HỆ THỐNG TỔ CHỨC QUẢN LÝ LƯU THÔNG PHÂN BÓN VÔ CƠ Ở VIỆT NAM - Pdf 71

HỆ THỐNG TỔ CHỨC QUẢN LÝ LƯU THÔNG PHÂN BÓN VÔ
CƠ Ở VIỆT NAM
1-/ NHÀ NƯỚC VÀ VAI TRÒ TỔ CHỨC, QUẢN LÝ LƯU THÔNG
PHÂN BÓN VÔ CƠ TRÊN THỊ TRƯỜNG.
1.1-/ Nhà nước và vai trò điều tiết nền kinh tế.
Kinh tế thị trường là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, ở đó sản
xuất cái gì, như thế nào, cho ai đều được quyết định thông qua thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ kinh tế của các cá nhân, các doanh
nghiệp đều biểu hiện qua mua bán hàng hoá, dịch vụ trên thị trường. Thái độ cư xử
của các thành viên tham gia thị trưòng là hướng vào tìm kiếm lợi ích của mình theo
sự dẫn dắt của giá cả thị trường.
Kinh tế thị trường vận hành theo cơ chế thị trường, đến lượt nó, cơ chế thị
trường tác động dưới sự chi phối của các quy luật thị trường trong môi trường cạnh
tranh nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Nhân tố cơ bản của thị trường, cơ chế thị trường là hàng hoá tiền tệ, người
bán, người mua, từ đó hình thành mối quan hệ cơ bản của cơ chế thị trường là quan
hệ cung cầu. Về bản chất, cơ chế thị trường là cơ chế giá cả tự do. Cơ chế này có
một số đặc trưng sau:
-Các vấn đề liên quan đến phân bổ, sử dụng các nguồn tài nguyên, lao động,
vốn được quyết định một cách khách quan thông qua hoạt động của các quy luật
kinh tế.
-Hầu như tất cả các mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh tế đều được
tiền tệ hoá.
-Lợi nhuận là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế và lợi ích kinh tế. Cơ chế thị trường dùng lỗ lãi để quyết định các vấn đề
kinh tế cơ bản.
-Cạnh tranh là môi trường hoạt động của cơ chế thị trường, là yếu tố thúc
đẩy tiến bộ kỹ thuật, tăng năng suất lao động và hiệu quả của sản xuất.
-Cơ chế thị trường không phải là một mớ hỗn độn mà là một trật tự kinh tế,
trật tự này được hình thành bởi sự tác động của hệ thống quy luật của thị
trường.Thông qua sự hoạt động của các quy luật kinh tế, sự linh hoạt của hệ thống

đẻ ra các tệ nạn kinh tế như buôn lậu, hàng giả, lừa đảo, cạnh tranh không lành
mạnh.... làm giảm hiệu quả của nền kinh tế.
+ Cơ chế thị trường có xu hướng làm cho sự phân hoá thu nhập ngày càng
tăng giữa các tầng lớp dân cư, gây ra những bất bình đẳng về kinh tế trong xã hội.
+ Trong cơ chế thị trường, vì mục tiêu lợi ích cá nhân, một số hoạt động
kinh tế có khả năng là tăng mức ô nhiễm môi trường, tâm lý chạy theo đồng tiền
làm xuất hiện lối sống ích kỷ, thực dụng, có thể gây ra những hậu quả xấu về mặt
xã hội.
+ Hơn nữa, các lĩnh vực hoạt động rất cần cho sự ổn định và tăng trưởng
kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội như có mức sinh lợi thấp, thời gian thu hồi
vốn chậm thường không được giới kinh doanh chú ý đầu tư phát triển,
Qua sự phân tích trên cho thấy, nền kinh tế thị trường không phải là một hệ
thống được tổ chức hài hoà mà bản thân hệ thống đó chứa đựng rất nhiều nhược
điểm. Những khuyết tật của cơ chế thị trường cần phải được khắc phục hạn chế.
Song bản thân thị trường không thể tự giải quyết những vấn đề đó. Vì vậy, kinh tế
thị trường ngày nay không thể thiếu được vai trò quản lý của nhà nước. Kinh tế thị
trường không phải là gậy thần, liều thuốc vạn năng. Thành công của mỗi quốc gia
khi chuyển sang kinh tế thị trường chủ yếu phụ thuộc vào sự kết hợp giữa khả năng
điều tiết của thị trường (bàn tay vô hình) và sự quản lý điều tiết của nhà nước (bàn
tay hữu hình). Đến nay vai trò của nhà nước trong kinh tế thị trường đã được khẳng
định cả về mặt lý luận và thực tiễn. Vấn đề chỉ còn là sự vận dụng trong từng điều
kiện và hoàn cảnh cụ thể như thế nào để đảm bảo có hiệu và thành công. Vai trò
của nhà nước trong nền kinh tế thị trường được thể hiện ở những mặt sau đây:
- Thứ nhất: Nhà nước tạo môi trường diều kiện cho kinh tế thị trường phát
triển. Nhà nước bảo đảm sự ổn định về mặt kinh tế, chính trị xã hội. Nhà nước tập
trung xây dựng cơ sở vật chất, tài chính, giáo dục và luật pháp. Đối với những
nước mới chuyển sang cơ chế thị trường như nước ta thì phải chú ý nhiều đến kết
cấu hạ tầng, luật pháp và giáo dục.
-Thứ hai: Nhà nước định hướng sự phát triển nền kinh tế thông qua việc xây
dựng và tổ chức thực hện các chiến lược kinh tế xã hội, các chương trình mục tiêu,

như là giải pháp duy nhất đối với Việt nam. Trong thâm canh và trong việc sử dụng
giống mới thì phân bón vô cơ vô cùng quan trọng và ngày càng quan trọng. Nó góp
phần tăng năng suất cây trồng qua nhiều cơ chế tác động khác nhau. Song quan
trọng là phân bón cung cấp cho cây trồng những dinh dưỡng cần thiết mà đất
không đủ khả cung cấp, góp phần duy trì độ phì nhiêu của đất trong quá trình canh
tác. Mặt khác cùng với năng suất kinh tế, phân bón góp phần tăng lượng sinh khối
và nhờ đó tăng hữu cơ trả lại cho đất-yếu tố cực kỳ quan trọng với đất nhiệt đới.
Tuy nhiên, để đưa phân bón vô cơ vào sử dụng trong nông nghiệp, đáp ứng nhu
cầu sử dụng cho người nông dân, nhằm tăng năng suất cây trồng, tăng sản lượng
thì không thể không kể đến vai trò của các nhà sản suất-kinh doanh-cung ứng phân
bón vô cơ thên thị trường, đó là các nhà doanh nghiệp kinh doanh phân bón chuyên
ngành, các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp và đại lý tư nhân. Theo con
số thống kê của các nhà chuyên môn thì khả năng đáp ứng bằng sản xuất phân bón
công nghiệp trong nước còn thấp, mới khoảng 65--75% về phân lân,8-9% về phân
đạm, còn lại đều phải nhập khẩu. Do vậy với nhu cầu phân bón sử dụng hàng năm
cho nông nghiệp nước ta, ước tính năm 2000 là 2,95 triệu tấn thì số lượng phân
bón các loại cần nhập khẩu hàng năm là rất lớn và phải bỏ hàng trăm triệu USD để
nhập phân bón.Vì vậy, làm thế nào để nhập đủ phân bón, cung ứng đúng thời vụ
nhưng lại không để tồn kho gây ứ đọng, gây hiệu quả kinh doanh thấp-đó là bài
toán thật khó giải đối với mỗi doanh nghiệp kinh doanh phân bón trên thị trường
và các cơ quan quản lý vĩ mô của Nhà nước.
Nhìn lại, quá trình kinh doanh phân bón vô cơ từ năm 1991 trở về trước,
việc nhập khẩu phân bón vô cơ (chủ yếu là URê) nằm trong quỹ đạo của kế hoạch
hoá tập trung.Theo phương thức này, mặc nhiên Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước (nay
là Bộ Kế hoạch và Đầu tư) và Bộ Tài chính thay mặt Chính phủ nhận nợ và thanh
toán với phía nước bạn bằng nông sản và các loại hàng hoá khác.Tổng công
tyVTNN tiếp nhận phân nhập khẩu song, tổ chức tiêu thụ được đến đâu thì nộp tiền
cho Bộ Tài chính đến đó. Như vậy”Kinh doanh” theo cơ chế này chẳng mấy khó
khăn, phức tạp và Tổng công ty VTNN luôn an toàn, bởi vì được bao cấp trong giá
nhập khẩu và tỷ giá ngoại tệ, đồng thời được hưởng chiết khấu lưu thông theo tỷ lệ

gom lại chỉ có 17 đầu mối, trong đó có 16 đầu mối nhập khẩu 40% còn 01 đầu mối
đảm nhận 60%. Sự thay đổi về nhập khẩu phân bón theo chiều hướng thu gọn lại
đầu mối và các đơn vị được giao hạn ngạch nhập chưa đủ điều kiện đảm nhận đã
đẩy đến sự hững hụt trong nhập khẩu phân bón, thị trường trong nước bị thiếu trầm
trọng, con sốt phân bón thịnh hành. Để duy trì mặt hàng cung cấp liên tục phân bón
cho hệ thống đại lý có phân bón phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh không có hạn ngạch phải đi kiếm hạn ngạch của các
doanh nghiệp quốc doanh để nhập khẩu phân bón. Sang đầu năm 1995 do ảnh
hưởng giá phân bón của thị trường thế giới liên tục tăng và tăng cao ở mức Urê
khoảng 260-265 USD/T, lúc này cũng là thời điểm chuẩn bị phải sử dụng phân
bón, các doanh nghiệp chạy theo lợi nhuận lại lại đua nhau nhập khẩu phân bón và
tình trạng mua bán hạn ngạch giữa các doanh nghiệp quốc doanh và ngoài quốc
doanh càng trở nên phức tạp và tiêu cực hơn. Cho đến tháng 4/1995 giá phân bón
thế giới đột biến hạ Urê còn 215-220 USD/T và tồn kho vẫn nhiều , lập tức ban vật
giá Chính phủ đã có quyết định cho phụ thu phân bón nhập khẩu với mức 7% trên
gáa nhập thực tế và sau hơn 1 tháng hạ xuống còn 4%. Khi đó Tạp chí phân bón thị
trường quốc tế ngày 8/5/1995 nhận xét: “Việc Chính phủ Việt nam cho ra phụ thu
7% thực tế là thuế nhập khẩu, mức thuế này nhằm mục đích là cứu lấy các doanh
nghiệp kinh doanh “cá mập” ”, và kèm theo đó là trợ giá cước phí vận chuyuển
phân bón cho nông dân ở các tỉnh miền núi để nông dân ở các vùng này được
hưởng giá tương ứng với giá ở các tỉnh miền xuôi. Như vậy, những giải pháp can
thiệp của Nhà nước trong thời gian này nhằm bảo vệ lợi cho người đã nhập khaảu
phân bón, tuy nhiên vẫn chỉ là các giải pháp tình thế, chắp vá bởi lẽ nó chỉ là các
giải pháp cụ thể xảy ra từng năm. Khi đó nhiều ý kiến cho rằng, để doanh nghiệp
kinh doanh phân bốn tự xử lý tìm ra sự an toàn về tài chính, lấylãi lúc này bù lỗ lúc
khác, tự giữ vốn tiếp tục hoạt động thì các doanh nghiệp phải tự vươn lên trở thành
nghề kinh doanh, chấm dứt tình trạng kinh doanh theo kiểu “chụp dật, đánh quả”,
có lời thì nhập khó khăn thì bỏ. Nhận thức này đã được dần sáng tỏ nên năm 1996-
1997 cơ chế nhập khẩu và cơ chế quản lý giá phân bón đã có chặt chẽ hơn. Chính
phủ trực tiếp quy định đầu mối nhập khẩu phân bón và thành lập tổ điều hành để

quản lý khác nhau, quản lý nhập khẩu bằng hạn ngạch, chỉ định các đơn vị đầu mối
được kinh doanh nhập khẩu; hỗ trợ giá cước vận chuyển phân bón Bắc-Nam lên
Miền núi, cho vay vốn sản xuất, dự trữ thời vụ phân bón với lãi suất ưu đãi... .Tuy
nhiên, những năm gần đây, hệ thống cung ứng phân bón phải đối mặt với những
thử thách to lớn và trải qua mấy nấc thăng trầm tương ứng với những phương sách
quản lý khác nhau của nhà nước. Từ giữa năm 1991 trở về trước việc nhập khẩu
phân bón hoá học (chủ yếu là ure) nằm trong quy đạo của cơ chế kế hoạch hoá tập
trung. Mỗi năm, Tổng công ty vật tư nông nghiệp thực hiện nhập khẩu từ 800.000-
1.000.000 tấn ure theo nghị định thư giữa hai nhà nước Việt Nam và Liên Xô, sau
đó tiến hành phân phối theo kế hoạch đã định cho các đơn vị ở các địa phương
trong cả nước. Theo phương thức này Uỷ ban kế hoạch Nhà nước và Bộ tài chính
thay mặt chính phủ nhận nợ và thanh toán với phía Liên Xô. Tổng công ty vật tư
nông nghiệp tiếp nhận phân nhập khẩu xong, tổ chức tiêu thụ sau đó nộp tiền cho
Bộ tài chính.
-Từ tháng 8/1991, tình huống bắt đầu biến đổi khác hẳn, Tổng công ty Vật
tư nông nghiệp được tiếp nhận nốt 100.000 tấn ure theo nghị định thư, bằng 10%
số nhập khẩu theo kế hoạch hàng năm trước đó, do Liên Xô cắt viện trợ.
-Đến năm 1992- 1993, việc kinh doanh phân bón vô cơ được thả nổi toàn bộ
theo cơ chế thị trường.
-Bước sang năm 1994 đã đánh dấu một bước đổi mới quan trọng về cơ chế
quản lý của nhà nước đối với lĩnh vực lưu thông, nhập khẩu phân bón. Với việc chỉ
định các đầu mối nhập khẩu phân bón, tuy nhiên các đầu mối nhập khẩu được sàng
lọc, giảm bớt số lượng, coi trọng tiêu chuẩn chất lượng và năng lực thực sự về tài
chính, tiếp thị.
Từ năm 1995 đến nay: Nhà nước tiếp tục quản lý chặt chẽ nhập khẩu phân
bón.
SƠ ĐỒ 1 - CÁC CƠ QUAN QUẢN LÝ VÀ ĐIỀU TIẾT PHÂN BÓN VÔ
CƠ THỜI KỲ ĐỔI MỚI CƠ CHẾ KINH TẾ.
Nước bán phân bón trên thế giới
Các đầu mối nhập khẩu được chỉ định

hình thức tự vay vốn hoặc liên doanh để sản xuất phân bón.
* Bộ Thương mại chịu trách nhiệm, điều hành nhập khẩu phân bón theo kế
hoạch chung và cân đối của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chỉ định
doanh nghiệp nhập khẩu phân bón, thông báo chỉ tiêu nhập khẩu cho từng doanh
nghiệp. Từ đó Chủ tịch UBND tỉnh thành phố thông báo doanh nghiệp cho Bộ
Thương mại, Cục Hải quan, Bộ Tài chính, Bộ kế hoạch đầu tư, các doanh nghiệp
được thông báo làm thủ tục nhập khẩu tại cơ quan Hải Quan.
* Ngân hàng Nhà nước Việt nam cùng Bộ Tài chính, Bộ Thương mại, Bộ
nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định việc quản lý, sử dụng tiền bán hàng
của các doanh nghiệp nhập khẩu để đảm bảo thanh toán với nước ngoài khi đến
hạn. Khi được Chính phủ phê duyệt hạn ngạch nhập khẩu phân bón, Ngân hàng
Nhà nước Việt nam chỉ đạo các ngân hàng Thương mại bảo lãnh cho các doanh
nghiệp được chỉ định nhập khẩu phân bón vay trả chậm nước ngoài và được lấy giá
trị hàng hoá phân bón nhập khẩu làm bảo đảm và ký quỹ với mức thấp nhất theo
quy định của Ngân hàng nhà nước Việt nam. Đối với một số doanh nghiệp được
giao nhập khẩu số lượng phân bón lớn để điều hoà cung cầu, bình ổn giá trong
nước, ngoài quy định chung, Ngân hàng cho vay và bảo lãnh theo số lượng phân
bón nhập cụ thể của từng doanh nghiệp để các doanh nghiệp thực hiện được chỉ
tiêu đã giao. Trường hợp có khó khăn về vốn, Bộ kế hoạch đẩu tư, Bộ Tài chính
cân đối trình Thủ tướng chính phủ cho phép sử dụng từ nguồn quỹ dự trữ ngoại tập
trung của Nhà nước để cho vay nhập phân bón.
*Ban vật giá Chính phủ, tuỳ từng trường hợp là cơ quan xác định mức trọ
giá cho từng mặt hàng, từng địa phương, xác định mức giá bán tối đa “giá trần”
cho từng mặt hàng.
*Tổng công ty Vật tư nông nghiệp chịu trách nhiệm: ngoài việc thực hiện
đầy đủ trách nhiệm như các doanh nghiệp khác còn phải từng bước tổ chức lại
mạng lưới bán buôn, đại lý bán phân bón trực tiếp đến nông dân, quản lý chặt chẽ
quỹ dự trữ lưu thông phân bón được nhà nước giao, chịu trách nhiệm đảm bảo dự
trữ lưu thông bằng ngoại tệ và bằng hiện vật cho 3 miền Bắc, Trung, Nam, theo
quy định; khi xảy ra đột biến giá và mất cân đối quan hệ Cung- cầu phải kịp thời

Nhập khẩu
Giao chỉ tiêu nhập khẩu
Từ năm 1992 cùng với sự đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, cơ chế kinh doanh phân
bón mang tính độc quyền, nhiều tầng nấc, giá cả áp đặt được xoá bỏ. Hệ thống
phân phối theo ngành dọc từ cấp I tới cấp III đã mất tác dụng. Thay vào đó là nhiều
thành phần kinh tế cùng tham gia kinh doanh phân bón trên thị trường nội địa để
cung ứng cho người sản xuất. Quốc doanh địa phương chỉ cung ứng 20-30%. Có
thể nói hệ thống cung ứng được mở rộng, tư nhân tham gia cung ứng phân bón
ngày càng nhiều, phân bón không còn “chạy” vòng vèo như trước đây mới tới
được tay người sản xuất. Sơ đồ 3
MÔ HÌNH CUNG ỨNG PHÂN BÓN HOÁ HỌC THỜI KỲ ĐỔI MỚI
Nước bán phân hoá học trên thế giới
Các đầu mối nhập khẩu
Bộ Nông nghiệp v phát trià ển nông thôn
Các tổ chức trung gian cung ứng phân
Cửa h ng à đại lý bán lẻ
Nông dân
CƠ CHẾ KINH TẾ.
Đi đôi với hệ thống cung ứng phân bón theo hướng tự do lưu thông. Nhà
nước cũng thực hiện tự do hoá giá cả- có nghĩa là về cơ bản giá phân bón do thị
trường quyết định. Tuy vậy, nhưng để nông dân được hưởng mức giá bình ổn nhất
là khi thời vụ cần có phân bón chăm sóc cây trồng Nhà nước đang sử dụng quỹ
bình ổn giá để hỗ trợ cho kinh doanh phân bón dự trữ lưu thông một số lượng phân
ure nhất định để chủ động bán ra ở thời điểm bình thường cũng khi thời vụ hoặc ở
thời điểm giá cả tăng cao, bảo đảm để nông dân mua được đạm ure xoay quanh
định hướng 1 ure tương đương 2 lúa mà nông dân đồng bằng Sông Cửu Long và
khoảng 1,5 lúa ở đồng bằng sông Hồng đã chấp nhận.
3-/ CÁC CÔNG CỤ QUẢN LÝ VÀ ĐIỀU TIẾT LƯU THÔNG PHÂN BÓN
VÔ CƠ CỦA NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM .
Quản lý và điều tiết vĩ mô thị trường và lưu thông nói chung và phân bón vô

tế .
3.1.1.Mô hình kế hoạch hoá định hướng
+ Mục tiêu của KHHĐH:Là nhằm giữ một số cân đối lớn trong nền kinh tế
thị trường có sự quản lý của nhà nước.
+ Chủ thể của KHHĐH:Trong mô hình kế hoạch hoá cũ (Kế hoạch hoá tập
trung), chủ thể của kế hoạch hoá là nhà nước, ở đây kế hoạch là cương lĩnh thứ 2
của Đảng, là pháp lệnh của cơ quan quyền lực nhà nước tối cao (Quốc hội, Hội
đồng nhân dân). Chính phủ chỉ giữ vai trò tổ chức thực hiện kế hoạch.
Trong mô hình KHHĐH hiện nay, Đảng lãnh đạo làm chiến lược (không làm
kế hoạch), Quốc hội làm Hiến pháp (không làm kế hoạch). Chủ thể của KHHĐH là
Chính phủ. Chính phủ làm KHHĐH trong khuôn khổ chiến lược do Đảng quyết
nghị và tuân thủ hệ thống pháp luật do Quốc hội quyết định. Sự phân định như vậy
một mặt, đề cao đúng mức vai trò của Chính phủ, mặt khác không hạ thấp vai trò
của Đảng, Quốc hội khi phải quyết định những dự án kế hoạch. Đồng thời làm cho
mối quan hệ giữa chiến lược với luật pháp được thể hiện nhất quán trong kế hoạch
mà sự nhất quán đó được quy tụ vào một nơi chịu trách nhiệm là Chính phủ.
+ Đối tượng của KHHĐH: Trong mô hình kế hoạch hoá tập trung trước đây,
đối tượng của kế hoạch là các quá trình kinh tế diễn ra trong khu vực sở hữu công
cộng, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp quốc doanh do quan niệm rất hẹp về hàng
hoá- tiền tệ, nên ngay trong khu vực sở hữu công cộng, nhiều quá trình kinh doanh
đã nằm ngoài đối tượng của kế hoạch. Đặc biệt, khu vực kinh tế dịch vụ đã có một
bộ phận lớn không nằm trong đối tượng của kế hoạch do có sự phân biệt giữa sản
xuất vật chất (hệ thống phân ngành kinh tế MPS).
Trong mô hình KHHĐH, đối tượng của kế hoạch là toàn bộ quá trình vận
động của nền kinh tế hàng hoá (kể cả những bộ phận chưa phải là hàng hoá trong
thời kỳ chuyển đổi hiện nay). Trong đó tiền tệ sắm vai trò vĩ mô cực kỳ quan trọng.
+ Phương pháp KHHĐH:Trong mô hình kế hoạch hoá tập trung, kế hoạch
được tiến hành theo phương pháp của hệ thống sản phẩm vật chất MPS ( Materal
Product System). Phương pháp này không tính đến các dịch vụ, được quan niệm là
không liên quan trực tiếp tới sản xuất vật chất như các dịch vụ giáo dục, y tế, thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status