Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh lào cai - Pdf 71

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN HÙNG MẠNH

QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ
VĂN HĨA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÀO CAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

HÀ NỘI, 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN HÙNG MẠNH

QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ
VĂN HĨA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÀO CAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CƠNG
Chun ngành: Quản lý cơng
Mã số: 60 34 04 03


bạn học viên lớp cao học Quản lý công HC21B3 đã giúp đỡ động viên và cung
cấp tƣ liệu giúp tơi hồn thành tốt chƣơng trình học và luận văn này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng và tâm huyết để hồn thành luận văn, tuy
nhiên luận văn sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất mong nhận
đƣợc những đóng góp ý kiến của các q thầy cơ, đồng nghiệp và các bạn để
luận văn đƣợc hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Hùng Mạnh


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

TT

Viết tắt

Nguyên nghĩa

1

BQL

Ban Quản lý

2

DSVH


Văn hóa, Thể thao và Du lịch

8

VHTTH

Văn hóa và Thơng tin

9

VH-XH

Văn hóa – Xã hội

10

VN

Việt Nam

11

UBND

Ủy ban nhân dân

12

XHCN


ĐỊA BÀN TỈNH LÀO CAI ................................................................................. 64
3.1. Quan điểm của Đảng và định hƣớng của tỉnh Lào Cai về quản lý di tích lịch
sử văn hóa ............................................................................................................ 64
3.2. Các giải pháp quản lý nhà nƣớc về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh
Lào Cai ................................................................................................................ 71
3.3. Một số khuyến nghị ...................................................................................... 84
Tiểu kết Chƣơng 3 ............................................................................................... 85
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 89
PHỤ LỤC 1 ......................................................................................................... 95


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Di tích là những bằng chứng vật chất có ý nghĩa quan trọng, minh chứng về
lịch sử đấu tranh dựng nƣớc và giữ nƣớc của dân tộc. “Di tích giúp con ngƣời
biết đƣợc cội nguồn của dân tộc mình, hiểu về truyền thống lịch sử, đặc trƣng
văn hoá của đất nƣớc và do đó có tác động ngƣợc trở lại tới việc hình thành
nhân cách con ngƣời Việt Nam hiện đại” [25, tr.27]. Theo Luật Di sản Văn hóa
của Việt Nam, di tích lịch sử văn hóa (DTLSVH) đƣợc quy định: “Là cơng trình
xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc cơng trình, địa
điểm đó, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [33, tr.1].
DTLSVH là những trang sử sống mang dấu ấn về sự biến động, thăng trầm
của nhiều thời kỳ lịch sử, đồng thời cũng chính là một bộ phận quan trọng cấu
thành kho tàng di sản văn hóa (DSVH) của dân tộc. Do đó việc quản lý nhà
nƣớc nhằm bảo vệ và phát huy có hiệu quả giá trị của di tích trong cuộc sống
đƣơng đại, trực tiếp góp phần nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục truyền
thống, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, trở thành yêu cầu cấp thiết hơn
bao giờ hết ở các địa phƣơng. Đặc biệt, trong thời điểm hiện nay, khi mà tình
trạng những DTLSVH đang bị xuống cấp nghiêm trọng, có nguy cơ mai một;

Cuốn sách “Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa dân
tộc”, Nxb Chính trị Quốc Gia (2002) của tác giả Hoàng Vinh đề cập đến những
vấn đề lý luận về di sản văn hóa, vai trị, chức năng của di sản văn hóa. Tác giả
đã phân tích cụ thể chính sách về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa dân tộc
qua các kỳ Đại hội của Đảng. Trên cơ sở những phân tích, đánh giá về thực
trạng di sản văn hóa, tác giả đã đƣa ra những giải pháp cụ thể về giữ gìn và phát
huy di sản văn hóa (đặc biệt có tham khảo kinh nghiệm của Nhật Bản) [59].
Cuốn sách “Di sản văn hóa – bảo tồn và phát triển”, Nxb Thành phố Hồ
Chí Minh (2008) của nhóm tác giả Nguyễn Đình Thanh, Lê Minh Lý cũng đƣa
ra những vấn đề lý luận chung về di sản văn hóa, cơng tác bảo tồn và phát triển
di sản văn hóa, đánh giá thực trạng bảo tồn, phát triển di sản văn hóa ở nƣớc ta

2


trong thời gian qua, bƣớc đầu đƣa ra một số giải pháp để bảo tồn và phát triển di
sản văn hóa trong tình hình mới [44].
Cuốn sách “Di sản văn hóa - bảo tồn và trùng tu”, Nxb Văn hố Thông tin
(2002) là kết quả tổng kết kinh nghiệm qua nhiều năm làm công tác bảo tồn, trùng
tu các di sản văn hóa của Giáo sƣ – Tiến sĩ, kiến trúc sƣ Hồng Đạo Kính [29].
Cuốn giáo trình “Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa”, Nxb Đại học Quốc gia
Hà Nội (2008) của tác giả Trịnh Minh Đức đã đƣa ra những kiến thức tổng
quan, đầy đủ về các lĩnh vực trong cơng tác bảo tồn di tích lịch sử văn hóa [19].
Giáo sƣ, Tiến sĩ khoa học Lƣu Trần Tiêu, Chủ tịch Hội Di sản Việt Nam,
Chủ tịch Hội đồng Di sản Quốc gia là nhà nghiên cứu chun về cơng tác di sản
văn hóa. Ơng đã có nhiều cơng trình nghiên cứu về cơng tác di sản nói chung và
di tích nói riêng. Những nghiên cứu của ơng đƣợc cơng bố trên Tạp chí Di sản
Văn hóa về lĩnh vực di sản văn hóa có: “Mấy vấn đề về nguồn nhân lực trong
hoạt động bảo tồn di sản văn hố” (Tạp chí Di sản Văn hố, số 3 (40), năm
2012), “Mấy vấn đề về hoạt động tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hố” (Tạp

trọng để tôi tiếp thu trong luận văn của mình.
Những nghiên cứu về di tích lịch sử văn hóa ở Lào Cai có:
Cuốn sách “Văn hóa dân gian Lào Cai”, Nxb Văn hố Dân tộc (1997) của
tác giả Trần Hữu Sơn là một nghiên cứu cơng phu về sắc thái văn hóa dân gian
của các dân tộc hiện đang cƣ trú trên địa bàn tỉnh Lào Cai. Từ trang 17 đến trang
19, sách đã giới thiệu và khẳng định vị trí chiến lƣợc quan trọng của Lào Cai nói
chung và các di tích thuộc quần thể di tích Đền Thƣợng, đền Đơi Cơ [35].
Cuốn sách “Địa chí Lào Cai khái lược”, Nxb Văn hố Dân tộc (2001), chủ
biên Nguyễn Đức Thăng. Đây là một công trình nhằm cung cấp những thơng tin
cơ bản về tỉnh Lào Cai. Cuốn sách đề cập đến những thông tin về diện tích, dân
số, dân tộc, lịch sử, di tích, danh lam thắng cảnh và một số nét về đặc trƣng kinh
tế - xã hội của tỉnh Lào Cai [46].
Các cơng trình “Di tích Đền thờ ở Lào Cai”, “Truyền thuyết - Lịch sử Đền
Bảo Hà và một số Đền thờ ở Lào Cai” do nhóm tác giả Phạm Văn Chiến (chủ
biên), Nxb Văn hóa dân tộc (2013); “Thành phố Lào Cai - di tích lịch sử văn
hóa tâm linh” của tác giả Nguyễn Thị Bắc chủ biên, Nxb Tôn giáo (2014), đã
4


giới thiệu rất kỹ về các truyền thuyết, lịch sử liên quan đến các nhân thần đƣợc
thờ tự tại các di tích lịch sử văn hóa nhƣ: đền Bảo Hà, đền Cô, đền Ken, đền Đôi
Cô, đền Thƣợng, đền Mẫu, đền Cấm, đền Quan... Các cuốn sách trên đƣợc xuất
bản với mục đích giới thiệu cho du khách về lịch sử và giá trị của các di tích,
năm đƣợc xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh, quốc gia [12], [7];
Trong quá trình lãnh đạo xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh,
Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai đã
ban hành các Chƣơng trình, đề án, dự án, Nghị quyết về bảo tồn và phát huy di
sản văn hóa dân tộc, các di tích lịch sử và hàng năm, hàng nhiệm kỳ đều có báo
cáo, đánh giá khái quát kết quả đạt đƣợc. Nguồn tƣ liệu trong các cơng trình, tài
liệu, văn kiện đó là cơ sở để tác giả sử dụng, kế thừa trong q trình phân tích,

Tháng 9 năm 2009, phịng Di sản Văn hóa (nay là phịng Quản lý Di sản
Văn hóa) thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đƣợc thành lập, đánh dấu sự
chun mơn hóa trong tổ chức bộ máy về cơng tác quản lý di sản nói chung và
di tích lịch sử văn hóa nói riêng.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn đƣợc nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin; tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa
trong thời kì đổi mới.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu cơ bản sau:
- Khảo sát cụ thể tại các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh; đánh giá
và phân tích thực trạng hệ thống di tích lịch sử văn hóa Lào Cai;
- Phƣơng pháp điền dã, quan sát thực tế tại một số di tích nhằm nắm bắt các
thơng tin về thực trạng hệ thống di tích và tình trạng quản lý nhà nƣớc về
DTLSVH;
- Khảo sát tƣ liệu: khảo cứu kinh nghiệm các tỉnh, thành phố có hệ thống
DTLSVH, các thiết chế văn hóa đặc trƣng, tƣơng đồng và những tỉnh có điều
kiện đặc thù giống Lào Cai;

6


- Phƣơng pháp phân tích: Trên cơ sở nghiên cứu điều kiện tự nhiên, tiềm
năng về di sản cũng nhƣ thực trạng của hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa
hiện nay, định hƣớng hƣớng phát triển của địa phƣơng, luận văn sẽ phân tích
những điểm mạnh, những hạn chế để chỉ ra những thuận lợi và thách thức trong
hoạt động quản lý di tích. Từ đó, tác giả luận văn có thể bƣớc đầu đƣa ra các giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý di tích ở Lào Cai trong
những điều kiện phát triển hiện nay.

văn gồm 3 chƣơng:
Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nƣớc về di tích lịch sử văn hóa.
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về di tích lịch sử văn hóa trên địa
bàn tỉnh Lào Cai.
Chương 3: Quan điểm của Đảng và giải pháp quản lý nhà nƣớc về di tích
lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Lào Cai.

8


Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HĨA
1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài luận văn
* Khái niệm di sản văn hóa
Theo Luật DSVH, “DSVH Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các
dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của DSVH nhân loại, có vai trị to lớn trong
sự nghiệp dựng nƣớc và giữ nƣớc của nhân dân ta” [33, tr.13]. DSVH Việt Nam
bao gồm “DSVH phi vật thể và DSVH vật thể”, là sản phẩm tinh thần, vật chất
có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, đƣợc lƣu truyền từ thế hệ này sang thế hệ
khác ở nƣớc Cộng hòa XHCN Việt Nam” [33, tr.13].
- DSVH phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa khoa
học, đƣợc lƣu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, đƣợc lƣu truyền bằng truyền miệng,
truyền nghề, trình diễn và các hình thức lƣu giữ, lƣu truyền khác; bao gồm tiếng
nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng,
diễn xƣớng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết và nghề thủ công truyền
thống, tri thức nghề y, dƣợc học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục
truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác.
- DSVH vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học
bao gồm DTLS – VH, DLTC, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.

riêng, một khung cảnh đơ thị hoặc nơng thơn có chứng tích của một nền văn
minh riêng, một phát triển có ý nghĩa hoặc một sự kiện lịch sử. Khái niệm này
không chỉ áp dụng với những cơng trình nghệ thuật to lớn mà cả với những cơng
trình khiêm tốn hơn vốn đã, cùng với thời gian, thâu nạp đƣợc một ý nghĩa văn
hóa” [20].
Nhiều nƣớc trên thế giới đều đặt chung cho DTLSVH là dấu tích, vết tích
cịn lại. Tiếng Pháp: Vestige, Tiếng Anh: Vestige, Tiếng Nga: Pomiatnik, Tiếng
Trung Quốc: “ Cổ tích”... Mỗi nƣớc trên thế giới cũng đều đƣa ra những khái
niệm, quy định về DTLSVH của dân tộc mình. Trong Điều 1 của Hiến chƣơng
Vernice - Italy quy định: “DTLSVH bao gồm những cơng trình xây dựng đơn lẻ,
10


những khu di tích ở đơ thị hay nơng thơn, là bằng chứng của một nền văn minh
riêng biệt riêng biệt, của một sự tiến hóa có ý nghĩa hay là một biến cố về lịch
sử”[20].
Ở nƣớc ta, năm 1984, Hội đồng Nhà nƣớc đã ban hành Pháp lệnh bảo vệ và
sử dụng di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh. Pháp lệnh chỉ rõ:
“DTLSVH là những cơng trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và tác phẩm
có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng nhƣ có giá trị văn hóa khác hoặc
liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa, xã hội” [23].
Theo Luật Di sản Văn hóa năm 2001 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Di sản Văn hóa năm 2009: “Di tích lịch sử văn hóa là cơng trình xây
dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc cơng trình, địa điểm
đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [34, tr.1].
- Tiêu chí và phân loại di tích lịch sử văn hóa
Điều 28, Luật Di sản Văn hóa năm 2009 quy định, DTLSVH phải có một
trong các tiêu chí sau đây: Cơng trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử
tiêu biểu trong q trình dựng nƣớc và giữ nƣớc; Cơng trình xây dựng, địa điểm
gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nƣớc;

kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam; Địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu
các giai đoạn phát triển văn hóa khảo cổ; Cảnh quan thiên nhiên đẹp hoặc địa
điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với cơng trình kiến trúc, nghệ
thuật hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng
sinh học và hệ sinh thái đặc thù.
Các di tích này đƣợc địa phƣơng lập hồ sơ, trên cơ sở đề nghị của Chủ tịch
UBND tỉnh, Bộ trƣởng Bộ VHTTDL, Thủ tƣớng Chính phủ quyết định xếp
hạng di tích quốc gia.
Di tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phƣơng, bao gồm:
Cơng trình xây dựng, địa điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của địa
phƣơng hoặc gắn với nhân vật có ảnh hƣởng tích cực đến sự phát triển của đại
phƣơng trong các thời kỳ lịch sử; Cơng trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến
trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cƣ trú có giá trị trong phạm vi địa
phƣơng; Địa điểm khảo cổ có giá trị trong phạm vi địa phƣơng; Cảnh quan thiên
12


nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với cơng trình
kiến trúc, nghệ thuật có giá trị trong phạm vi địa phƣơng;
Địa phƣơng lập hồ sơ, trên cơ sở đề nghị của Giám đốc Sở VHTTDL, Chủ
tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng xếp hạng di tích cấp tỉnh.
Dựa vào hình thức quản lý, di tích lịch sử văn hóa đƣợc chia thành 3 loại:
Di tích do nhà nƣớc trực tiếp quản lý; Di tích do cộng đồng dân cƣ (dƣới hình
thức tập thể) trực tiếp quản lý; Di tích do cá nhân, gia đình trực tiếp quản lý. Cụ
thể:
Di tích do Nhà nƣớc quản lý là các di tích quốc gia đặc biệt và di tích quốc
gia do các BQL di tích đƣợc Nhà nƣớc thành lập trực tiếp quản lý. Nhà nƣớc cấp
lƣơng, chi phí cho hoạt động thƣờng xuyên, các chi phí sửa chữa... trực tiếp cho
BQL di tích.
Di tích do cộng đồng dân cƣ (dƣới hình thức tập thể) trực tiếp quản lý là

hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con ngƣời, duy trì sự ổn định và
phát triển xã hội.
DTLSVH là một bộ phận quan trọng cấu thành di sản văn hóa; chính vì
vậy, việc quản lý nhà nƣớc về DTLSVH cũng cần tiến hành theo nội dung quản
lý nhà nƣớc về di sản đƣợc đề cập trong Luật Di sản văn hóa do Quốc hội nƣớc
Cộng hịa XHCH Việt Nam ban hành năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung luật
DSVH ban hành năm 2009.
Quản lý nhà nƣớc về DTLSVH là sự chấp hành, điều hành của Nhà nƣớc
bằng các phƣơng thức, cơng cụ quản lý nhƣ: pháp luật, chính sách, quy hoạch,
kế hoạch... tác động vào đối tƣợng quản lý để định hƣớng, điều chỉnh những
hoạt động của xã hội về lĩnh vực DSVH, di tích đi theo đúng hƣớng, đúng mục
đích, theo chủ trƣơng của Đảng, chính sách của Nhà nƣớc.
Như vậy, nói đến quản lý nhà nƣớc về DTLSVH là nói đến chủ thể; đối
tƣợng quản lý và cơ chế quản lý.
Cơ chế quản lý, một mặt phải tuân thủ các yêu cầu của quy luật lịch sử
khách quan; mặt khác, phải có một hệ thống cơng cụ nhƣ: pháp luật, chính sách,
quy hoạch, kế hoạch... thích hợp để quản lý các hoạt động bảo quản, tôn tạo,
phát huy giá trị của các DTLSVH. Điều này có nghĩa là: các cơ quan Nhà nƣớc
14


có chức năng quản lý nhà nƣớc về DTLSVH từ Trung ƣơng đến địa phƣơng là
chủ thể quản lý; các quan hệ xã hội vận động và phát triển trong hoạt động quản
lý nhà nƣớc về DTLSVH là đối tƣợng quản lý và hệ thống pháp luật, chính sách,
quy hoạch, kế hoạch... là công cụ để Nhà nƣớc thực hiện sự quản lý.
Với tƣ cách là đối tƣợng quản lý, hoạt động quản lý nhà nƣớc về DTLSVH
phải đƣợc tổ chức và triển khai thực hiện trên cơ sở các quy định của pháp luật
và chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền.
Với tƣ cách là cơ sở và là công cụ để Nhà nƣớc thực hiện sự quản lý, pháp
luật, chính sách, quy hoạch, kế hoạch... phải đƣợc xây dựng chính xác, đầy đủ,

Thanh tra, kiểm tra và xử lý các vi phạm di tích là các hoạt động có hƣớng đích
của các cơ quan quản lý nhà nƣớc, đơn vị quản lý về di tích nhằm phát hiện, phát
huy những nhân tố tích cực, phịng ngừa, xử lý những vi phạm, bảo đảm để các
cơ quan, tổ chức và cá nhân tuân thủ, chấp hành đầy đủ và nghiêm túc các quy
định của pháp luật về bảo vệ, quản lý di tích. Thơng qua cơng tác thanh tra, kiểm
tra góp phần giáo dục pháp luật, giúp các cơ quan, tổ chức, cá nhân hiểu đúng và
chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật về bảo tồn di tích và đó cũng là một hoạt
động bảo đảm tăng cƣờng pháp chế nhà nƣớc. Từ đó, đƣa ra các giải pháp phù
hợp đảm bảo để đối tƣợng bị quản lý tự điều chỉnh hoạt động để đạt tới mục tiêu
mà chủ thể quản lý đã xác định.
* Xã hội hóa
Theo Tiến sĩ Đặng Văn Bài, Xã hội hóa các hoạt động bảo tồn và phát huy
di sản văn hóa thực chất là tạo điều kiện thuận lợi cho mọi công dân tiếp cận và
hƣởng thụ các giá trị văn hóa tiêu biểu. Trên cơ sở đó, động viên họ sáng tạo ra
các giá trị văn hóa mới, bổ sung làm giàu thêm di sản văn hóa dân tộc, đồng thời
huy động sự đóng góp vệ trí tuệ, cơng sức và kinh phí cần thiết cho các hoạt
động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa [1, tr.20-21].
* Phối hợp, hợp tác
Việc phối hợp, hợp tác được thực hiện dưới hai hình thức chính đó là phối
hợp với các cơ quan, tổ chức trong nước và hình thức phối hợp với các tổ chức
quốc tế nhằm thực hiện các chương trình bảo tồn, phát huy giá trị di tích hoặc
kêu gọi, huy động những nguồn tài trợ cho các chương trình này.
16


1.2. Sự cần thiết phải quản lý nhà nƣớc về di tích lịch sử văn hóa
Trƣớc hết phải khẳng định, di tích lịch sử văn hóa có vai trị vơ cùng quan
trọng trong đời sống văn hóa, xã hội của đất nƣớc. Do đó, việc bảo tồn, phát huy
giá trị các di tích lịch sử là điều cần thiết. Tuy nhiên, việc bảo tồn và phát huy
giá trị các di tích lịch sử cần có định hƣớng, có hệ thống các quy định mang tính

Thậm chí, qua di tích, giúp cho thế hệ sau hình dung ra cả một chặng đƣờng lịch
sử của dân tộc. Chẳng hạn nhƣ, khu di tích lịch sử ATK là minh chứng cho một
giai đoạn đấu tranh hào hùng của Đảng ta chuẩn bị cho khởi nghĩa tháng 8 năm
1945, nơi ghi dấu một giai đoạn hoạt động cách mạng của chủ tịch Hồ Chí
Minh. Đặc biệt, di tích lịch sử là “nhân chứng” sống động cho một sự kiện hay
một giai đoạn lịch sử của dân tộc.
Di tích lịch sử văn hóa mang trong mình những giá trị văn hóa đậm nét
Đƣợc ra đời từ trong đời sống của nhân dân, trải qua những biến thiên của
lịch sử dân tộc. Các di tích lịch sử thể hiện rõ tơn giáo, tín ngƣỡng, những đặc
điểm văn hóa của từng vùng miền và của dân tộc. Ví nhƣ hệ thống các đền thờ
Mẫu thể hiện rõ tín ngƣỡng thờ mẫu của dân tộc Việt. Tuy nhiên, ở mỗi địa
phƣơng, tín ngƣỡng thờ mẫu vẫn có những nét riêng biệt thể hiện sắc thái văn
hóa của địa phƣơng. Ngay cả những di tích chiến tranh, cách mạng vẫn có
những giá trị văn hóa đậm nét. Đó là văn hóa Tày - Nùng ở khu di tích ATK. Đó
là kiến trúc nhà sàn cổ của ngƣời Tày,...
Các di tích lịch sử rất dễ dàng bị phong hóa theo thời gian
Các di tích đều đƣợc làm từ chất liệu gỗ, đá. Trong khi đó, đặc điểm thời
tiết Việt Nam là nóng ẩm, mƣa nhiều. Do đó, các di tích dễ dàng bị phong hóa.
Đây là một đặc điểm địi hỏi trong cơng tác quản lý di tích cần hết sức quan tâm
đến bảo tồn, trùng tu các di tích lịch sử văn hóa. Nhiệt độ khơng khí gia tăng sẽ
tác động rất lớn đến loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật, đặc biệt là các cơng
trình sử dụng vật liệu gỗ. Các cơng trình kiến trúc nghệ thuật và tín ngƣỡng
18


thƣờng đƣợc xây dựng bằng nguyên vật liệu truyền thống nhƣ gỗ, gạch..., nên
rất khó đƣơng đầu với thách thức của thời tiết khắc nghiệt. Sự tác động của nhiệt
độ tăng cao, nắng gắt, mƣa nhiều kèm theo gió bão sẽ làm cho vật liệu kiến trúc
nhanh xuống cấp, hƣ tổn, giảm tuổi thọ của cơng trình. Các hiện vật thƣờng
đƣợc làm từ giấy, gỗ, tre, sắt… rất dễ bị tác động bởi thay đổi thời tiết, độ ẩm,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status