BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VÕ THỊ KIM LỢI
ẢNH HƯỞNG CỦA CÚ SỐC TÀI KHÓA LÊN TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM.
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh- Năm 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VÕ THỊ KIM LỢI
ẢNH HƯỞNG CỦA CÚ SỐC TÀI KHÓA LÊN TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM.
Chuyên ngành: Tài chính- Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. Bùi Thị Mai Hồi.
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2016
1.3.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..................................................................4
1.4.
Phương pháp nghiên cứu................................................................................ 5
1.4.1.
Dữ liệu………………………………………………………………………5
1.4.2.
Phương pháp………………………………………………………………...5
1.5.
Đóng góp của bài nghiên cứu ......................................................................... 5
1.6.
Bố cục của bài nghiên cứu .............................................................................. 5
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
ĐÂY VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÚ SỐC TÀI KHÓA LÊN TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ……………….. .......................................................................................... 7
2.1.
Lý thuyết cú sốc tài khóa và tăng trưởng kinh tế ........................................ 7
3.2.1.
Kỹ thuật kinh tế lượng VAR………………………………………………28
3.2.2.
Kỹ thuật kinh tế lượng SVAR……………………………………………..30
3.3.
Quy trình nghiên cứu .................................................................................... 33
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................. 38
4.1.
Kiểm định dữ liệu .......................................................................................... 38
4.2.
Kết quả của SVAR ........................................................................................ 42
4.2.1.
Mơ hình SVAR ngắn hạn và dài hạn………………………………………43
4.2.2.
Mơ hình SVAR ngắn hạn với các thành phần của chi tiêu chính phủ……..50
Tổng sản phẩm nội địa, hay
GDP
Gross Domestic Product
còn gọi Tổng sản phẩm quốc
nội, Tổng sản phẩm trong
nước
Ngân sách nhà nước
NSNN
VAR
SVAR
Vector Autoregression
Mơ hình Vector tự hồi quy
Structural Vector
Mơ hình Vector tự hồi quy
Autoregression
cấu trúc
DANH MỤC BẢNG BIỂU
BẢNG 2.1: SO SÁNH GIỮA THUẾ TRỰC THU VÀ THUẾ GIÁN THU ....... 14
BẢNG 4.15: KẾT QUẢ MA TRẬN B'' .................................................................56
BẢNG 4.16: GIÁ TRỊ PHÂN RÃ CHOLESKY TRONG MƠ HÌNH THÀNH
PHẦN CỦA SỐ THU THUẾ.................................................................................. 59
DANH MỤC HÌNH ẢNH
HÌNH 4.1: KIỂM ĐỊNH MỐI QUAN HỆ GRANGER GIỮA CÁC BIẾN ...... 40
HÌNH 4.2: BIỂU ĐỒ IRF TẤT CẢ CÁC BIẾN TRONG MƠ HÌNH SVAR
NGẮN HẠN ............................................................................................................. 44
HÌNH 4.3: GDP PHẢN ỨNG VỚI CÚ SỐC CHI TIÊU CHÍNH PHỦ ............. 45
HÌNH 4.4: GDP PHẢN ỨNG VỚI CÚ SỐC SỐ THU THUẾ ............................ 46
HÌNH 4.5: PHẢN ỨNG CỦA LÃI SUẤT VÀ CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG VỚI
CÚ SỐC XẢY RA TRONG CHI TIÊU CHÍNH PHỦ ........................................ 47
HÌNH 4.6: PHẢN ỨNG CỦA LÃI SUẤT VÀ CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG VỚI
CÚ SỐC XẢY RA TRONG SỐ THU THUẾ ....................................................... 47
HÌNH 4.7: BIỂU ĐỒ IRF CỦA CÁC BIẾN TRONG MƠ HÌNH SVAR DÀI
HẠN .......................................................................................................................... 49
HÌNH 4.8: BIỂU ĐỒ IRF CỦA CÁC BIẾN TRONG MƠ HÌNH THÀNH
PHẦN CHI TIÊU CHÍNH PHỦ ............................................................................ 52
HÌNH 4.9: PHẢN ỨNG CỦA GDP VỚI CÚ SỐC CHI ĐẦU TƯ ..................... 53
HÌNH 4.10: PHẢN ỨNG CỦA GDP VỚI CÚ SỐC CHI THƯỜNG XUYÊN . 53
HÌNH 4.11: PHẢN ỨNG CỦA GDP VỚI CÚ SỐC CHI KHÁC ....................... 54
HÌNH 4.12: PHẢN ỨNG CỦA GDP VỚI CÚ SỐC SỐ THU THUẾ TRONG
MƠ HÌNH THÀNH PHẦN CỦA CHI TIÊU CHÍNH PHỦ. .............................. 54
HÌNH 4.13: BIỂU ĐỒ IRF CỦA CÁC BIẾN TRONG PHƯƠNG TRÌNH
THÀNH PHẦN SỐ THU THUẾ ........................................................................... 57
HÌNH 4.14: PHẢN ỨNG CỦA GDP VỚI CÚ SỐC XẢY CHI TIÊU CHÍNH
PHỦ TRONG MƠ HÌNH THÀNH PHẦN SỐ THU THUẾ............................... 57
HÌNH 4.15: PHẢN ỨNG CỦA GDP VỚI CÚ SỐC THUẾ GIÁN THU ........... 58
chính sách tài khóa. Do phạm vi hạn chế của chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa
trở thành công cụ quan trọng để ổn định chu kỳ kinh doanh. Việc phân tích những
tác động của cú sốc chính sách tài khóa lên các biến kinh tế vĩ mô chủ yếu như:
tổng sản phẩm quốc nội (GDP), lạm phát, lãi suất, việc làm; và đặc biệt phân tích cú
sốc chính sách tài khóa trong nền kinh tế suy thối gần đây đã được quan tâm nhiều
hơn. Vì chính sách tài khóa được dự kiến sẽ có hiệu quả trong việc phục hồi kinh tế.
Các nền kinh tế phát triển thực hiện gói tài khóa kích thích kinh tế là biện pháp để
phục hồi kinh tế, trong khi các nền kinh tế mới nổi thông qua các biện pháp tài khóa
cố định như một hệ quả của một chính sách tài khóa thuận chu kỳ.
Cùng với các chính sách kinh tế khác, chính sách tài khóa là một cơng cụ trọng
yếu giữ vai trò quyết định trong quản lý, điều tiết vĩ mơ nền kinh tế. “Chính sách tài
khóa hợp lý là rất quan trọng để cải thiện sự ổn định mức giá và duy trì gia tăng sản
lượng và việc làm. Chính sách tài khóa được xem như một công cụ dùng để hạ thấp
sự dao động sản lượng và việc làm trong ngắn hạn. Nó cũng được sử dụng để đưa
nền kinh tế trở lại mức tiềm năng. Tuy nhiên việc gia tăng chi tiêu ngân sách chính
phủ quá mức so với thu ngân sách sẽ đưa đến thâm hụt ngân sách trầm trọng hơn.
Để bù đắp cho sự thâm hụt ngân sách, lựa chọn của hầu hết các chính phủ là vay nợ
trong nước và nước ngồi. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng nợ cơng và tăng trưởng
kinh tế có mối quan hệ âm, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Theo đó, vay nợ
càng nhiều để bù đắp cho thâm hụt ngân sách do chi tiêu ngân sách lớn hơn thu
ngân sách, thì càng làm giảm mức tăng trưởng kinh tế và ngược lại.” (Nguyễn Thị
Kim Tuyến, 2015, trang 1).
Có nhiều nghiên cứu về phân tích cú sốc tài khóa tác động lên tăng trưởng kinh
tế đã được thực hiện cho nhiều quốc gia trên thế giới, nhưng kết quả không đạt
2
được một sự thống nhất. Một cách tiếp cận thường được sử dụng để ước tính tác
động của các cú sốc chính sách tài khóa đối với hoạt động kinh tế là dựa trên mơ
năng động cho sáu nền kinh tế mới nổi: Cộng hòa Séc, Hungary, Ba Lan, Cộng hòa
Slovak, Bulgaria và Romania trong giai đoạn 2000-2008 và tìm thấy các tác động
tích cực nhưng nhỏ, trong khi Cuaresma và các cộng sự (2011) cũng tìm thấy các
tác động nhỏ cho Cộng hịa Séc, Hungary, Ba Lan, Cộng hòa Slovak.
Một bài nghiên cứu khác của Ioana Boiciuc (2015) sử dụng phương pháp
SVAR cho 5 biến: sản lượng thực tế, chi tiêu chính phủ và các khoản thu thuế, giảm
phát GDP cho biến lạm phát và lãi suất liên ngân hàng ngắn hạn ở Romania và kết
quả cho thấy rằng tác động của các cú sốc chính sách tài khóa lên các biến vĩ mô là
tiêu cực, sản lượng thực tế phản ứng yếu với cú sốc chính sách kinh tế.
Ở Việt Nam cũng đã có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa chính sách tài
khóa và tăng trưởng kinh tế, trong số đó có các bài nghiên cứu của Tơ Thành
(2010), Nguyễn Đức Minh (2012), Nguyễn Lâm (2014), Nguyễn Toàn Thắng
(2015),…Nhưng kết quả từ các nghiên cứu không đạt được sự đồng nhất và cũng
chưa có nghiên cứu nào phân tích tác động của cú sốc chính sách tài khóa lên tăng
trưởng kinh tế ở Việt Nam. Vì kinh tế - xã hội Việt Nam từ năm 2012 đến nay, bị
ảnh hưởng bởi sự bất ổn của kinh tế thế giới do khủng hoảng tài chính và khủng
hoảng nợ cơng ở Châu Âu chưa được giải quyết. Những bất lợi từ sự sụt giảm của
kinh tế thế giới đã ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống
dân cư trong nước. Việc này đòi hỏi Việt Nam phải có một chính sách tài khóa hợp
lý, để kích thích tăng trưởng kinh tế bền vững. Chính phủ đã thực hiện các biện
pháp điều hành quyết liệt nhằm chặn đà suy giảm kinh tế, ổn định vĩ mô và hướng
tới tăng trưởng kinh tế bền vững (Lưu Thị Ngọc và các cộng sự, 2013). Một nền
kinh tế phát triển ổn định và bền vững phải có sự can thiệp của chính phủ thơng qua
chính sách tài khóa hoặc chính sách tiền tệ. Chính phủ theo đuổi và đưa ra các chính
sách cần thiết nhằm đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế. Theo lý thuyết vĩ mơ, chính sách
tài khóa có tác động đến việc kích thích tổng cầu và phục hồi nền kinh tế. Trong
chính sách tài khóa có thể kể đến hai công cụ quan trọng là thuế và chi tiêu cơng
(Hồng Ngọc Mai Anh, 2015). Và những cú sốc và những thay đổi trong chính sách
tài khóa sẽ tác động lên các biến số vĩ mô trong cả ngắn hạn và dài hạn. Từ đó, thấy
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là cú sốc chính sách tài khóa và tăng
trưởng kinh tế. Cụ thể là xem xét tác động của cú sốc chi tiêu chính phủ và cú sốc
số thu thuế tác động như thế nào lên tăng trưởng kinh tế. Phạm vi nghiên cứu là
5
phân tích chuỗi dữ liệu theo quý của Việt Nam trong giai đoạn từ quý 1 năm 2005
đến quý 1 năm 2016. Tất cả dữ liệu này được trích xuất thông qua Tổng cục thống
kê Việt Nam và quỹ tiền tệ thế giới (IMF) cho Việt Nam.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
1.4.1. Dữ liệu
Các dữ liệu được thu thập từ thực tế theo quý (từ quý 1 năm 2005 đến quý 1
năm 2016) ở Việt Nam cho năm biến: sản lượng thực tế, chi tiêu chính phủ và số
thu thuế của chính phủ, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đại diện cho lạm phát và lãi suất
ngân hàng. Chi tiêu chính phủ, số thu thuế và sản lượng đầu ra thể hiện giá trị thực
tế bằng cách lấy giá trị danh nghĩa chia cho chỉ số CPI. Tất cả các biến ngoại trừ lãi
suất được sử dụng trong logarit.
1.4.2. Phương pháp
Bài nghiên cứu sử dụng chủ yếu phương pháp định lượng bằng kỹ thuật kinh tế
lượng SVAR để nhận dạng của những cú sốc chính sách tài khóa. Nhưng trước khi
phân tích dữ liệu bằng kỹ thuật SVAR thì dữ liệu được kiểm định để đảm bảo độ
chính xác và tin cậy của kết quả thu được. Các kết quả thống kê và hồi quy được
thực hiện với sự hỗ trợ của phần mềm Stata 12.0.
1.5. Đóng góp của bài nghiên cứu
Bài nghiên cứu thơng qua mơ hình SVAR giúp xác định hàm phản ứng đẩy của
các chính sách tài khóa lên tăng trưởng kinh tế, từ đó có thể đưa ra chính sách tài
khóa thích hợp cho kinh tế ở Việt Nam hiện nay.
chính sách tài khóa trong việc kích thích tăng trưởng kinh tế, thì việc phân tích tác
động của cú sốc chính sách tài khóa đến tăng trưởng kinh tế là quan trọng. Đã có
nhiều nghiên cứu trên thế giới nhưng kết quả chưa đạt được sự thống nhất và hiện
tại ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào được thực hiện. Đó là lý do thực hiện đề tài
này. Trong chương 1 cũng trình bày tổng quan mục tiêu nghiên cứu và phương pháp
nghiên cứu của đề tài.
7
CHƯƠNG 2.
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU
TRƯỚC ĐÂY VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÚ SỐC TÀI KHÓA LÊN
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
2.1. Lý thuyết cú sốc tài khóa và tăng trưởng kinh tế
2.1.1. Lý thuyết nền
Chính sách tài khóa có thể hiểu là các biện pháp can thiệp của chính phủ đến hệ
thống thuế khóa và chi tiêu của chính phủ nhằm đạt được các mục tiêu của nền kinh
tế vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm hoặc ổn định giá cả và lạm
phát. Việc thực thi chính sách tài khóa sẽ do chính phủ thực hiện liên quan đến
những thay đổi trong các chính sách thuế hoặc/và chi tiêu chính phủ. Một cú sốc
chính sách tài khóa là một sự thay đổi bất thường trong chính sách tài khóa, là việc
chính phủ sử dụng thay đổi chi tiêu và nguồn thu thuế để tác động lên nền kinh tế.
Chính sách tài khóa bao gồm một loạt các chính sách quy định về thuế có thể thay
đổi hoặc các danh mục chi tiêu chính phủ, mà sự thay đổi có thể xảy ra. Khi chính
phủ thay đổi chính sách tài khóa này qua chính sách tài khóa khác tức là chính phủ
đã tạo nên một cú sốc trong chính sách tài khóa.
Một cú sốc doanh thu của chính phủ là một sự thay đổi trong chính sách thu của
và lao động theo yêu cầu và làm cho tiêu dùng và mức lương sẽ tăng lên. Trong mơ
hình tân cổ điển là một cú sốc chính sách tài khóa tích cực được coi là một tác động
âm ở hiện tại hoặc tương lai gần, vì sự gia tăng chi tiêu chính phủ sẽ cần phải được
tài trợ bằng thuế cao hơn. Sau một thời gian dài thì các hộ gia đình sẽ giảm tiêu thụ
và tăng cung ứng lao động, tư nhân gia tăng đầu tư. Cả hai lý thuyết dự đốn sự gia
tăng đầu ra nhưng thơng qua kênh khác nhau.
Chính sách tài khóa thường gắn liền với trường phái Keynes, theo ơng chính
phủ nên sử dụng quyền hạn của mình để tăng tổng cầu bằng cách tăng chi tiêu và
tạo ra môi trường lưu thông tiền tệ dễ dàng, từ đó kích thích nền kinh tế, tạo ra công
ăn việc làm và cuối cùng tăng thêm của cải trong xã hội. Phong trào dựa trên lý
thuyết của Keynes cho rằng chính sách tiền tệ bản thân nó có những hạn chế trong
việc giải quyết khủng hoảng tài chính, vì vậy đã tạo ra cuộc tranh luận giữa những
nhà kinh tế theo trường phái Keynes và những người ủng hộ chính sách tiền tệ.
(Nguyễn Lâm, 2014).
9
Có nhiều quan điểm khác nhau về tác động của cú sốc chính sách tài khóa lên
tăng trưởng kinh tế. Lý thuyết của Keynes tin rằng trong một nền kinh tế sẽ hiếm
khi hoạt động ở mức việc làm đầy đủ, như vậy khi có các cú sốc chính sách tài khóa
và cú sốc chính sách tiền tệ là cần thiết để kích thích tổng cầu, kích thích phản ứng
của tồn xã hội trong dài hạn. Trong khi đó, trường phái tiền tệ và các nhà kinh tế
học cổ điển cho rằng nên hạn chế tạo nên các cú sốc chính sách tài khóa do nó có
tiềm năng tạo ra sự thiếu hiệu quả trong phân bổ nguồn lực. Khi gia tăng chi tiêu
chính phủ sẽ tạo ra tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên sau một thời điểm nhất định kết
quả của việc tăng chi tiêu chính phủ sẽ tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế.
Có ý kiến cho rằng chi tiêu của chính phủ có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bằng
cách chuyển tiền vào tay của cơng chúng. Ví dụ điển hình trong chi tiêu chính phủ
là đầu tư cơng. Gia tăng đầu tư cơng có thể dẫn đến sự gia tăng trong giải quyết việc
tiêu dùng sẽ cảm giác mình có nhiều tiền hơn và chi tiêu nhiều hơn, từ đó dẫn đến
tăng trưởng kinh tế. Khi nền kinh tế tăng trưởng cao hơn sẽ dẫn đến thu ngân sách
của Chính phủ cũng tăng lên dù cho có cắt giảm mạnh thuế suất. Và tác động này sẽ
có ý nghĩa trong ngắn hạn và dài hạn thơng qua từng cú sốc thuế gián thu và cú sốc
trong thuế trực thu.
Kinh tế học đã chỉ ra rằng thu từ thuế luôn gắn chặt với thực trạng kinh tế và sự
vận động của các yếu tố kinh tế vĩ mô như giá cả, thu nhập, đầu tư, lãi suất, tiêu
dùng, nhập khẩu, xuất khẩu, chi tiêu công. Chỉ tiêu quan trọng biểu hiện thực trạng
của nền kinh tế có ảnh hưởng quyết định đến quy mô và mức độ động viên của thuế
chính là GDP. GDP và số thu từ thuế ln có quan hệ 2 chiều biện chứng với nhau,
nghĩa là GDP tăng trưởng thì số thu thuế sẽ tăng lên tỷ lệ tương ứng (ngoại trừ yếu
tố như hệ thống thuế kém hiệu quả) và tỷ lệ động viên của thuế ở mức hợp lý thì sẽ
góp phần kích thích hoạt động sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng, đầu tư, xuất nhập
khẩu mở rộng từ đó GDP sẽ tăng trưởng theo.
Các nghiên cứu khác nhau có kết quả khác nhau và vẫn còn thiếu sự đồng thuận
trên cả chặng đường nghiên cứu thực nghiệm về tác động của cú sốc chính sách tài
khóa lên các nhân tố kinh tế. Một cách tiếp cận thường được sử dụng để đánh giá
tác động của các cú sốc chính sách tài khóa lên tăng trưởng kinh tế dựa trên mơ
hình VAR và SVAR. Với những hạn chế của mơ hình VAR, mơ hình SVAR ra đời
11
với nhiều ưu điểm hơn đã trở thành kỹ thuật quan trọng trong việc phân tích chính
sách tài khố. Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp SVAR để phân tích tác động
của chính sách tài khố lên tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.
2.1.2. Giải thích các biến trong mơ hình
Thu ngân sách nhà nước là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập
trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ ngân sách nhà nước
(NSNN) nhằm thỏa mãn các nhu cầu của Nhà nước. Thu NSNN phản ánh các quan
hàng hóa và dịch vụ cơng của chính phủ, ngồi ra cịn có một phần được dành để
chi đầu tư phát triển kinh tế. Thuế không chỉ đơn thuần là một nguồn thu chủ yếu
của ngân sách nhà nước mà thuế còn gắn liền với các vấn đề về sự tăng trưởng kinh
tế, về sự công bằng trong phân phối và sự ổn định xã hội. Trong phạm vi nghiên
cứu các vấn đề của tài chính và ngân sách nhà nước, thuế giữ các vai trò quan trọng:
Thứ nhất, thuế tạo nguồn thu cho NSNN. Mỗi một loại thuế mà nhà nước ban hành
đều nhằm vào mục đích là tạo nguồn thu cho NSNN. Vai trò tạo nguồn thu của thuế
xuất phát từ yêu cầu và quyền lực của nhà nước đối với xã hội. Nhà nước với quyền
lực chính trị có thể ban hành các loại thuế với các mức thuế suất tùy ý. Tuy nhiên,
khi xét về mục đích lâu dài khi định ra các loại thuế, thuế suất, đối tượng chịu thuế;
chính phủ không chỉ đơn thuần thỏa mãn nhu cầu tăng thu của NSNN, mà phải thỏa
mãn đồng thời yêu cầu tăng trưởng kinh tế và điều chỉnh thu nhập. Việc đáp ứng cả
ba u cầu địi hỏi chính phủ phải tính tốn, cân nhắc kỹ lưỡng khi ban hành các
loại thuế, bởi vì nguồn thu của thuế bắt nguồn từ thu nhập quốc dân, khả năng động
viên của thuế phụ thuộc chủ yếu vào phát triển của sản xuất, hiệu quả của sản xuất.
Như vậy, tạo nguồn thu cho NSNN là vai trò cơ bản của thuế. Nhưng để phát huy
tốt vai trò này cần phải đặt thuế trong mối quan hệ với tăng trưởng kinh tế và thực
hiện công bằng xã hội, bởi chính sự tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã
hội là cơ sở tồn tại và phát triển của thuế. Thứ hai, thuế kích thích tăng trưởng kinh
tế là vai trị khơng kém phần quan trọng bởi vì chính sách thuế ảnh hưởng trực tiếp
đến thu nhập, giá cả, quan hệ cung cầu, cơ cấu đầu tư và đến sự phát triển và suy
thoái của một nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường nhà nước sử dụng công cụ
thuế để điều tiết sản xuất và thị trường nhằm xác lập một cơ cấu kinh tế hợp lý, có
những ngành kinh tế tác động đến sự tăng trưởng kinh tế (kinh tế công cộng) nhưng
13
lại không được các nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế quan tâm vì lợi nhuận
khơng cao, cần có sự đầu tư của nhà nước. Điều này địi hỏi phải huy động thuế một