TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN ĐEL
ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC TRỪ SÂU DECIS LÊN TĂNG
TRƯỞNG CỦA TÔM SÚ (Penaeus monodon)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC TRỪ SÂU DECIS LÊN TĂNG
TRƯỞNG CỦA TÔM SÚ (Penaeus monodon)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
PGS.TS. NGUYỄN THANH PHƯƠNG
KS. NGUYỄN HƯƠNG THÙY
2009
i
LỜI CẢM TẠ
Quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp đã giúp tôi có được những kinh nghiệm
và kỹ năng bổ ích, thiết thực cho công việc sau này. Có được kết quả như hôm nay tôi
xin gởi lời cảm ơn chân thành đến:
Thầy Nguyễn Thanh Phương, trưởng khoa Thủy Sản trường ĐHCT. Trong thời
gian thực hiện đề tài thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và cũng cố kiến thức cho tôi.
đối chứng mỗi nghiệm thức lập lại 3 lần. Giá trị LC
50
- 96 giờ của deltamethrin đối với
tôm sú là 1,05 µg/l. Deltamethrin rất độc với tôm sú. Thí nghiệm ảnh hưởng của
Deltamethrin lên tăng trưởng của tôm sú được tiến hành với 3 nghiệm thức 0,01; 0,1;
0,52 µg/l và đối chứng. Thời gian thí nghiệm là 8 tuần, tôm được cân trọng lượng sau
mỗi 2 tuần kể từ khi bố trí thí nghiệm. Trong 2 tuần đầu tôm ở nghiệm thức đối chứng
có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất nhưng ở các tuần tiếp theo thì tôm ở nghiệm thức
0,52 µg/l lại có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất. Tuy nhiên sự khác biệt này không có ý
nghĩa về mặt thống kê (p>0,05). Tỉ lệ chết của tôm tỉ lệ thuận với sự gia tăng của nồng
độ thuốc. Độc tính của Deltamethrin gây chết rất mạnh và tức thời đối với tôm sú. Ở
nồng độ 0,52 µg/L (50% LC
50
-96 giờ) gây chết 41,67% chỉ sau 24 giờ.
iii
MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ i
TÓM TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH SÁCH BẢN vi
DANH SÁCH HÌNH vii
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1. Sơ lược đặc điểm sinh học của tôm sú 3
2.1.1. Vị trí phân loại của tôm sú 3
2.1.2. Đặc điểm hình thái 3
2.1.3. Phân bố 4
2.1.4.Vòng đời của tôm sú 4
2.1.5. Đặc điểm dinh dưởng của tôm sú 5
3.4.3. Các phương pháp tính toán 17
3.4.4. Phương pháp sử lý số liệu 18
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 19
4.1. Xác định LC
50
-96 giờ của Deltamethrin 19
4.1.1. Yếu tố môi trường trong thí nghiệm 19
4.1.2. Giá trị LC
50
-96 giờ 19
4.2. Ảnh hưởng của decis lên tăng trưởng và lột xác của tôm sú 21
4.2.1. Các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm 21
4.2.1.1. Nhiệt Độ 22
4.2.1.2. pH 22
4.2.1.3. Oxy hòa tan 22
4.2.1.4. Nitrite 22
4.2.1.5. Nitrate 23
4.2.1.6. TAN 23
4.2.1.7. Amoniac 23
4.2.1.8. Độ kiềm 23
4.2.2. Tăng trưởng 24
4.2.2.1. Tăng trưởng về khối lượng 24
4.2.2.2. Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối theo nghày của tôm 25
v
4.2.2.3. Tốc độ tăng trưởng tương đối 25
4.2.3. Tỉ lệ chết 26
4.2.4. Chu kỳ lột xác 27
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
PHỤ LỤC 34
604.479 ha ().
Cùng với sự nhanh chóng mở rộng diện tích nuôi tôm ở Việt Nam, đặc
biệt là ở ĐBSCL thì tình hình sử dụng thuốc (thuốc kháng sinh) và hóa chất
(hóa chất cải tạo, diệt tạp và sử lý nước…) ngày càng gia tăng. Có thể gây ra
những tác động xấu đến môi trường nước và chất lượng của tôm (Huỳnh Thị
Tú và ctv, 2006). Theo Hoàng Trọng Tứ (2004) tất cả các hộ dân ở Sóc Trăng
và Bạc Liêu được điều tra đều sử dụng thuốc hóa chất trong nuôi tôm. Trong
đó có 16 loại được dùng với mục đích diệt tạp, diệt khuẩn, diệt tảo trong quá
trình cải tạo ao, chiếm 42% hóa chất sử dụng trong ao nuôi tôm. Theo kết quả
điều tra của Huỳnh Thị Tú và ctv (2006) thì có nhiều loại thuốc kháng sinh,
thuốc trừ sâu, thuốc diệt tạp và thuốc tẩy trùng được sử dụng trong nuôi tôm
để cải tạo và diệt tạp do thuốc diệt các loài có trong nước đặc biệt là giáp xác
trong đó có cua, còng là đối tượng mà nông dân cho là sinh vật lây truyền
nhiễm bệnh đốm trắng cho tôm. Chi phí thuốc và hóa chất chiếm tỉ trọng lớn
trong tổng chi phí sản xuất (24,8%). Với một số loại thường được dùng trong
ao nuôi tôm như Thiodan, Dipterrex, Decis, Secbar… (Nguyễn Hữu Đức,
2007)
Mặt khác vấn đề về vệ sinh an toàn thực phẩm ngày càng được quan
tâm trong và ngoài nước, đặc biệt là thị trường khó tính và thị trường xuất
khẩu chính của nước ta như EU, Nhật Bản, Mỹ, để giữ vững và phát triển các
thị trường tiêu thụ sản phẩm thủy sản, đồng thời phát triển nghề nuôi tôm của
nước ta thì việc sử dụng thuốc và hóa chất là vấn đề cần phải được chú ý.
Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu trên đối tượng tôm sú
như dinh dưỡng, điều kiện sống, thành thục và sinh sản, các nghiên cứu về
bệnh tôm. Nhưng những nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc trừ sâu lên tăng
trưởng của tôm sú còn ít tác giả đề cập đến. Từ đó cho thấy việc nghiên cứu về
ảnh hưởng của thuốc trừ sâu lên tôm sú là một vấn đề cần thiết. Do vậy, đề tài
2
“Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu Decis (deltamethrin) lên tăng trưởng của tôm sú
(Penaeus monodon)” đã được thực hiện.
Hình 2.1: Hình dạng ngoài của tôm sú (Penaeus monodon)
2.1.2. Đặc điểm hình thái
Tôm sú ở Việt Nam có các đặt điểm như sau:
4
Công thức răng chủy: CR=
Chủy kéo dài đến rìa của cuốn râu I, gờ sau chủy có 3 răng và kéo dài đến hết
bờ sau của Carapace.
Carapace có gai râu và gai gan, nhưng không có gai hốc mắt.
Rãnh bên chủy sâu, dừng ở trước và ngay gai thượng vị. Sợi râu trên và râu
dưới của râu I dai gần bằng nhau và dài bằng cuống râu.
Gờ gai thẳng, song song với mặt lưng của Carapace, không có gờ dạ tràn-trán.
Chân ngực V không có nhánh ngoài. Gờ lưng hiện diện từ cuối đốt bụng IV
đến cuối đốt bụng VI.
2.1.3. Phân bố
Trên thế giới tôm sú được phân bố chủ yếu ở Ấn Độ - Tây Thái Bình
Dương, Đông và Đông Nam Châu Phi, Pakistan, Nhật Bản, Malaysia. Đặt biệt
bắt gặp nhiều nhất ở vùng Đông Nam Á như: Philippins, Indonesia, Thái Lan,
Việt nam… tôm trưởng thành có tập tính sống ở biển khơi, thường được tìm
thấy ở độ sâu dưới 180 m, nhưng tôm giống thường xuất hiện ở vùng ven bờ.
(Nguyễn Văn Thường và Trương Quốc Phú, 2004).
Ở Việt Nam theo Nguyễn Văn Chung, 1995 (được trích dẫn bởi Trịnh
Thanh Nhân, 2008). Tôm sú phân bố ở Vịnh Bắc Bộ, ven biển Nam Trung Bộ,
vùng Tây Nam Bộ: Sông Ông Đốc, Khánh Hội, Kim Qui, Hòn Chông, Hà
Tiên…Tôm sống ở độ sâu từ 0 – 126 m, đáy cát bùn hay bùn cát, thích hợp
nhất là các thủy vực có độ mặn cao, ổn định.
2.1.4. Vòng đời của tôm sú
Vòng đời của tôm sú trải qua một số giai đoạn như sau: trứng, ấu trùng
(gồm 3 giai đoạn phụ: Nauplii, Zoae, và Mysis), hậu ấu trùng (Postlarva), ấu
và đặc trưng bởi sự gia tăng đột ngột về kích thước và khối lượng thông qua
quá trình lột xác. Lớp vỏ mới mềm sẽ cứng lại sau 1-2 giờ với tôm nhỏ, 1-2
ngày đối với tôm lớn (Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004).
6
Theo Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải (2004), chu kỳ lột xác
của tôm giữa hai lần liên tiếp nhau sẽ ngắn ở giai đoạn tôm còn nhỏ và dài hơn
khi tôm lớn.
Theo Manik và ctv. (1979), tần số lột xác của tôm sú giảm ở nồng độ
muối từ 32-40‰, tần số này cao hơn ở những tôm nuôi trong ao có nồng độ
muối từ 15-20‰ (trích bởi Nguyễn Anh Tuấn và Nguyễn Thanh Phương,
1994).
Bảng 2.1: Chu kỳ lột xác của tôm (Nguyễn Thanh Phương, 2004)
Cỡ tôm (gam) Chu kỳ lột xác (ngày)
Postlarvae
2- 3
3- 5
5 – 10
10- 15
15 – 20
20 – 40
Tôm cái (tôm đực) 50 - 70
Hàng ngày
8 – 9
9 – 10
10 – 11
11- 12
12 – 13
14 – 15
18 – 21 (23 – 30)
Tôm sau khi mới lột xác, vỏ còn mềm nên rất nhạy cảm với môi trường
Oxy hòa tan thích hợp là rất cần thiết đối với đời sống thuỷ sinh vật.
Tác hại của hàm lượng oxy thấp tùy thuộc vào lượng oxy có trong ao, thời
gian và số lần tôm phải chịu đựng tình trạng đó. Hàm lượng oxy thấp có thể
chỉ xảy ra trong một thời gian ngắn trong ngày, nhưng cũng có khả năng làm
ảnh hưởng kéo dài đến tôm sau khi hàm lượng oxy đã trở lại bình thường và
hậu quả là làm cho tôm chậm lớn. (Nguyễn Anh Tuấn và ctv, 2002).
Theo Trần Minh Anh (1989), để tôm tăng trưởng tốt thì hàm lượng oxy
hòa tan cần phải được duy trì lớn hơn 5 ppm. Theo Nguyễn Anh Tuấn và ctv
(2002) hàm lượng oxy hòa tan thấp dẫn đến tỷ lệ chuyển hóa thức ăn sẽ giảm
và khả năng xuất hiện bệnh sẽ tăng. Nếu hàm lượng oxy từ 2-3ppm thì tôm sẽ
ngừng bắt mồi và yếu đi, hàm lượng oxy nhỏ hơn 2mg/l có thể làm tôm chết
ngạt.
Hàm lượng oxy hòa tan tốt nhất cho tăng trưởng và tỉ lệ sống của tôm
trong khoảng từ 3,5 mg/L đến bão hòa. Oxy hòa tan quá bão hòa cũng gây
nguy hiểm cho tôm. (Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải (2004))
2.2.3 pH
Theo Trương Quốc Phú (2006) pH ảnh hưởng đến quá trình sinh lý
trong cơ thể sinh vật như thay đổi áp suất thẩm thấu của màng tế bào, làm rối
loạn quá trình trao đổi muối và nước, ảnh hưởng đến quá trình hô hấp, ảnh
hưởng đến sinh trưởng, dinh dưỡng và sinh sản của động vật thủy sản.
Tôm phát triển tốt nhất trong phạm vi pH=7,5-8,5. Nếu độ pH quá thấp
hoặc quá cao đều bất lợi cho tôm: chậm tăng trưởng, còi cọc, giảm khả năng
chống đỡ bệnh tật, thậm chí gây chết. Khi pH vượt qua giới hạn 8,3 thì hầu hết
amonia được chuyển hóa thành dạng NH
3
gây độc cho tôm, nhưng khi pH nhỏ
hơn 6,5 thì tính độc của H
2
S tăng lên (Boyd, 2001) .
Trong tự nhiên, tôm thích nghi với khoảng pH từ 6,5-8,5, trên hoặc
-
và CO
3
2-
có trong nước quyết định.
Khi nước có nhiều ion Ca
2+
thì khả năng giữ HCO
3
-
và CO
3
2-
trong nước cao.
Theo William và ctv (1997), tổng độ kiềm trong phạm vi 20 - 400mg/l là phù
hợp cho các ao nuôi thủy sản. Tác giả Vũ Thế Trụ (2002) khảo sát thấy phiêu
sinh vật và tôm cá phát triển tốt nhất ở độ kiềm từ 80-150mg/l.
Theo Chanratchakool (2003) thì độ kiềm nên ở mức trên 50 mg/lít.
(Được trích dẫn bởi Nguyễn Văn Vượng, 2003).
Theo Nguyễn Văn Hòa và ctv (2001) khi độ kiềm nằm trong khoảng tối
ưu thì khả năng đệm trong nước cao và mặc dù tảo quang hợp mạnh nhưng sự
biến động giữa sáng và chiều không đáng kể.
Độ kiềm và độ cứng có thể hấp thu trực tiếp qua mang và giúp cho quá
trình tạo vỏ mới. Trong ao nuôi tôm, nếu hàm lượng hai yếu tố này thấp có thể
dẫn đến hiện tượng mềm vỏ ở tôm nuôi (Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc
Hải, 2004).
2.3.Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu trong môi trường nước.
Mục đích ban đầu của thuốc trừ sâu là để ngăn ngừa, kiểm soát hoặc
loại trừ các loại sâu hại. Thuốc trừ sâu đem lại lợi nhuận cho con người từ việc
kiểm soát các loại sâu bọ và gặm nhấm, cỏ dại, côn trùng hại mùa màng và
bào, ngăn cản sự truyền xung thần kinh ngoại vi đến thần kinh trung ương
(Hoàng Văn Bính, 2002).
2.5. Một số tính chất của Decis
Hoạt chất chủ yếu của Decis là Deltamethrin
Tên chung của Deltamethrin: Deltamethrin, Deltamethrine, Decamethrin.
Tên thương mại: Appendelta 2.8EC, Bitam 2.5EC, BM Delta2.8EC, Deltox
2.5EC,…
Tên hóa học: (S)-α-cyano-3-phenoxybenzyl (1R,3R)-3-(2,2-dibromovinyl)-
2,2-dimethylcyclopropanecarboxylate
Nhóm hóa học: pyrethroit
10
Công thức phân tử: C
22
H
19
Br
2
NO
3
Công thức cấu tạo:
(
2.5.1. Tính chất lý học
Tinh khiết: kết tinh không màu.
Tan trong nước <0.2µg/lít (25
o
C); trong dioxan 900; Xyclohexanon 750;
Diclometan 700; Axeton 500; benzen 450; Dimetyl sulfoxyt 450; xylen 250;
etanol 15; isopropanol 6g/l (20
-96 giờ của Methyl Parathyon lần lược là 0,37 µg/L; 0,14 µg/L; 33 µg/L.
Còn theo Eisler (1970) cho thấy rằng đối với một số loài cá biển thì thuốc trừ
sâu có chứa muối chlor có tính độc nhiều hơn rất rõ ràng so với thuốc trừ sâu
thuộc nhóm phosphate hữu cơ (được trích dẫn bởi Lê Huy Bá, 2000).
Theo Nguyễn Thị Bích Vân (1996) giá trị LC
50
-96 giờ của Ronster,
Whip-S, Cantanil đối với cá sặc rằn là 0,68 ppm; 0,1 ppm; 2,27 ppm. Đối với
cá lóc là 2,14 ppm; 0,29 ppm; 4,16 ppm. Đối với cá trê vàng là 2,27 ppm; 0,66
ppm; 2,52 ppm.
Giá trị LC
50
-96 giờ của Basudin và Bassa trên cá lóc giống lần lược là
0,17 ppm và 4.12 ppm (Phạm Quốc Nguyên, 2004).
Theo Nguyễn Thị Kim Liên (1998) giá trị LC
50
-96 giờ của Basudin
40ND đối với cá Mè vinh, cá Rô phi lần lược là 3,69 mg/L và 3,50 mg/L. Khi
nồng độ thuốc càng tăng thì tiêu hao Oxy và ngưỡng Oxy của 2 loại cá này
cũng tăng theo và tỉ lệ sống của cá giảm dần theo sự tăng dần của nồng độ
thuốc, cá chết tập trung thời điểm 24 – 48 giờ.
Theo Hồ Thị Kim Chi (1992) được trích dẫn bởi Nguyễn Thị Kim Liên
(1998) thì giá trị LC
50
-72 giờ của Decis, Sumicidin, Sherpa đối với cá rô phi
tương ứng là: 7,269; 11,167; 20,036 (µg/l).
Theo Võ Văn Bảo (2008) Giá trị LC
50
-96 giờ của Dipterex lên cá tra
giống có trọng lượng 17,9 ± 4,1g là 0,99 mg/L và nhận định rằng Dipterex là
Deltamethrin và lambda-cyhalothrin trên cá măng (Chanos chanos) có trọng
lượng trung bình là 0,06g là 0,14 µg/L, 0,006 µg/L
M.Ziynet Yildirim et al., (2006) tìm ra giá trị LC
50
– 48 giờ của cá rô
phi giống Oreochromis niloticus là 4.85µg/L. Còn Josephine O. Boateng và
ctv (2006) thì tìm ra được giá trị LC
50
– 96 giờ của Deltamethrin lên cá rô phi
(Oreochromis niloticus) ở giai đoạn cá có kích thước 4 – 6 cm là 15,47 µg/L.
Ông đã cho rằng Deltamethrin rất độc đối với cá rô phi.
Deltamethrin rất độc đối với cá và động vật thủy sản không xương
sống. LC
50
-48 giờ của Daphnia là 5 µg/L. (
Varanka (1987) đã tìm ra được giá trị LC
50
-96 giờ và LC
50
-7 ngày của
Deltamethrin lên con trai nước ngọt (Anodonta cygnea) là 12,0 µg/L và 7,6
µg/L.
S. Israel Stali và ctv (2007) nghiên cứu về độc tính của Deltamethrin và
Azadirachtin lên cá bảy màu (Poecilia reticulata) cho rằng Azadirachtin ít độc
hại cho cá hơn Deltamethrin. Giá trị LC
50
-96 giờ của Deltamethrin lên cá bảy
màu (Poecilia reticulata) là 1.9 µg/L, còn giá trị LC
50
-96 giờ của Azadirachtin
bể, sau đó lờ đờ, tăng cường hoạt động hô hấp giống như tôm bị ngạt và suy
yếu dần. Các biểu hiện gây chết ở tôm hầu như không có sự khác biệt giữa 3
loại hóa chất ngoại trừ thời gian biểu hiện ngộ độc nhanh hay chậm.
Theo Phạm Thị Thu Oanh (1991) được trích dẫn bởi Nguyễn Thị Kim
Liên (1998) giá trị LC
50
-96 giờ của một số thuốc trừ sâu đối với tôm càng
xanh như: Mipcin là 0,219 mg/L, Basa là 0,267 mg/L.
Theo Nguyễn Thanh Tâm (1992) Giá trị LC
50
-96 giờ của Sevin 85S
lên tôm càng xanh giống là 31,59 µg/l. trong 10 ngày kể từ khi sử lý thuốc thì
ít bị phân hủy, còn hiện diện nhiều trong môi trường tương đối cao.
Theo Nguyễn Việt Phương (1995) Khi nghiêm cứu về ảnh hưởng của
Saponin lên một số loài tôm cá, đã nhận định rằng tôm càng xanh có sức chịu
đựng cao nhất rồi đến tôm sú và tôm thẻ. Giá trị LC
50
-96 giờ của Saponin đối
với tôm thẻ, tôm sú, tôm càng xanh lần lược là 1,03; 1,59; 1,89 mg/L.
Theo Trương Hoàng Minh (1996) giá trị LC
50
-96 giờ của Ronster,
Whip-S, Cantanil đối với tôm càng xanh lần lược là 1,82 ppm; 0,21 ppm;
11,48 ppm. Đối với cá mè vinh lần lược là 1,19 ppm; 0,26 ppm; 1,87 ppm. Đối
với cá rô phi lần lượt là 0,81 ppm; 0,32 ppm; 2,11 ppm. Đối với cá chép lần
lượt là 1,5 ppm; 0,3 ppm; 2,34 ppm. Cả 3 loại thuốc đều hết tác dụng sau 3
ngày thí nghiệm, khả năng chịu đựng của tôm cá khác nhau tùy loài thuốc.
14
Chương 3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Deltamethrine và 975g/L chất hổ trợ.
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Thí nghiệm 1: Xác định LC
50
-96 giờ của Deltamethrin
LC
50
là hàm lượng hóa chất gây chết 50% sinh vật thí nghiệm tại một thời
điểm nhất định. Thí nghiệm này được thực hiện theo phương pháp nước tĩnh
(APHA, 2001), môi trường trong bể thí nghiệm không thay đổi trong 96 giờ.
Phương pháp bố trí thí nghiệm gồm 2 bước:
3.4.1.1. Thí nghiệm thăm dò
Thí nghiệm được tiến hành trên bể kính có thể tích là 50lít, mật độ là
10con/bể, tôm sử dụng cho thí nghiệm có khối lượng từ 8-10g.
Sụt khí nhẹ bảo đảm cho tôm đủ oxy, không thay nước và không cho
tôm ăn trong suốt thời gian thí nghiệm. Nước có độ mặn 25‰.
Bố trí thí nghiệm với 14 nồng độ thuốc: 0,5; 1; 1,5; 2; 2,5; 5; 7,5; 10; 12,5; 15;
17,5; 20; 22,5; 25 µg/l không lập lại và nghiệm thức đối chứng không cho
thuốc. Thuốc được pha thành dung dịch mẹ có nồng độ 2500 microgam
Deltamethrin/lít.
Để pha dung dịch mẹ có nồng độ 2500 µg/L thì thể tích của Decis (có
nồng độ của Deltamethrin 25g/L) cần phải dùng là V= 2500µg x 1000
mL/25.000.000µg = 0,1ml= 100µL Decis.
Dùng dung dịch mẹ để pha thành những nồng độ thuốc thích hợp cho
thí nghiệm dựa vào công thức C
1
V
1
=C
2
Thí nghiệm nhằm xác định nồng độ gây chết trong khoảng 10% - 90 %
tôm sau 96 giờ. Tôm chết được ghi nhận vào các thời điểm: 3, 6, 9, 12, 24, 48
và 96 giờ sau khi cho thuốc vào bể.
3.4.1.2. Thí nghiệm xác định LC
50
-96 giờ
Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với các nồng độ được xác
định từ bố trí thăm dò, thí nghiệm được bố trí với 6 nồng độ 0,75; 1; 1,25; 1,5;
1,75; 2 µg/l và một nghiệm thức đối chứng. Mỗi nghiệm thức được lập lại 3
lần. Các bể được đậy bằng lưới để tránh tôm nhảy ra ngoài và nhảy từ bể này
sang bể khác.
Nước sử dụng trong thí nghiệm này cũng giống như thí nghiệm thăm dò
25‰, bảo đảm không còn chlorine trước khi sử dụng, nếu còn thì trung hòa
bằng Thio-sulfate-natri.
Bể kính có thể tích 50 lít, bố trí 10 con tôm/bể, có khối lượng từ 8-10g,
tôm được dưỡng 2 ngày trước khi cho thuốc vào, để tôm khỏe hoàn toàn và
thích nghi với môi trường, tránh hiện tượng tôm bị stress. Sục khí nhẹ, liên tục
bảo đảm cung cấp đầy đủ oxy cho tôm.
Phương pháp cho thuốc vào giống như thí nghiệm thăm dò. Ghi nhận
số tôm chết sau 3, 6, 9, 12, 24, 48, 72 và 96 giờ sau khi bố trí thí nghiệm.
Những tôm chết được vớt ra thường xuyên để tránh làm ô nhiễm môi trường,
gây ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm.
Theo dõi các yếu tố môi trường như nhiệt độ, pH, oxy (đo 2 lần/ngày
bằng máy đo).
Giá trị LC50-96 giờ được tính bằng trương trình Probit (Trong phần
mềm SPSS 15.0)
3.4.2. Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của Decis đến tăng trưởng và lột xác của
tôm sú
Thời gian thí nghiệm: 8 tuần.
Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên trong 24 bể nhựa 200L,