnh, mạng lưới
sông suối dày đặc, sông ngắn dốc, kết hợp với mưa nhiều và tập trung đã tạo
10
Luận văn tốt nghiệp SV: Hồ Thị Hồng Hạnh - KHĐ51
nên dòng chảy trên mặt, cuốn trôi đi nhiều chất dinh dưỡng làm đất bị chua
nhanh và thoái hoá rất mạnh, năng suất cây trồng giảm nghiêm trọng, thậm
chí nhiều nơi không cho thu hoạch. Theo Lê Trọng Cúc ﴾1991﴿ cho biết tình
trạng rửa trôi xói mòn của việc canh tác nương sắn trên đất dốc như sau:

3
/ha/năm và lượng đất trôi 0,23 tấn/ha/năm.
Với độ dốc cao hơn 25
0
, các trị số tương ứng là 142 m
3
/ha/năm và 0,28
tấn/ha/năm. Như vậy, rõ ràng rừng đóng một vai trò rất lớn trong việc hạn
chế dòng chảy bề mặt và lượng đất bị xói mòn rửa trôi. [ 2 ]
11
Luận văn tốt nghiệp SV: Hồ Thị Hồng Hạnh - KHĐ51
Nhiều tác giả đặc biệt quan tâm đến vấn đề canh tác trên đất dốc,
trước hết là luân canh và xen canh trong hệ thống cây trồng. Theo Lê Trong
Cúc 1991 cho rằng: Trồng xen cây họ đậu và cây lương thực đã cho sản
lượng tổng hợp cao hơn và đặc biệt là cải tạo được tính chất của đất rất tốt.
Theo nghiên cứu về hoạt động quang hợp của sắn trồng xen với cây họ đậu ở
Vĩnh Phú cho thấy: Hàm lượng diệp lục, chất khô, cường độ quang hợp cao
hơn so với trồng sắn thuần. Trong công thức sắn xen lạc năng suất lạc đạt
500 – 800 kg/ha, sắn đạt từ 15 – 17 tấn /ha, lượng thân lá lạc để lại cho đất
từ 8 – 10 tấn/ha. Ở đất dốc lạc chịu hạn hơn đậu tương, sử dụng nước cũng
hữu hiệu hơn trong điều kiện khô hạn, Vũ Công Quỳ ﴾ 1995﴿ .[ 2 ]
Để sử dụng hợp lí tài nguyên đất dốc về khía cạnh nông - lâm nghiệp
nhiều tác giả cho rằng phương thức nông lâm kết hợp phải được coi là
phương thức canh tác chiến lược phổ cập, chỉ có như vậy mới giải quyết
được 3 vấn đề:
- An toàn lương thực và sản phẩm hàng hoá
- Đồng cỏ nơi chăn thả gia súc
- Củi đun và nguyên liệu làm nhà
Một số nghiên cứu tiến hành trên đất dốc ở Yên Lập, Việt Trì ,Vĩnh Phúc
và Bắc Thái đã có kết luận: Kết hợp trồng cây phân xanh lâu năm ﴾ đặc biệt

trường sinh thái, nâng cao đời sống tinh thần của người lao động. Đặc biệt
sản xuất nông nghiệp ngoài ngoài những hiệu quả chung về kinh tế xã hội
còn phải quan tâm rất nhiều đến hiệu quả về môi trường để khai thác sử
dụng quỹ đất một cách bền vững.
Nếu chỉ xem xét hiệu quả trên phạm vi cá biệt, mọi hoạt động kinh tế
có thể mang lại hiệu quả kinh tế cho một cá nhân, một đơn vị nhưng xét trên
phạm vi toàn xã hội nó có thể ảnh hưởng xấu đến hiệu quả chung chính vì
vậy đánh giá hiệu quả cần phân định và làm rõ mối quan hệ giữa cái chung
và cái riêng để đưa ra một phương hướng đúng đắn nhất.
13
Luận văn tốt nghiệp SV: Hồ Thị Hồng Hạnh - KHĐ51
Xem xét về mặt thời gian, hiệu quả đạt được cần phải đảm bảo được lợi ích
trước mắt và lâu dài. Tức là hiệu quả đạt được trong từng thời kỳ không
được làm ảnh hưởng tới thời kỳ tiếp theo.
Về mặt không gian, hiệu quả chỉ có thể đạt được một cách toàn diện
khi hoạt động của các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất, hoạt động kinh tế
đều mang lại hiệu quả và không ảnh hưởng chung đến nền kinh tế quốc dân.
Như vậy, đánh giá hiệu quả cần phải xem xét một cách toàn diện cả về
mặt không gian và thời gian trong mối liên hệ biện chứng về mặt hiệu quả
chung của toàn bộ nền kinh tế. Hiệu quả đó bao gồm: Hiệu quả kinh tế, hiệu
quả xã hội và hiệu quả môi trường, chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau
như một thể thống nhất và không tách rời nhau.
* Hiệu quả kinh tế:
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của
các hoạt động kinh tế. Mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội là
đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất và tinh thần của toàn xã hội, khi
nguồn lực sản xuất của xã hội ngày càng khan hiếm, việc nâng cao hiệu quả
kinh tế là một yêu cầu khách quan của mọi nền sản xuất xã hội.
Tính hiệu quả theo Cácmác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản
xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế

phẩm phục vụ cho lợi ích của mình. Tất cả những tác động đó của con người
vào đất đai phải luôn lấy bảo vệ, cải tạo bồi dưỡng đất và bảo vệ cải thiện
môi trường làm mục tiêu.
Mọi hoạt động sản xuất được coi là có hiệu quả khi hoạt động đó
không có những tác động xấu đến môi trường, đó là đất, nước, không khí và
15
Luận văn tốt nghiệp SV: Hồ Thị Hồng Hạnh - KHĐ51
sinh vật. Đây là mục tiêu quan trọng mang tính quyết định đến sự hoạt động
lâu bền trong quá trình sản xuất nông – lâm nghiệp. Nó đảm bảo được các
yếu tố bảo vệ đất, chống xói mòn đất, nâng cao độ phì cho đất, mang lại hiệu
quả cao cho cả hiện tại và tương lai.
PHẦN III: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
16
Luận văn tốt nghiệp SV: Hồ Thị Hồng Hạnh - KHĐ51
Đối tượng nghiên cứu là các điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội liên quan đến
địa bàn nghiên cứu cùng với các loại hình sử dụng đất có hiệu quả nhất ở
vùng đồi núi độ dốc từ 8
0
– 20
0
. Trong đó:
- Đối tượng đất nghiên cứu là vùng đồi núi thấp và trung bình
- Đối tượng sản xuất nông nghiệp là các loại cây trồng như: cây nông nghiệp
ngắn ngày ( lúa, đậu, ngô...), cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày ( sắn,
mía, ca su, cà phê...), cây lâu năm ( cây ăn quả)...Do huyện có diện tích dành
cho trồng cỏ là rất ít ( chiếm 0,08% diện tích đất nông nghiệp cả huyện) nên
tôi xin không xet đến.
3.2. Nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu đánh giá điều kiện tự nhiên – kinh tế và xã hội của vùng

0
.
Mỗi xã được chọn ngẫu nhiên 30 hộ nông dân để điều tra phỏng vấn theo
mẫu phiếu có sẵn.
- Phương pháp phân tích, so sánh: Hiệu quả sử dụng đất dốc được đánh giá
thông qua hệ thống các chỉ tiêu kinh tế - xã hội – môi trường sau:
Các chỉ tiêu chung đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất:
Ở phạm vi giới hạn của đề tài tôi lựa chọn một só chỉ tiêu kinh tế cơ
bản sau:
* Tổng giá trị sản xuất hay là tổng thu nhập chung:( GO )
Là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo ra trong một
thời kỳ nhất định thường là một năm hay một vụ. Đối với hệ thống cây
trồng, tổng giá trị sản xuất chính là giá trị sản lượng trên một đơn vị diện
tích canh tác (ha) .
GO = ∑ Di . Ni . Gi
18
Luận văn tốt nghiệp SV: Hồ Thị Hồng Hạnh - KHĐ51
Trong đó: GO: Giá trị sản xuất cây trồng loại i
Di: Diện tích cây trồng loại i
Ni: Năng suất cây trồng loại i
Gi: Đơn giá tương ứng
* Chi phí trung gian: ( IE )
Là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền mà chủ
thể bỏ ra để mua và thuê các yếu tố đầu vào và chi phí dịch vụ trong thời kỳ
sản xuất tạo ra tổng sản phẩm đó.
IE = ∑ Ci . Gi
Trong đó: Ci: Số lượng chi phí cuả loại đầu tư thứ i
Gi: Đơn giá của loại đầu tư thứ i
* Tổng chi phí vật chất:
Là toàn bộ khoản chi phí vật chất bằng tiền bao gồm cà khấu hao tài

Dựa vào địa bàn nghiên cứu, tôi đánh giá hiệu quả môi trường theo các
chỉ tiêu:
+ Khả năng che phủ hạn chế xói mòn.
+ Khả năng giữ ẩm hạn chế bốc hơi nước
- Phương pháp đánh giá sử dụng đất bền vững.
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
A. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU:
20
Luận văn tốt nghiệp SV: Hồ Thị Hồng Hạnh - KHĐ51
Nghĩa Đàn là một huyện có khá nhiều tiềm năng và lợi thế về đất đai, lao
động cũng như các nguồn lực đầu tư từ ngoài vào cùng với truyền thống
đoàn kết, tinh thần lao động sáng tạo cần cù của nhân dân trong huyện,
Nghĩa Đàn đang từng ngày được đổi mới, nâng cao về tất cả mọi mặt trong
cuộc sống. Tuy nhiên, huyện vẫn còn gặp phải nhiều khó khăn thách thức do
là một huyện miền núi, trình độ dân cư phát triển vẫn chưa được đồng đều,
còn có khá nhiều xã nghèo và khó khăn ở vùng sâu xa, khả năng tiếp cận với
sự phát triển chung của xã hội còn thấp. Hiện nay, huyện vẫn đang cố gắng
tập trung mọi nguồn lực để chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, nâng cao
trình độ dân số, để dần giảm hộ nghèo – đói, nâng cao thu nhập cho người
dân trong huyện. Sau đây là một số kết quả tôi nghiên cứu và thu thập được
về địa bàn nghiên cứu:
4.1. Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội của huyện:
4.1.1. Điều kiện tự nhiên của huyện:
a. Vị trí địa lý:
Huyện Nghĩa Đàn có toạ độ địa lý 105
0
15
'
- 105
0

huyện.
- Nhóm đất nâu vàng: diện tích 3.400 ha, chiếm 5,93% đất toàn
huyện.
- Nhóm đất lúa vàng đồi núi: Diện tích 3.410 ha, chiếm 5,95% đất toàn
huyện.
.- Nhóm đất Feralít đỏ vàng vùng đồi núi (170-200m): Diện tích
30.207 ha, chiếm 52,69% đất thổ toàn huyện.
- Nhóm đất đen: Diện tích 3.870 ha, chiếm 6,75% đất toàn huyện.
- Nhóm đất Feralít đỏ vàng vùng núi thấp (200-1.000m): Diện tích
6.730 ha, chiếm 11,62% đất toàn huyện.
22
Luận văn tốt nghiệp SV: Hồ Thị Hồng Hạnh - KHĐ51
Với đặc điểm địa hình, đất đai trên, Nghĩa Đàn có thế mạnh phát triển đa
dạng các loại cây trồng: địa hình đồi dốc, cao trồng rừng; vùng đồi thoải
trồng cây lâu năm, cây công nghiệp hàng năm, màu các loại; nơi thung lũng
thấp có thể sản xuất lúa nước, rau màu…Do vậy, hiện tại phần lớn quỹ đất ở
Nghĩa Đàn đều đã được khai thác sử dụng, trong đó đến 80,6% cho phát
triển nông nghiệp, 13,7% cho phi nông nghịêp, chỉ còn 5,7% diện tích chưa
sử dụng.
d. Khí hậu:
Huyện Nghĩa Đàn chịu ảnh hưởng của khí hậu vùng Bắc Trung bộ và
vùng Tây Bắc Nghệ An, có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa. Theo tài liệu trạm
khí tượng Tây Hiếu (trung tâm vùng), Nghĩa Đàn có những đặc trưng khí
hậu sau:
- Nhiệt độ trung bình năm 23,3
0
C; trung bình tháng cao nhất 28- 29
0
C
ở các tháng 6,7; trung bình dưới 20

giữ ẩm, che tủ gốc cây đối với cây lâu năm…
- Mùa đông kèm theo gió mùa Đông Bắc gây lạnh, đôi khi gây sương
muối, biện pháp khắc phục là tưới hoặc giữ ẩm cho cây.
e. Thuỷ văn, nguồn nước:
Nghĩa Đàn nằm trong lưu vực Sông Hiếu, là nhánh sông lớn nhất của
hệ thống Sông Cả, phát nguồn từ biên giới Việt - Lào, qua Quế Phong, Quỳ
Châu, Quỳ Hợp về Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, chảy ra Sông Cả tại Cây Chanh
(huyện Anh Sơn). Sông Hiếu dài 217 Km, đoạn chảy qua Thị xã Thái Hoà
và huyện Nghĩa Đàn dài 44 Km (từ ngã ba Dinh đến Khe Đá). Tổng diện
tích lưu vực 5.030 Km2, tính đến Thị xã Thái Hoà có diện tích lưu vực
3.900 Km
2
.
Cùng Sông Hiếu còn có 48 sông suối lớn nhỏ, trong đó có 5 nhánh
chính, đó là Sông Sào dài 34 Km, Khe Cái dài 23 Km, Khe Hang dài 23 Km,
Khe Diên dài 16 Km, Khe Đá dài 17 Km, các sông suối lớn nhỏ có nước
quanh năm và địa hình thích hợp tạo cho Nghĩa Đàn nhiều thuận lợi trong
công tác đầu tư xây dựng các công trình thuỷ lợi, với trên 100 hồ đập có trữ
lượng hàng trăm triệu m3. Trong đó có 2 công trình lớn là hồ Sông Sào và
hồ Khe đá.
24
Luận văn tốt nghiệp SV: Hồ Thị Hồng Hạnh - KHĐ51
Nghĩa Đàn có 3.582 ha sông suối và mặt nước chuyên dùng, là tiềm
năng cung cấp nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt, đồng thời là nguồn lợi
khai thác NTTS, phát triển du lịch sinh thái,…
Nguồn nước ngầm ở Nghĩa Đàn chưa có tài liệu khảo sát, đánh giá
đúng mức, nhưng qua khảo sát từ các giếng khơi cho thấy khá dồi dào, mực
nước ngầm bình quân 6- 7 m, mùa khô hạn 10- 15 m, mùa mưa 4-5 m, có
nơi dưới 2 m. Nước ngầm ở Nghĩa Đàn có nhiều tạp chất của khoáng vật.
f. Tài nguyên thực vật và rừng:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status