BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
ONG MỸ TÚ
ẢNH HƢỞNG CỦA CÚ SỐC CHÍNH
SÁCH TIỀN TỆ ĐẾN CÁC NGÀNH
KINH TẾ Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
ONG MỸ TÚ
ẢNH HƢỞNG CỦA CÚ SỐC CHÍNH
SÁCH TIỀN TỆ ĐẾN CÁC NGÀNH
KINH TẾ Ở VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Hội đồng, cũng như kết quả luận văn mình.
TP.HCM, ngày tháng năm 2013
Tác giả Ong Mỹ Tú
- 2 -
MỤC LỤC
CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU 6
CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY 9
2.1 Chính sách tiền tệ 9
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trƣớc đây 18
CHƢƠNG 3: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 Mô hình nghiên cứu. 26
3.2 Nguồn dữ liệu 28
3.3 Mô phỏng các bƣớc thực hiện 29
3.3.1 Kiểm định tính dừng. 29
3.3.2 Lựa chọn độ trễ tối ưu. 29
3.3.3 Kiểm định nhân quả Granger. 29
3.3.4 Hàm phản ứng xung (Impulse response function - IRF) 30
3.3.5 Phân rã phương sai (Variance decomposition) 30
CHƢƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
- 4 -
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ
DANH MỤC BẢNG BIỂU Trang
Bảng 3.1 Các biến trong mô hình 28
Bảng 4.1 Kết quả kiểm định tính dừng 32
Bảng 4.2 Kết quả kiểm định độ trễ tối ưu 33
Bảng 4.3 Kiểm định nhân quả Pair-wise granger 35
Bảng 4.4 Kết quả phân rã phương sai của các ngành kinh tế 40
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 4.1 Dữ liệu sử dụng trong mô hình VAR 31
Hình 4.2 Kiểm định tính ổn định của mô hình 34
Hình 4.3 Phản ứng của ngành nông nghiệp trước cú sốc của các kênh chính sách tiền tệ-37
Hình 4.4 Phản ứng của ngành sản xuất trước cú sốc của các kênh chính sách tiền tệ 39
Hình 4.5 Phản ứng của ngành dịch vụ trước cú sốc của các kênh chính sách tiền tệ 39 - 5 -
TÓM TẮT
Nghiên cứu phân tích ảnh hưởng của chính sách tiền tệ đến các ngành kinh tế ở
Việt Nam. Các ngành kinh tế được phân tích là các ngành đóng góp thành GDP của
Việt Nam bao gồm: ngành nông nghiệp, sản xuất và dịch vụ. Dữ liệu bài nghiên cứu
được thực hiện trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2012. Bài nghiên cứu sử dụng
kiểm định nhân quả Granger và mô hình VAR đệ quy. Kết quả của bài nghiên cứu
là một vấn đề quan trọng đối với các nhà điều hành chính sách và các nhà nghiên
cứu trên toàn thế giới.
Cú sốc chính sách tiền tệ là thuật ngữ dùng để ám chỉ sự biến động mạnh và đột
ngột của các biến đại diện cho chính sách tiền tệ, phổ biến nhất là lãi suất và cung
tiền. Các cú sốc chính sách tiền tệ thường xuất hiện khi nhà điều hành chính sách
muốn theo đuổi một mục tiêu nào đó hoặc muốn cải thiện ngay lập tức tình trạng
hiện tại của nền kinh tế. Trước khi thực hiện một cú sốc chính sách tiền tệ, nhà điều
hành chính sách cần phải cân nhắc thật kỹ và đánh giá đầy đủ các tác động của cú
sốc này đối với nền kinh tế. Nếu sử dụng cú sốc chính sách tiền tệ không hợp lý,
chẳng những không đạt được mục tiêu mong muốn mà còn gây ra tác động tiêu cực
đến các yếu tố khác trong nền kinh tế. Nói cách khác, thực hiện cú sốc chính sách
tiền tệ là một quyết định chính sách tiền tệ quan trọng và có thể gây ra những phản
ứng mạnh mẽ từ các biến vĩ mô khác trong nền kinh tế.
Nhận thức được tầm quan trọng trong việc đánh giá phản ứng của các biến vĩ mô
trước tác động của các cú sốc chính sách tiền tệ, nhiều lý thuyết đã được xây dựng
để tìm ra câu trả lời cho vấn đề này. Từ nghiên cứu nền tảng ban đầu của Sims
(1992) về những tác động của chính sách tiền tệ, ngày càng nhiều nghiên cứu được
thực hiện theo hướng phân tích ảnh hưởng của cú sốc chính sách tiền tệ lên các biến
tỷ giá, sản lượng và lạm phát. Và đề tài nghiên cứu về cơ chế lan truyền của chính
- 7 -
sách tiền tệ đã trở thành một đề tài khá phổ biến đối với các nước phát triển lẫn các
nước có nền kinh tế nhỏ mở.
Tại Việt Nam có một số nghiên cứu định lượng điển hình về cơ chế truyền dẫn
chính sách tiền tệ với các mô hình khác nhau như:
+ Lê Việt Hùng và Wade D. Pfau (2008) phân tích sự truyền dẫn của chính sách
tiền tệ, sử dụng mô hình VAR.
+ Phạm Thế Anh (2008) nghiên cứu chính sách tiền tệ và ảnh hưởng của nó đối với
lạm phát, sản lượng và các biến vĩ mô khác, sử dụng mô hình SVAR.
+ Trần Ngọc Thơ và cộng sự (2013) nghiên cứu cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ
ở Việt Nam, sử dụng mô hình SVAR.
- 9 -
CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY
2.1 Chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ là tổng thể các biện pháp, công cụ mà NHNN sử dụng
để
điều tiết khối lượng tiền tệ, tín dụng nhằm ổn định tiền tệ, thực hiện các mục
tiêu
của các chính sách tiền tệ. Thực chất chính sách tiền tệ là chính sách cung tiền
của NHNN. NHNN căn cứ vào thực trạng của nền kinh tế, thực trạng điều chỉnh
lượng tiền cung ứng bằng cách tăng hay giảm khối lượng cung tiền cho phù hợp
với tổng cầu, nhằm duy trì sự cân bằng giữa cung và cầu tiền.
- Cung ứng thêm tiền (thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ): nền kinh tế được
dồi dào tiền tệ, mọi chi phí giảm, các doanh nghiệp và người tiêu dùng
có nhiều tiền và kiếm tiền dễ dàng. Thị trường phồn vinh, kích thích mọi
sản
xuất được mở rộng liên tục, tăng thêm nhiều việc làm, thu nhập quốc
dân và ngân sách nhà nước đều tăng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh
hơn và giá
làm giảm chi phí vốn, dẫn đến tăng chi tiêu cho đầu tư (I ↑), từ đó dẫn đến tăng tổng
cầu và tăng sản lượng (Y ↑).
Một điểm quan trọng của kênh lãi suất này là nhấn mạnh vào lãi suất thực hơn lãi
suất danh nghĩa khi lãi suất ảnh hưởng tới đến quyết định của doanh nghiệp và
người tiêu dùng. Thêm vào đó, cơ chế này cho rằng lãi suất thực dài hạn chứ không
phải lãi suất thực ngắn hạn mới tác động mạnh đến chi tiêu. Làm thế nào để sự thay
đổi lãi suất danh nghĩa ngắn hạn mà ngân hàng trung ương đưa ra dẫn đến một sự
thay đổi tương ứng ở mức lãi suất thực trên cả trái phiếu ngắn và dài hạn?
Điểm quan trọng ở đây là giá cả có tính cố định, do đó khi chính sách tiền tệ nới
lỏng làm giảm lãi suất danh nghĩa trong ngắn hạn cũng đồng thời làm giảm lãi suất
thực ngắn hạn; điều này sẽ vẫn đúng ngay cả khi có các kỳ vọng hợp lý. Lý thuyết
kỳ vọng về cấu trúc kỳ hạn phát biểu rằng lãi suất dài hạn là trung bình của các lãi
suất ngắn hạn trong tương lai, tức là việc giảm lãi suất thực ngắn hạn sẽ làm giảm
lãi suất thực dài hạn. Mức lãi suất thực thấp hơn này sẽ làm tăng đầu tư tài sản cố
định của doanh nghiệp, đầu tư nhà ở, chi tiêu hàng lâu bền và đầu tư hàng tồn kho
và kết quả là làm gia tăng tổng sản lượng.
Việc lãi suất thực có tác động đến chi tiêu chứ không phải là lãi suất danh nghĩa cho
thấy một cơ chế quan trọng cho chính sách tiền tệ kích thích nền kinh tế như thế
- 11 -
nào, ngay cả trong trường hợp lãi suất danh nghĩa chạm sàn trong thời kỳ lạm phát.
Khi lãi suất danh nghĩa ở mức 0%, một sự mở rộng cung tiền tệ (M ↑) có
thể tăng mức giá dự kiến (Pe ↑) khiến lạm phát dự kiến tăng (πe ↑), qua đó giảm
mức lãi suất thực ( ir =[i - πe] ↓); ngay cả khi lãi suất danh nghĩa cố định ở 0%, vẫn
khuyến khích chi tiêu thông qua kênh truyền dẫn bằng lãi suất đã nêu ở trên. Cụ thể:
M ↑⇒ Pe ↑ ⇒ πe ↑⇒ ir ↓ ⇒ I ↑⇒Y ↑ (2.2)
2.1.2 Các kênh giá tài sản
Một số quan điểm phê phán trường phái trọng tiền đối với thuyết IS-LM trong phân
tích những tác động của chính sách tiền tệ lên nền kinh tế cho rằng nó chỉ tập trung
chủ yếu vào giá của một loại tài sản là tiền tệ, tức là lãi suất, mà không đề cập đến
giá của các tài sản khác. Những người theo trường phái trọng tiền đã hình dung ra
động lên giá trị của vốn cổ phần (xem Tobin [1969]). Tobin định nghĩa q là giá thị
trường của doanh nghiệp chia cho chi phí thay thế vốn thay thế. Nếu q cao, giá thị
trường của công ty sẽ cao so với chi phí thay thế vốn hay vốn mở nhà xưởng mới và
thiết bị mới sẽ rẻ hơn so với giá trị thị trường của công ty. Các công ty khi đó có thể
phát hành vốn cổ phần và thu được giá cao so với chi phí trang thiết bị và nhà
xưởng mà họ đang mua. Do đó, đầu tư sẽ nhiều hơn vì doanh nghiệp có thể mua
được rất nhiều hàng hóa đầu tư mới bằng một lượng nhỏ vốn cổ phần phát hành.
Mặt khác, khi q thấp, công ty sẽ không mua hàng hóa đầu tư mới vì giá trị thị
trường của công ty là thấp so với chi phí vốn. Nếu công ty muốn thu được vốn khi q
thấp, họ mua một công ty khác với giá rẻ và nhận được lượng vốn cũ thay thế. Đầu
tư vì thế mà giảm sút.
Điểm then chốt của cuộc tranh luận này đó là mối liên hệ q và chi phí đầu tư.
Nhưng chính sách tiền tệ tác động lên giá cổ phiếu như thế nào? Trong lý thuyết
tiền tệ, khi cung tiền tệ tăng, công chúng nhận thấy họ có nhiều tiền hơn so với họ
muốn và vì vậy họ cố gắng giảm lượng tiền nắm giữ bằng cách tăng mức tiêu dung
và đầu tư. Nơi mà công chúng có thể chọn để đầu tư nhiều hơn cả là thị trường
chứng khoán, nhu cầu nắm giữ chứng khoán gia tăng cho nên giá của chúng tăng.
- 13 -
Thuyết của Keynes cũng dẫn tới một kết luận tương tự, bởi vì lãi suất giảm do chính
sách tiền tệ nới lỏng đã làm trái phiếu kém hấp dẫn hơn so với cổ phiếu, do đó làm
tăng giá cổ phiếu. Khi giá cổ phiếu (Pe) cao hơn, sẽ dẫn đến hệ số q cao hơn và do
đó đầu tư cao hơn lại dẫn đến một cơ chế chuyển dịch tiếp theo của chính sách tiền
tệ đến biến Y:
M ↑⇒ Pe ↑ ⇒ q ↑⇒I ↑⇒Y ↑ (2.5)
Những tác động của sự giàu có (Wealth Effects): Một kênh khác thực hiện quá trình
truyền dẫn tác động của chính sách tiền tệ thông qua giá cổ phiếu được mô tả qua
tác động của sự giàu có lên tiêu dùng. Kênh này đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ
của Franco Modigliani và mô hình MPS của ông, và một phiên bản của nó đang
được ứng dụng tại Hệ thống Dự trữ liên bang FED (xem Modigliani-1971).
q =
gồm cả cổ phiếu phổ thông. Khi giá cổ phiếu tăng, giá trị của tài sản tài chính cũng
tăng, do vậy làm tăng nguồn lực của người tiêu dùng và vì vậy chi tiêu tiêu dùng sẽ
tăng. Khi chúng ta thấy chính sách tiền tệ nới lỏng có thể dẫn đến một sự tăng giá
cổ phiếu, ta sẽ có một cơ chế truyền dẫn tiền tệ khác:
M ↑⇒ Pe ↑ ⇒ Sự giàu có ↑ ⇒ Tiêu dùng ↑⇒Y ↑ (2.6)
Kênh giá nhà đất: Khung khổ lý thuyết q của Tobin ứng dụng trực tiếp vào thị
trường nhà đất, nơi mà nhà ở cũng được xem như là một hình thức vốn cổ phần. Khi
giá nhà tăng, sẽ làm tăng chi phí thay thế, dẫn đến tăng q trong mô hình của Tobin
về nhà đất, từ đó khuyến khích sản xuất. Tương tự, giá nhà đất đang là một nhân tố
cấu thành cực kỳ quan trọng của sự giàu có và do vậy khi giá này tăng sẽ làm tăng
sự giàu có, vì vậy mà tiêu dùng tăng. Nới lỏng tiền tệ là nguyên nhân làm tăng giá
nhà đất thông qua những cơ chế đã mô tả ở trên làm tăng tổng cầu. Bởi vậy, cơ chế
truyền dẫn tiền tệ cũng được hình thành thông qua kênh giá nhà đất.
2.1.3 Các kênh tín dụng
Có hai kênh truyền dẫn tiền tệ cơ bản đều xuất phát từ kết quả của vấn đề thông tin
không cân xứng trong thị trường tín dụng là: kênh cho vay ngân hàng và kênh bảng
cân đối tài sản.
• Kênh cho vay ngân hàng
- 15 -
Kênh cho vay ngân hàng dựa trên quan điểm ngân hàng đóng vai trò đặc biệt trong
hệ thống tài chính bởi vì các ngân hàng có đủ các điều kiện tốt để giải quyết các vấn
đề thông tin không cân xứng trong thị trường tín dụng. Do vai trò đặc biệt của ngân
hàng, một số người vay nhất định sẽ không thể gia nhập vào thị trường tín dụng trừ
khi họ vay từ ngân hàng. Kênh truyền dẫn tiền tệ qua cho vay ngân hàng hoạt động
như sau: Chính sách tiền tệ nới lỏng làm tăng dữ trữ ngân hàng và tiền gửi ngân
hàng, tăng chất lượng các khoản vay ngân hàng hiện có. Do ngân hàng có vai trò
đặc biệt quan trọng là người cho vay của những người đi vay ngân hàng, chính việc
tăng các khoản vay sẽ dẫn đến đầu tư tăng. Theo sơ đồ, ảnh hưởng của chính sách
tiền tệ là:
M↑ ⇒ Tiền gửi ngân hàng ↑ ⇒ các khoản vay ngân hàng ↑ ⇒ I ↑⇒ Y↑ (2.7)
Như Stiglitz và Weiss (1981) đề cập, hạn chế tín dụng xảy ra trong trường hợp
người vay bị từ chối khoản vay ngay cả khi họ sẵn sàng trả lãi suất cao hơn. Đây là
do các cá nhân và các công ty với các dự án đầu tư rủi ro nhất sẵn sàng trả lãi suất
cao nhất, bởi vì nếu đầu tư mạo hiểm thành công, họ sẽ là người hưởng lợi. Vì vậy
lãi suất cao làm tăng lựa chọn đối nghịch và lãi suất thấp làm giảm lựa chọn đối
nghịch
• Kênh mức giá tăng ngoài dự tính
Kênh mức giá tăng ngoài dự tính là kênh thứ ba của bảng cân đối tài sản hoạt động
thông qua chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến mức giá chung. Bởi vì các khoản nợ
phải trả được cố định trong hợp đồng theo giá trị danh nghĩa và nới lỏng tiền tệ dẫn
đến mức giá tăng ngoài dự tính (P↑ ), do đó làm tăng giá trị ròng thực, làm giảm lựa
chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức, dẫn đến tăng chi tiêu đầu tư và tổng sản lượng
như sơ đồ dưới đây.
M↑ ⇒ P↑ ⇒ lựa chọn đối nghịch & rủi ro đạo đức↓ ⇒Cho vay↑⇒ I↑⇒ Y↑ (2.10)
• Ảnh hưởng thanh khoản của hộ gia đình
Mặc dù hầu hết tài liệu nghiên cứu về kênh tín dụng tập trung vào chi tiêu của các
công ty kinh doanh, nhưng cũng nên quan tâm đến chi tiêu của người tiêu dùng, đặc
- 17 -
biệt là chi tiêu hàng lâu bền và nhà ở. Sự thắt chặt tiền tệ khiến các ngân hàng từ
chối cho vay nên gây ra sự suy giảm trong hoạt động chi tiêu hàng lâu bền và nhà ở
bởi người tiêu dùng không tiếp cận được các nguồn vốn tín dụng. Tương tự như
vậy, việc tăng lãi suất khiến bảng cân đối tài sản của hộ gia đình xấu đi bởi vì dòng
tiền của hộ gia đình bị tác động tiêu cực. Một cách khác để nhận ra kênh cân đối tài
sản của hộ gia đình hoạt động như thế nào đó là xem xét những ảnh hưởng của
thanh khoản đến chi tiêu hàng lâu bền và nhà ở - một yếu tố quan trọng được tìm
thấy trong cuộc Đại suy thoái (Mishkin [1978]). Với quan điểm hiệu ứng thanh
khoản ảnh hưởng lên bảng cân đối tài sản thông qua tác động của nó lên mong
muốn chi tiêu của người tiêu dùng nhiều hơn so với mong muốn cho vay của người
cho vay. Bởi vì thông tin không cân xứng về chất lượng, hàng hóa lâu bền và nhà ở
là những tài sản có tính thanh khoản thấp.
sách tiền tệ. Theo kênh truyền dẫn này, sự thay đổi trong chính sách tiền tệ ảnh
hưởng đến kỳ vọng của công chúng về lạm phát, việc làm, tăng trưởng, thu nhập và
lợi nhuận trong tương lai. Sự thay đổi trong kỳ vọng ảnh hưởng đến quyết định các
hoạt động kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, tác động của kênh truyền dẫn phụ thuộc vào
cách giải thích của công chúng về những thay đổi trong chính sách tiền tệ. Ví dụ,
công chúng có thể xem lãi suất giảm là một tín hiệu cho thấy nền kinh tế sẽ mở rộng
hơn trong tương lai, thúc đẩy họ tự tin để chi tiêu và đầu tư. Mặt khác, họ có thể tin
rằng nền kinh tế đang yếu hơn, làm giảm lòng tin và cuối cùng giảm chi tiêu và đầu
tư.
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trƣớc đây
Chủ đề truyền dẫn chính sách tiền tệ đến các ngành kinh tế được nghiên
cứu tại nhiều nước trên thế giới, từ các nước phát triển cho đến các nước có nền
kinh tế mở nhỏ với nhiều mô hình nghiên cứu khác nhau, sau đây là một số
nghiên cứu ở các nước phát triển, kế đến là ở các nước có nền kinh tế mở nhỏ:
Ganley J. and C. Salmon (1997) nghiên cứu tác dụng theo nhóm của
- 19 -
những cú sốc do chính sách tiền tệ tác động đến đầu ra của 24 lĩnh vực của nền
kinh tế Anh. Mục đích của việc phân tích là để xác định tốc độ và cường độ của
các phản ứng của các công ty trong các lĩnh vực này với một chính sách thắt
chặt tiền tệ bất ngờ, và để xem xét liệu những phản ứng này có cung cấp bằng
chứng về cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ. Kết quả cho thấy độ nhạy của
đầu ra với những thay đổi trong chính sách tiền tệ khác nhau rõ rệt giữa các
ngành.
Những tác động của một chính sách thắt chặt tiền tệ bất ngờ dường như
được phân bố không đồng đều giữa các khu vực của nền kinh tế. Qui mô và
thời điểm của các đợt giảm sản lượng đầu ra xác nhận rằng một số ngành công
nghiệp đặc biệt nhạy cảm với việc thắt chặt các điều kiện tiền tệ. Đúng như dự
đoán, các lĩnh vực như xây dựng cho thấy một sự suy giảm đáng kể và nhanh
chóng trong sản lượng đầu ra trong khi những ngành khác, như dịch vụ hầu như
tất cả các ngành công còn lại đều được lựa chọn theo các chỉ số của chu kỳ kinh
doanh như Thống kê kinh doanh hiệu chỉnh theo mùa của Bundesbank. Hai ngành
còn lại lựa chọn theo các chỉ số của chu kỳ kinh doanh của Bundesbank, là kỹ thuật
cơ khí và sản xuất xe, không hiển thị độ lệch đáng kể so với toàn ngành công
nghiệp sản xuất và khai thác mỏ.
Tám ngành công nghiệp phản ứng tích cực rõ rệt về sản lượng, cụ thể là ngành may
mặc, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp khai thác mỏ, công nghiệp lọc dầu,
ngành công nghiệp in ấn, đóng tàu, sản xuất công cụ, và sản xuất các sản phẩm kết
cấu kim loại.
Về giá cả tương đối, bài nghiên cứu cho thấy tác động tiêu cực đáng kể về giá trong
bốn trường hợp: hóa chất, sắt thép, ngành công nghiệp kim loại màu và chế biến
giấy. Tác động tích cực về giá xuất hiện phổ biến hơn, bài nghiên cứu thể hiện
trường hợp này trong mười một ngành công nghiệp.
Trong một phân tích logarit, bài nghiên cứu chỉ ra rằng một số đặc điểm của ngành
công nghiệp có thể giúp đỡ trong việc giải thích tại sao chính sách tiền tệ có tác
động bất cân xứng. Đặc biệt, sử dụng vốn, định hướng xuất khẩu, và nhận trợ cấp là
- 21 -
các yếu tố quan trọng đối với phản ứng của các ngành công nghiệp với những cú
sốc chính sách tiền tệ.
Đối với khu vực ảnh hưởng của chính sách tiền tệ người ta thấy rằng các Länder
Đức cũng có khả năng bị ảnh hưởng bất cân xứng bởi những cú sốc tiền tệ vì có sự
khác biệt lớn trong danh mục đầu tư ngành công nghiệp theo khu vực. Dựa theo
phát hiện này ở góc độ châu Âu có thể dẫn đến kết luận rằng chính sách tiền tệ của
ECB cũng có thể tạo ra hiệu ứng bất cân xứng trong khu vực miễn là khu vực Châu
Âu có danh mục ngành công nghiệp khác nhau.
Farès, J. and G. Srour (2001) nghiên cứu các cơ chế truyền dẫn của chính
sách tiền tệ ở mức độ ngành ở Canada. Bài viết nhận thấy có hai mức độ có thể có
khi phân tích dữ liệu của một nền kinh tế: một ở mức độ chi tiêu cuối cùng, theo đó
nền kinh tế được chia thành tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ, đầu tư, chi tiêu chính phủ,
và nhập khẩu và xuất khẩu; và một ở cấp độ sản xuất, nơi nền kinh tế được chia
không nhạy cảm với lãi suất, và nếu suy thoái kinh tế là do dư thừa công suất. Do
đó chính sách tiền tệ là trang bị tốt để đối phó với những cú sốc tổng hợp. Những cú
sốc ngành phải được xử lý với chính sách tài khóa.
Một số nghiên cứu thực hiện tại các nền kinh tế mới nổi khác chỉ ra rằng
chính sách tiền tệ thực sự có tác động đáng kể và khác biệt trên các lĩnh vực
khác nhau của nền kinh tế.
Karim và cộng sự (2006) tiếp cận mô hình VAR để nghiên cứu tác động
của chính sách thắt chặt tiền tệ vào các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế
Malaysia. Phát hiện của họ cho thấy tác động tiêu cực của chính sách thắt chặt
tiền tệ có tác dụng lớn nhất trên các lĩnh vực nông nghiệp, sản xuất và khai thác
mỏ ở Malaysia.
Sahinoz và Cosar (2009) sử dụng mô hình VAR để nghiên cứu phản ứng
của sản lượng trong lĩnh vực sản xuất với một cú sốc chính sách thắt chặt tiền
tệ ở Thổ Nhĩ Kỳ. Kết quả là lĩnh vực sản xuất phản ứng chủ yếu với một cú sốc
chính sách thắt chặt tiền tệ thông qua kênh tỷ giá hối đoái. Tương tự như vậy,
Mehdi và Reza (2011) sử dụng mô hình ARDL (the auto regressive distributed