5
CHƯƠNG I
GIỚI THIỆU VỀ
Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ
1.1. TỔNG QUAN VỀ Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ
Mosris Neibusger - nhà khí tượng học của một trường đại học ở California đã
trích dẫn từ tạp chí “Today’s Health” do hiệp hội Y học Mỹ xuất bản như sau: “Tất
cả các quốc gia văn minh rồi sẽ đi theo con đường, không phải là những biến động
bất thình lình mà là sự ngẹt thở từ trong bầu không khí chứa chất thải của chính họ”.
Một số nhà sử học đã tiên đoán các giả thiết rằng: “Sự bùng nổ về dân số sẽ kéo
theo các nhu cầu thiết yếu cần nhiều thực phẩm hơn, nhiều nước hơn, cũng như nơi
ở, phương tiện giao thông đi lại và công ăn việc làm. Để thỏa mãn được nhu cầu đó
sẽ không bao giờ chấm dứt được nạn ô nhiễm không khí xung quanh ta”.
Những sông, hồ sạch sẽ từ đời tổ tiên ông bà ta để lại đã nhanh chóng trở thành
các dòng chảy có mùi, những hồ nước thối rữa mà trong đó không một sinh vật nào
dù là nhỏ bé có thể sống nổi. Khả năng tự làm sạch của các dòng chảy hầu như
không còn nữa hoặc với khả năng giảm đi rất nhiều vì các nhân tố gây ô nhiễm gồm
quá nhiều loại nước thải như: nước thải sinh hoạt từ các ống cống, chất giặt tẩy,
thuốc trừ sâu và các chất thải công nghiệp.
Các phương tiện giao thông vận tải như máy bay, tàu hỏa dùng dầu Diesel, khí
thải từ các xe gắn máy, xe ô tô, lò đốt và chất thải rắn cùng thải vào khí quyển của
chúng ta. Trong bài báo “Man - An erglangerred Spieceis” ( Con người – Mối hiểm
hoạ), năm 1968 Department of the interrion year boook đã cảnh báo rằng: “Chúng ta
phải nâng cao tất cả mọi thứ trong tương lai trừ tốc độ gia tăng dân số của loài
người”. Trước đây trẻ em và cái máy xúc là hai điều kiện tốt nhất để phát triển xã
hội. Nhưng ngày nay nếu loài người muốn tồn tại thì phải đưa ra kế hoạch cho sự
phát triển.
6
Một đặc trưng cần lưu ý là việc thuyết phục con người phòng bệnh hơn chữa
môi trường của Liên Hiệp Quốc (UNEP) và Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên
(WWF) – Grand, Th Sỹ tháng 10 năm 1991, đã nhấn mạnh ba mục tiêu chiến lược
bảo vệ toàn cầu là:
7
• Phải duy trì các quá trình sinh thái quan trọng của các hệ bảo đảm sự
sống;
• Phải bảo tồn tính đa dạng di truyền;
• Phải sử dụng bền vững bất cứ một loài hay một hệ sinh thái nào.
Để thực hiện được các mục tiêu đó, lời kêu gọi nhấn mạnh phải hành động ngăn
chặn nạn ô nhiễm môi trường. “Tất cả các chính phủ cần phải ban hành nguyên tắc
phòng ngừa. Đó là giảm hoặc nơi nào đó có điều kiện thì ngăn chặn việc thải bỏ bừa
bãi các chất thải độc hại. Tốt nhất là dành việc bảo vệ đất, không khí, sông ngòi và
biển cho một cơ quan. Phải vận dụng cả các biện pháp kích thích bằng kinh tế và
quy chế. Tất cả các chính quyền thành phố, công xưởng, công nghiệp và nông dân
đều phải đóng góp cho công việc đó”.
“Việc thải ra các chất SO
x
, NO
x,
CO và các chất hydrocarbon phải được giảm
tới mức tối thiểu ở các nước có thu nhập cao. Bên cạnh đo,ù với các nước đang công
nghiệp hoá, tình trạng đó không được để tăng lên. Việc thải ra các chất gây “hiệu
ứng nhà kính” cần phải hạn chế tới mức tối đa. Với các nước có thu nhập thấp cần
phải cố gắng giảm thiểu ô nhiễm từ những nguồn mới.
Cũng theo lời kêu gọi đó “Vào cuối thế kỷ này, tất cả các chính phủ phải ban
hành nguyên tắc phòng ngừa. Những nước có thu nhập cao phải giảm thải sulfur
đioxit đến 10 % của mức năm 1980 và giảm 75 % của khí thải NO
x
của mức năm
gây ra không phải là nhỏ. Theo thống kê mới đây nhất dân số thành phố Hồ Chí
Minh là 6.239.938 người (con số điều tra cuối năm 2005), với mật độ dân số như vậy
việc gây ô nhiễm môi trường do hàng triệu xe máy, hàng trăm ngàn xe tải, xe hơi là
không tránh khỏi.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, một phần do nền kinh tế được ngày một
nâng cao, được Đảng và Nhà nước quan tâm đúng mức công tác gìn giữ và bảo vệ
môi trường ở Việt Nam từng bước đã đi vào nề nếp. Song song với việc ra đời của
bộ chủ quản (Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, nay là Bộ Tài nguyên – Môi
trường) là các hệ thống ngành dọc (các Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường nay
là Sở Tài ngun & Mơi trường) cùng các cơ quan hành chính khác. Điều quan trọng
nhất là sự ra đời của Bộ Luật bảo vệ môi trường của nước Cộng hoà Xã hội Chủ
nghóa Việt Nam 10/1/1994 và Luật Môi trường sửa đổi được Quốc Hội khóa XI, kỳ
họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005, Chủ tòch nước ký ban hành ngày 12/12/2005
và có hiệu lực từ 01/07/2006, công tác bảo vệ môi trường đã được chú trọng trên
phạm vi cả nước. Các công tác giám sát, xử lý môi trường được thực hiện cho hầu
hết các cơ sở, xí nghiệp, nhà máy đã, đang và sẽ xây dựng trong tương lai. Song
song đó là hàng loạt các văn bản, nghò đònh dưới luật của các cơ quan Nhà nước và
các đòa phương nhằm thực hiện tốt Bộ Luật nêu trên.
1.2. CÁC TÁC NHÂN GÂY Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ
1.2.1. Không khí “sạch”
Không khí và nước cùng với thực phẩm là một trong các điều kiện hết sức cần
thiết và quan trọng đối với sự sống của các loài động và thực vật nói chung. Người ta
có thể nhòn ăn, nhòn uống hàng chục ngày vẫn không chết nhưng nếu con người
ngưng thở trong vài phút đã có thể dẫn đến tử vong.
9
Hàng ngày, một người trung bình phải hít, thở khoảng trên dưới 15 kg không khí
để phục vụ cho sự sống. Yêu cầu đối với không khí đó là sự trong sạch của nó. Thời
xa xưa nếu không kể đến các hiện tượng thiên nhiên xảy ra như động đất, núi lửa,
bão cát sa mạc hay dòch phấn hoa thì môi trường thiên nhiên vốn là trong sạch, yên
Neon
Ne 18ppm (*) 64.000
Heli
He 5,2 “ 3.700
Metan
CH
4
1,3 “ 3.700
Kripton
Kr 1,0 “ 15.000
Hydro
H
2
0,5 “ 180
Nitơ ôxit
N
2
O 0,25 “ 1.900
Cacrbonmonoxít
CO 0,10 “ 500
Ôzon
O
3
0,02 “ 200
Sulfur dioxit
SO
2
0,001 “ 11
Nitơ dioxit
NO
0,6
1,2
2,3
3,1
4,2
Lượng hơi nước chứa trong không khí có ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề ô nhiễm
môi trường. Cùng với các yếu tố khác của khí quyển, chúng có thể là môi trường tạo
nên các phản ứng hoá học giữa các chất ô nhiễm với nhau đặc biệt là với các chất
khí có tính “háo nước” dễ tạo thành các axit, đây là nguyên nhân tạo nên các trận
mưa axit mà chúng ta thường nhắc đến.
1.2.2. Các tác nhân gây ô nhiễm không khí
Ở trên chúng ta đã đề cập đến khái niệm không khí sạch, như vậy : Thế nào là
không khí bò ô nhiễm? Có thể hiểu một cách tương đối như sau:
Bên cạnh các thành phần chính của không khí, bất kỳ một chất nào ở dạng rắn,
lỏng, khí được thải vào môi trường không khí với nồng độ vừa đủ gây ảnh hưởng tới
sức khỏe con người, gây ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng, phát triển của động, thực
11
vật, phá huỷ vật liệu, làm giảm cảnh quan môi trường đều gây ô nhiễm môi trường,
hay nói khác đi là không khí đó đã bò ô nhiễm.
Ô nhiễm không khí có thể là thể pha trộn của các thể rắn, lỏng, khí. Những thể
mà chúng được phân tán rất nhanh nhờ các điều kiện về khí hậu. Khi xảy ra hiện
tượng giảm áp (áùp thấp nhiệt đới) các khối không khí chuyển động làm cho các chất
gây ô nhiễm trở nên đậm đặc, thảm hoạ ô nhiễm có thể xảy ra. Tương tự như vậy,
các chất vô hại dưới tác dụng của áp xuất sẽ bốc lên và có thể trở thành chất gây ô
nhiễm nghiêm trọng cho môi trường không khí khi chúng kết hợp với chất khác cùng
có trong môi trường không khí.
Các nhân tố góp phần tạo nên ô nhiễm không khí bao gồm cả nhân tố tự nhiên
và do con người. Các nhân tố tự nhiên bao gồm các q trình tự nhiên như: động đất,
núi lửa, bão cát sa mạc, cháy rừng, sóng thần hay dịch phấn hoa và q trình thối rữa
thũng. Rất nhiều người ở Bhopal đã chết vì phổi của họ chứa đầy nước. Cứ 3 trẻ em
mà mẹ của chúng có thai trong thời gian đó thì chỉ có một em được sống sót. Rất
nhiều em sinh ra bò dò tật. Thực vật cũng bò ảnh hưởng nghiêm trọng, ở phạm vi 3,5
km
2
bao quanh nhà máy, cây cối đều bò chết hoặc vàng lá, năng suất thu hoạch của
các loại cây ăn trái, củ rất thấp.
Thành phố Mexico, thủ đô của Mexico với 20 triệu dân là thành phố đông dân
nhất thế giới và cũng là nơi ô nhiễm môi trường không khí vào loại bậc nhất thế
giới. Tháng 3 năm 1992, dân chúng thành phố đã trải qua những ngày rất khó khăn
do trên 2,5 triệu chiếc xe hơi và khoảng 30 ngàn xí nghiệp công nghiệp hoạt động
thải vào môi trường lượng hơi khí độc, bụi và mùi hôi rất lớn. Theo thống kê cho
thấy mỗi năm khoảng 4,3 triệu tấn chất thải độc hại thải vào môi trường đã làm cho
nồng độ Ôzon cao hơn tiêu chuẩn cho phép 3 lần. Thành phố đã phải áp dụng biện
pháp khẩn cấp là trường học phổ thông phải đóng cửa, giảm bớt giờ sinh hoạt và làm
việc của người lớn. Tạm ngừng hoạt động của 1 triệu ô tô, hàng trăm nhà máy, xí
nghiệp công nghiệp phải ngừng sản xuất hoặc hoạt động với 3/4 công suất nhằm
giảm lượng hơi khí độc thải vào khí quyển.
Chắc chúng ta hẳn còn nhớ thảm hoạ nhà máy điện nguyên tử Trernobưn của
Ucraina (thuộc Liên Xô cũ) vào năm 1984. Hậu quả của thảm hoạ này không chỉ
gây ảnh hưởng ngay khi xảy ra mà nó còn tiềm ẩn và gây ảnh hưởng rất lâu dài cho
đến nay vẫn chưa khắc phục được. Toàn thế giới đều quan tâm đến tai hoạ này. Phải
mất hàng chục tỷ dollar mới có thể khắc phục hậu quả này.
Ô nhiễm không khí cùng với việc khai thác tài nguyên không hợp lý, chặt phá
rừng bừa bãi…, làm cho tầng ơzon bò thủng, gây nên hiệu ứng nhà kính và đặc biệt là
thay đổi khí hậu toàn cầu gây nên hiện tượng Elnino và Lanina kèm theo những trận
mưa lụt, bão khủng khiếp và hạn hán kéo dài. Kết quả cuối cùng là dẫn đến thiệt
hại nhân mạng tài sản của cộng đồng cùng nạn cháy rừng nghiệm trọng như đã từng
xảy ra tại Bangladesh, Trung Quốc, Mỹ, Nhật, Indonesia và các nước khác trên thế
giới trong đó có Việt Nam. Kèm theo các hiện tượng này là ô nhiễm nguồn nước, ô