BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
------HÀ HỒNG ĐIỆP
NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
HÀNH VI ĐE DỌA CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN
CỦA CÁC KIỂM TỐN VIÊN
TẠI CÁC CƠNG TY BIG 4 VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
------HÀ HỒNG ĐIỆP
NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
HÀNH VI ĐE DỌA CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN
CỦA CÁC KIỂM TỐN VIÊN
TẠI CÁC CƠNG TY BIG 4 VIỆT NAM
Chun ngành: Kế toán
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. TRẦN THỊ GIANG TÂN
Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2015
Phạm vi nghiên cứu và đối tượng khảo sát ........................................................ 4
1.4.
Phương pháp nghiên cứu .................................................................................... 4
1.5.
Ý nghĩa của đề tài ............................................................................................... 5
1.6.
Kết cấu của đề tài................................................................................................ 5
Chương 2:
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
HÀNH VI ĐE DỌA CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN
2.1. Tổng quan về hành vi đe dọa chất lượng kiểm toán và mối quan hệ giữa hành vi
đe dọa chất lượng kiểm toán với chất lượng kiểm toán ............................................... 6
2.1.1.
Khái niệm về hành vi đe dọa chất lượng kiểm toán .................................... 6
2.1.2. Mối quan hệ giữa hành vi đe dọa chất lượng kiểm toán với chất lượng
kiểm toán ................................................................................................................... 6
2.2. Tổng quan về các nghiên cứu có liên quan đến các hành vi đe dọa chất lượng
kiểm toán....................................................................................................................... 7
2.3. Tổng kết những nhân tố ảnh hưởng đến hành vi đe dọa chất lượng kiểm toán từ
các nghiên cứu trước ................................................................................................... 10
2.3.1. Mục tiêu cắt giảm chi phí .............................................................................. 10
4.6.1. Khác biệt về giới tính .................................................................................... 44
4.6.2. Khác biệt về độ tuổi....................................................................................... 45
4.6.3. Khác biệt về công ty kiểm toán đang làm việc ............................................. 46
4.6.4. Khác biệt về vị trí cơng việc.......................................................................... 47
4.6.5. Khác biệt về thâm niên cơng tác ................................................................... 48
4.6.6. Khác biệt về việc có chứng chỉ nghề nghiệp ................................................. 48
Tóm tắt chương 4 ........................................................................................................ 50
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
5.1. Kết luận ................................................................................................................ 51
5.2. Kiến nghị ............................................................................................................. 52
5.3. Đóng góp của đề tài ............................................................................................. 57
5.4. Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo .............................................. 58
Tóm tắt chương 5 ........................................................................................................ 60
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
KTV
Kiểm tốn viên
Big 4
4 Cơng ty kiểm toán tại Việt Nam: Deloitte, PwC, E&Y, KPMG
BCTC
với cơng ty kiểm tốn” ………………..……….……..………….……………………31
Bảng 4.12: Kết quả thống kê mô tả các biến quan sát của yếu tố “Trao đổi thông tin
không thuận lợi” …………………...…….……..………….……………………….…32
Bảng 4.13: Kết quả thống kê mô tả các biến quan sát của yếu tố “Hành vi đe dọa chất
lượng kiểm toán”………………………………………………………………………33
Bảng 4.14: Kết quả Cronbach’s alpha của các nhóm biến quan sát…………………..35
Bảng 4.15: Kết quả phân tích hồi quy sử dụng phương pháp Enter…………………...40
Bảng 4.16. Kiểm định sự khác biệt về giới tính……………………………………….45
Bảng 4.17. Kiểm định sự khác biệt về tuổi tác………………………………………. 46
Bảng 4.18. Kiểm định sự khác biệt về công ty kiểm toán đang làm việc……………..47
Bảng 4.19. Kiểm định sự khác biệt về vị trí cơng việc………………………………. 47
Bảng 4.20. Kiểm định sự khác biệt về thâm niên công tác…………………………... 48
Bảng 4.21. Kiểm định sự khác biệt về có chứng chỉ nghề nghiệp…………………… 49
DANH MỤC CÁC HÌNH TRONG LUẬN VĂN
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu………………………………………………………16
Hình 3.2: Mơ hình nghiên cứu……………………………………………………......17
1
Chương 1: PHẦN MỞ ĐẦU
1.1.
Lý do hình thành đề tài
Một trong những mục tiêu mà các tổ chức thường thiết lập là tạo ra động lực để
lượng kiểm tốn cịn xuất phát từ việc các kiểm toán viên phải làm việc nhiều giờ liền
để hồn thành khối lượng cơng việc được giao mà khơng được tính giờ làm thêm
(Sweeney and Pierce, 2006). Tình trạng này có thể khơng q nghiêm trọng nếu nó xảy
ra nhất thời và hạn chế trong một số tình huống nhất định, tuy nhiên, nếu nó trở thành
một “quy luật bất thành văn” trong các cơng ty kiểm tốn thì chất lượng kiểm toán sẽ
bị giảm sút. (Bedard, Ettredge and Johnstone, 2008).
Có thể dễ dàng nhận thấy, những hành vi đe dọa chất lượng kiểm toán sẽ gây ra
những hậu quả xấu cho các kiểm tốn viên lẫn cơng ty kiểm toán, đặc biệt trong bối
cảnh chất lượng kiểm toán đang được đòi hỏi rất cao sau hàng loạt các vụ bê bối về báo
cáo tài chính đã kiểm tốn xảy ra tại Việt Nam và trên thế giới. Các hành vi đe dọa chất
lượng kiểm tốn có thể khiến các kiểm tốn viên bị sa thải, bị đình chỉ công việc, ảnh
hưởng xấu tới danh tiếng và khiến cho cơng ty kiểm tốn có thể gặp rắc rối về vấn đề
pháp lý do bị các đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán kiện tụng (Pierce and Sweeney,
2004, 2005). Các nghiên cứu trên thế giới (Alderman and Deitrick, 1982; Kelly and
Seiler, 1982; Lightener, Leisenring and Winters, 1983; Kelley and Margheim, 1990;
Raghunathan, 1991; Malone and Roberts, 1996; Otley and Pierce, 1996a; 1996b; Pierce
and Sweeney, 2004; 2005) cho thấy tình trạng KTV ở các cơng ty Big 4 có các hành vi
đe dọa chất lượng kiểm toán đã diễn ra trong suốt một thời gian dài, thậm chí có dấu
hiệu gia tăng. Sự sụp đổ của nhiều công ty hàng đầu thế giới có liên quan tới bê bối báo
cáo kiểm toán như Eron, WorldCom, Xerox cũng như việc các hãng kiểm toán Big 4
liên tục bị Ủy ban Giám sát kế tốn các cơng ty Đại chúng của Mỹ xử phạt do vi phạm
các quy định nghề nghiệp càng đặt ra yêu cầu bức thiết về việc nghiên cứu những nhân
tố ảnh hưởng tới hành vi đe dọa chất lượng kiểm tốn.
Tại các cơng ty big 4 của Việt Nam, cũng có thể xảy ra các hành vi đe dọa chất
lượng kiểm tốn, tuy nhiên đến nay chỉ có các đề tài nghiên cứu về chất lượng kiểm
3
tốn nói chung mà chưa có đề tài nào nghiên cứu chuyên sâu về các hành vi đe dọa
Thứ ba: Có hay khơng sự khác biệt về các đặc tính cá nhân (như: tuổi tác, giới
tính, vị trí công việc, thâm niên công tác) đến các hành vi đe dọa chất lượng kiểm toán
của KTV.
1.3.
Phạm vi nghiên cứu và đối tượng khảo sát
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến hành vi đe
dọa chất lượng kiểm toán của KTV làm việc tại các công ty Big 4 Việt Nam. Đề tài
không nghiên cứu các cơng ty kiểm tốn khơng phải là Big 4.
Đối tượng khảo sát bao gồm: các kiểm toán viên, trợ lý kiểm toán viên (gọi
chung là kiểm toán viên) đang làm việc tại các công ty Big 4 Việt Nam.
Thời gian khảo sát được tiến hành từ tháng 10/2014 đến tháng 01/2015.
1.4.
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, cụ thể:
- Phương pháp hệ thống hóa, tổng hợp, phân tích các nghiên cứu trước liên quan
đến các hành vi đe dọa chất lượng kiểm tốn.
- Phương pháp phân tích định lượng để nghiên cứu thực nghiệm. Trong đó, bao
gồm:
+ Đánh giá độ tin cậy của các thang đo: độ tin cậy của thang đo được đánh giá
qua hệ số Cronbach alpha, phân tích nhân tố khám phá sẽ được sử dụng nhằm loại bỏ
bớt các biến đo lường không đạt yêu cầu.
+ Phân tích hồi quy đơn biến, phân tích hồi quy.
+ Kiểm định T-Test và phân tích ANOVA nhằm tìm ra sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê theo một số đặc tính cá nhân của các KTV có liên quan đến những nhân tố
này.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về hành vi đe dọa chất lượng kiểm toán.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Chương 4: Xử lý số liệu và trình bày kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và giải pháp
6
Chương 2:
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
HÀNH VI ĐE DỌA CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN
2.1.
Tổng quan về hành vi đe dọa chất lượng kiểm toán và mối quan hệ giữa
hành vi đe dọa chất lượng kiểm toán với chất lượng kiểm toán
2.1.1. Khái niệm về hành vi đe dọa chất lượng kiểm toán
Hành vi đe dọa chất lượng kiểm toán lần đầu được đề cập trong nghiên cứu của
Malone and Roberts (1996). Theo Malone and Roberts (1996), các hành vi đe dọa chất
lượng kiểm toán là “hành động của KTV trong cuộc kiểm toán làm giảm khả năng phát
hiện và báo cáo các sai sót trọng yếu”.
2.1.2. Mối quan hệ giữa hành vi đe dọa chất lượng kiểm toán với chất lượng kiểm
toán
Quan điểm chất lượng kiểm toán là khả năng phát hiện và báo cáo các sai sót
trọng yếu được xem là quan điểm được chấp nhận khá phổ biến của các nhà nghiên cứu
về chất lượng kiểm toán. DeAngelo (1981) là nhà nghiên cứu đầu tiên xác định chất
lượng kiểm toán dựa trên khả năng phát hiện và báo cáo các sai sót trọng yếu trong
BCTC của cơng ty khách hàng. Theo đó, chất lượng kiểm toán được hiểu là khả năng
KTV phát hiện và báo cáo những sai sót trọng yếu trong việc trình bày và cơng bố
BCTC của khách hàng được kiểm toán. Khả năng các KTV phát hiện được sai phạm
Một số nghiên cứu khác về các hành vi đe dọa chất lượng kiểm tốn có liên
quan tới tính cách và năng lực của KTV cũng đưa ra các kết luận về các nhân tố ảnh
hưởng đến hành vi đe dọa chất lượng kiểm toán như: KTV có mức độ gắn bó thấp với
cơng ty kiểm tốn sẽ có xu hướng nhảy việc ngay khi có thể, do đó sẵn sàng có những
hành động làm sụt giảm chất lượng kiểm toán nhằm đạt được các mục tiêu trước mắt:
hồn thành cơng việc được giao, được các nhà quản lý đánh giá tốt (Otley and Pierce,
1996a; Malone and Roberts ,1996). Simons, 1995; Otley and Pierce, 1995 tiếp cận theo
hướng trao đổi thông tin giữa các KTV với nhà quản lý, chỉ ra rằng sự trao đổi không
thường xuyên và thiếu thuận lợi giữa các KTV với nhau và với nhà quản lý về những
vấn đề phát sinh trong cuộc kiểm toán cũng ảnh hưởng tới các hành vi đe dọa chất
lượng cuộc kiểm toán.
8
Nghiên cứu của Pierce and Sweeney (2006) chú ý tới một số đặc tính cá nhân
của KTV có liên quan tới hành vi đe dọa chất lượng kiểm toán, các tác giả nhận thấy
các trưởng nhóm kiểm tốn và những trợ lý KTV có nhiều kinh nghiệm hơn thì hành vi
đe dọa chất lượng kiểm toán sẽ nhiều hơn ở các trợ lý KTV ít kinh nghiệm.
Tóm lại, các hành vi đe dọa chất lượng kiểm toán đã được phát hiện trong các
nghiên cứu trước đây bao gồm:
(1)
Bỏ qua các thủ tục kiểm toán được thiết kế từ trước mà khơng thực hiện
các thủ tục kiểm tốn thay thế (Coram et al., 2003; Otley and Pierce, 1996a;
Raghunathan, 1991);
(2)
Chấp nhận sự giải thích khơng hợp lý của khách hàng và xem đó là một
9
Nhóm xuất phát từ kiểm tốn viên:
(4) Mức độ gắn bó thấp với cơng ty kiểm tốn
(5) Trao đổi thơng tin không thuận lợi.
Tại Việt Nam, vấn đề hành vi đe dọa chất lượng kiểm toán chủ yếu được đề cập
tới trong các nghiên cứu về chất lượng kiểm toán BCTC, ví dụ, đề tài nghiên cứu khoa
học cấp bộ của Đoàn Xuân Tiên (2008) “Nâng cao năng lực cạnh tranh của các cơng ty
kiểm tốn độc lập ở Việt Nam hiện nay”; hoặc bàn luận về quy trình kiểm tốn BCTC
đối với từng lĩnh vực/ngành nghề cụ thể, ví dụ luận án tiến sĩ của Phạm Tiến Hưng
(2009) “Hoàn thiện kiểm tốn BCTC các cơng ty xây lắp của các tổ chức kiểm tốn
độc lập”.
Ngồi ra có thể kể đến một số cơng trình nghiên cứu trong nước khác có liên
quan đến chất lượng kiểm tốn, điển hình có Đề tài khoa học cấp bộ của Vương Đình
Huệ (2001) “Hồn thiện cơ chế kiểm sốt chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập ở
Việt Nam”, luận án tiến sĩ của Ngô Đức Long (2002) “Những giải pháp nâng cao chất
lượng kiểm toán độc lập ở Việt Nam”; Nguyễn Thị Mỹ (2013) “Hồn thiện kiểm tốn
BCTC của các cơng ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” và đề tài cấp
ngành của Hà Thị Ngọc Hà (2011) “Các giải pháp hồn thiện, tăng cường kiểm sốt
chất lượng cơng tác kiểm tốn BCTC các đơn vị có lợi ích công chúng”. Tuy nhiên,
trong các nghiên cứu này, nhân tố ảnh hưởng tới hành vi đe dọa chất lượng kiểm tốn
khơng phải là đối tượng và mục tiêu nghiên cứu chính mà chỉ là một phần nhỏ hoặc
được dùng cho các phân tích bình luận quan trọng khác có liên quan, do đó các nhân tố
ảnh hưởng đến hành vi đe dọa chất lượng kiểm toán chưa được hệ thống đầy đủ cũng
như chưa được đánh giá mức độ ảnh hưởng của chúng tới chất lượng hoạt động kiểm
toán.
Những phương pháp nghiên cứu đã được áp dụng:
Các nghiên cứu trong nước chủ yếu dùng phương pháp phân tích, tổng hợp. Đối
thấy mục tiêu càng cao thì nhân viên càng phải bỏ ra nhiều cơng sức để thực hiện, do
đó, khi nhà quản lý đặt ra một mục tiêu cao hơn khả năng thực tế, nhân viên sẽ có xu
11
hướng phản đối hoặc cắt giảm bớt một số thủ tục mà họ cho là tốn nhiều thời gian để
hoàn thành.
Ngồi việc đặt ra mục tiêu cao, cơng ty kiểm tốn thường sẽ cắt giảm chi phí
nhằm tối đa hóa lợi nhuận (Otley, 1987). Để đạt được mục tiêu này, các nhà quản lý
của cơng ty kiểm tốn gặp một nghịch lý cố hữu, đó là: thời gian làm việc và các chi
phí của cuộc kiểm tốn có thể được đo lường và kiểm sốt dễ dàng (thơng qua hệ thống
chấm cơng và quản lý chi phí) trong khi chất lượng cơng việc kiểm tốn thì rất khó để
quan sát, khiến cho việc đánh giá hiệu quả của cuộc kiểm tốn gặp rất nhiều khó khăn
(Otley and Pierce, 1996a).
Dưới áp lực của việc kiểm sốt chi phí chặt chẽ từ nhà quản lý, các kiểm tốn
viên có thể có những hành vi đe dọa chất lượng kiểm toán như: soát xét giấy tờ làm
việc của các trợ lý kiểm toán viên thiếu thận trọng, không mở rộng các thủ tục kiểm tra
khi có sai sót được phát hiện, cắt giảm bớt một số thủ tục kiểm toán cần thiết nhằm tiết
kiệm thời gian (Pierce and Sweeney, 2004; Coram et al.,; 2003). Bedard et al. (2008)
còn cho thấy dù các kỳ kiểm toán sau, thời gian làm việc của kiểm toán viên có thể
được phân bổ thêm thì vẫn khơng đủ để thực hiện hết khối lượng cơng việc kiểm tốn,
tạo ra áp lực cho kiểm toán viên phải bỏ bớt một số thủ tục, làm sụt giảm chất lượng
kiểm toán.
2.3.2. Áp lực từ việc đánh giá nhân viên gắn với hồn thành mục tiêu
Tiêu chí đánh giá nhân viên của cấp trên sẽ ảnh hưởng tới thái độ và hành động
của nhân viên cấp dưới. Các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng nếu cấp trên đánh giá
nhân viên chỉ chú trọng vào việc nhân viên đó có đạt được mục tiêu đề ra hay khơng sẽ
dễ xảy ra tình trạng nhân viên làm việc vội vàng, nhanh chóng để hồn thành mà bỏ
qua chất lượng cơng việc (Hopwood, 1972; Otley and Pierce, 1995; Sweeney and
nỗ lực của họ trong công việc và quan trọng là không có sự đối xử phân biệt giữa các
nhân viên có cùng năng lực trong công ty (Bol, 2011).
13
Kiểm tốn viên cảm thấy mình được đối xử cơng bằng sẽ gia tăng sự hài lịng
với cơng việc, từ đó gia tăng chất lượng của cơng việc kiểm tốn (Janssen, 2001).
Ngược lại, kiểm tốn viên nếu thấy mình khơng được tưởng thưởng xứng đáng với
công sức đã bỏ ra sẽ có xu hướng điều chỉnh cơng việc của họ theo hướng cắt giảm bớt
thời gian và công sức bỏ ra để xứng đáng với những gì mà cơng ty kiểm toán đánh giá
(Akerlof and Yellen, 1990).
2.3.5. Thiếu hiệu quả trong trao đổi thơng tin
Các cơng ty kiểm tốn nói chung và Big 4 nói riêng có cơ cấu nhân sự gồm
nhiều cấp bậc: Cao nhất là các chủ phần hùm (Partner) là những người đưa ra chiến
lược và các quyết sách chung cho cuộc kiểm tốn. Phía dưới gồm có các Giám đốc
kiểm tốn và các Trưởng phịng, phó phịng nghiệp vụ - những người cụ thể hóa các
chiến lược của chủ phần hùm theo hướng chi tiết hơn và quản lý trực tiếp cuộc kiểm
toán. Bên dưới nữa sẽ có các trưởng nhóm kiểm tốn chịu trách nhiệm chính và các trợ
lý kiểm tốn viên trực tiếp thực hiện các phần hành kiểm toán. Simons (1995) cho thấy
quan điểm và cách giao tiếp giữa nhân viên với cấp trên có ảnh hưởng quan trọng tới
thái độ và hành động của cấp dưới, nhất là khi có các tình huống khơng rõ ràng và cấp
dưới cần có sự hỗ trợ, chỉ đạo từ cấp trên. Sự trao đổi thường xuyên giữa nhân viên với
các nhà quản lý cũng giúp tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, tạo ra sự tin tưởng, gia
tăng hiệu quả công việc.
Việc tăng cường trao đổi giữa nhân viên với nhà quản lý còn giúp tạo ra một
môi trường thân thiện nhằm chia sẻ thông tin và kinh nghiệm của nhà quản lý, thảo
luận về các sáng kiến trong công việc của nhân viên, từ đó có thể tháo gỡ được nhiều
khó khăn và khúc mắc trong công việc. Otley and Pierce, 1995 đã nghiên cứu và chỉ ra
rằng sự giao tiếp không thuận lợi và khơng thường xun giữa kiểm tốn viên với các
Các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi đe dọa chất lượng kiểm toán đã được chỉ ra
trong các nghiên cứu trước là : mục tiêu cắt giảm chi phí, áp lực đánh giá nhân viên
gắn với hoàn thành mục tiêu, mức độ gắn bó thấp với cơng ty kiểm tốn, chính sách
nhân sự không công bằng, trao đổi thông tin không thuận lợi; ngồi ra cịn có một số
đặc tính cá nhân như kinh nghiệm, tuổi tác và vị trí cơng việc của KTV cũng có ảnh
hưởng tới hành vi đe dọa chất lượng kiểm toán.