BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
TRƯƠNG THỤC LINH
MỐI QUAN HỆ GIỮA FDI VÀ TĂNG TRƯỞNG
DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ
CHẤT LƯỢNG THỂ CHẾ
VÀ MÔI TRƯỜNG KINH TẾ VĨ MÔ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
TRƯƠNG THỤC LINH
MỐI QUAN HỆ GIỮA FDI VÀ TĂNG TRƯỞNG
DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ
CHẤT LƯỢNG THỂ CHẾ
VÀ MÔI TRƯỜNG KINH TẾ VĨ MÔ
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO
Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2015
Câu hỏi nghiên cứu ......................................................................................6
1.4.
Phương pháp nghiên cứu ............................................................................7
1.5.
Phạm vi nghiên cứu .....................................................................................8
1.6.
Ý nghĩa nghiên cứu ......................................................................................8
1.7.
Bố cục đề tài .................................................................................................9
CHƯƠNG 2: MỐI QUAN HỆ GIỮA FDI VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ ...11
2.1.
Các khái niệm.............................................................................................11
2.1.1
Về tăng trưởng kinh tế ..........................................................................11
2.1.2
Về vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi ......................................................12
Dữ liệu .........................................................................................................32
3.2.
Phương pháp nghiên cứu ..........................................................................39
CHƯƠNG 4: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................44
4.1.
Mô tả biến và tương quan giữa các biến .................................................44
4.2.
Hồi quy dữ liệu cho toàn bộ mẫu .............................................................46
4.3.
Hồi quy dữ liệu cho 2 nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung
bình cao và thu nhập trung bình thấp .....................................................51
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN ......................................................................................60
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
FDI
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi
GDP
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Bảng phân nhóm các quốc gia được chọn mẫu
Bảng 3.2: Bảng mô tả các biến sử dụng trong mơ hình hồi quy
Bảng 4.1: Thống kê mơ tả biến tồn bộ mẫu 20 nước giai đoạn 1985-2013
Bảng 4.2: Ma trận hệ số tương quan giữa các biến
Bảng 4.3: Biến phụ thuộc : Tăng trưởng GDP đầu người. Kết quả hồi quy cho toàn
bộ mẫu 20 quốc gia Châu Á giai đoạn 1985-2013. Phương pháp ước lượng: SystemGMM
Bảng 4.4: Biến phụ thuộc : Tăng trưởng GDP đầu người. Mẫu 10 quốc gia Châu Á
có thu nhập bình quân đầu người trung bình cao giai đoạn 1985-2013. Phương pháp
ước lượng: System-GMM
Bảng 4.5: Biến phụ thuộc : Tăng trưởng GDP đầu người. Mẫu 10 quốc gia Châu Á
có thu nhập bình quân đầu người trung bình thấp giai đoạn 1985-2013. Phương
pháp ước lượng: System-GMM
Bảng 4.6: Biến phụ thuộc : Tăng trưởng GDP đầu người. Mẫu 10 quốc gia Châu Á
có thu nhập bình qn đầu người trung bình thấp giai đoạn 1985-2013 (có sử dụng
biến giả Việt Nam). Phương pháp ước lượng: System-GMM
TĨM TẮT
Lợi ích dự kiến của các dịng vốn ln là đề tài tranh luận của nhiều nghiên cứu,
đặc biệt là tác động của chúng đến tăng trưởng. Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy
hiệu quả khai thác FDI có liên quan đến năng lực hấp thụ trong nền kinh tế của
nước sở tại. Tuy nhiên, những nghiên cứu thực nghiệm trước đây chỉ giải thích mơ
hồ về vấn đề này. Như Lipsey và Sjưholm (2005) đã lập luận, tính khơng đồng nhất
trong các nhân tố điều kiện của nước sở tại chính là nguồn gốc của sự khác biệt
trong các kết luận của nghiên cứu thực nghiệm. Bài nghiên cứu này sẽ góp phần vào
cuộc tranh luận trên bằng cách cung cấp một cái nhìn sâu hơn về các yếu tố điều
kiện địa phương có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa dịng vốn nước ngồi và
lượng vốn FDI chảy vào với số vốn lên đến 778 tỷ USD, chiếm 54% tổng vốn FDI
tồn cầu. Trong đó, FDI chảy vào các nước phát triển tăng 9% lên 566 tỷ USD,
chiếm 39% tổng FDI của thế giới. Các nền kinh tế chuyển đổi nhận được 108 tỷ
USD vốn FDI trong năm 2013.
Xét theo khu vực thì châu Á vẫn là điểm đến đầu tư hàng đầu thế giới với dòng
vốn FDI vào các nước châu Á đang phát triển đạt 426 tỷ USD, chiếm 30% tổng vốn
FDI toàn cầu trong năm 2013. Liên minh châu Âu (EU) và Bắc Mỹ đều thu hút
được khoảng 250 tỷ USD. Ổn định chính trị, xã hội và viễn cảnh hội nhập kinh tế
khu vực là động cơ đưa dòng chảy tư bản của thế giới về châu Á. Gần 30% vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI) toàn cầu đổ về châu Á trong năm 2013.
2
Theo UNCTAD, FDI vào các nước đang phát triển từng là xu hướng chính suốt
hơn 10 năm qua nhưng xu thế đó đang thay đổi. Mỹ hiện là nước thu hút FDI lớn
nhất thế giới. Mặc dù FDI vào Mỹ đã giảm dần từ khi nổ ra cuộc khủng hoảng tài
chính nhưng tổng số vốn FDI vào Mỹ năm ngối vẫn là 188 tỷ USD (so với 161 tỷ
USD trong năm 2012), cao hơn 50% so với mức của Trung Quốc - nước thu hút
FDI thứ hai thế giới (124 tỷ USD trong năm 2013, 121 tỷ USD trong năm 2012).
Năm 2000, FDI vào các nước đang phát triển chỉ chiếm khoảng 19%, nhưng tới
năm 2013 tỷ lệ này lên tới 54%. Theo UNCTAD, với việc kinh tế các nước phát
triển đang hồi phục, xu hướng này sẽ sớm thay đổi. Ước tính FDI vào các nước giàu
sẽ tăng 35% trong năm 2014 và năm 2016 sẽ chiếm tới 52% tổng FDI toàn cầu.
3
FDI từ Trung Quốc đầu tư vào các nước trong năm 2013 lần đầu tiên vượt mức
rằng FDI không thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (xem Gorg và Greenaway, 2004 - một
đánh giá toàn diện của câu hỏi này). Ngược lại, nhiều nghiên cứu kinh tế vĩ mô lại
cho thấy vai trị tích cực của FDI trong hoạt động kinh tế, mặc dù có một số ngoại lệ
như Herzer và cộng sự (2008) và Carkovic và Levine (2005) có kết quả cho thấy
rằng dịng vốn nước ngồi khơng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tăng trưởng kinh tế.
Sự mâu thuẫn về kết quả của các nghiên cứu thực nghiệm đã yêu cầu các học
giả thận trọng hơn khi đưa ra kết luận tổng quát về mối quan hệ giữa FDI và tăng
trưởng, cụ thể là phải xem xét đến sự tồn tại của các yếu tố bên ngoài liên quan đến
FDI. Và đây cũng chính là ý tưởng cho nghiên cứu với đề tài “Mối quan hệ giữa
FDI và tăng trưởng dưới tác động của yếu tố chất lượng thể chế và môi trường
kinh tế vĩ mô”.
5
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Thực tế là kết luận của nghiên cứu cho các nước khác nhau thường không giống
nhau ngay cả khi sử dụng cùng một kỹ thuật ước lượng trên dữ liệu tương tự trong
khoảng thời gian tương tự. Bài nghiên cứu này cố gắng nhấn mạnh rằng các nền
kinh tế đang phát triển không phải là một mẫu đồng nhất, trái ngược với cách tiếp
cận trong một số nghiên cứu thực nghiệm. Cũng như nghiên cứu của Lipsey và
Sjưholm (2005), bài nghiên cứu này nhằm mục đích xem xét liệu sự không đồng
nhất về các yếu tố ở các nước sở tại có phải là nguồn gốc dẫn đến những phát hiện
khác biệt trong các nghiên cứu thực nghiệm trước đây hay khơng.
Tính khơng đồng nhất trong các thị trường tiếp nhận vốn có thể liên quan đến
nhiều khía cạnh khác nhau mà các nghiên cứu thực nghiệm thường gọi là "năng lực
hấp thụ". Những nhân tố này dường như là điều kiện tiên quyết để các nước sở tại
được hưởng lợi từ FDI . Bài nghiên cứu này sẽ kiểm tra xem các nước có mơi
trường thể chế và kinh tế tốt hơn có thể khai thác FDI hiệu quả hơn hay không,
trong khi các nghiên cứu về vấn đề này thì vẫn cịn khá ít. Điều này đặc biệt đúng
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Để trả lời các câu hỏi nêu trên, nghiên cứu sử dụng các lý thuyết nghiên cứu
trước đây để xem xét những ảnh hưởng kỳ vọng của FDI và các nhân tố điều kiện
lên tăng trưởng kinh tế. Sau đó, nghiên cứu đi vào thu thập một số nghiên cứu thực
nghiệm về vấn đề này, cách thức, phạm vi và kết quả tìm được của các nghiên cứu
đó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu tiến hành so sánh và chọn phương pháp định lượng
các biến phù hợp trong khả năng thu thập số liệu thực tế, cơ sở dữ liệu của các quốc
gia thuộc Châu Á. Sau khi đã có các biến, nghiên cứu sử dụng phương pháp thống
kê mơ tả dữ liệu, phân tích định tính, rút ra cái nhìn tổng quan về mẫu nghiên cứu,
mối tương quan giữa các biến giải thích và biến phụ thuộc cũng như mối tương
quan giữa các biến giải thích với nhau. So sánh dấu kỳ vọng với lý thuyết và nghiên
cứu thực nghiệm trước đó. Cuối cùng, sử dụng phân tích hồi quy mơ hình dữ liệu
bảng để xử lý và phân tích số liệu nhằm trả lời cho ba câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra.
Để trả lời cho câu hỏi thứ nhất và thứ hai, mô hình hồi quy tất cả các biến thuộc tất
cả các nước trong mẫu, sau đó thơng qua các kiểm định và tiêu chí để xác định mơ
hình thích hợp và tốt nhất. Riêng câu hỏi thứ ba và thứ tư, 20 quốc gia được chia
làm 2 mẫu bằng nhau là nhóm quốc gia có thu nhập trung bình thấp và nhóm quốc
gia có thu nhập trung bình cao, và cùng tiến hành hồi quy, kiểm định kết quả. Trong
quá trình hồi quy mẫu nhóm nước có thu nhập trung bình thấp, nghiên cứu sử dụng
thêm biến giả Việt Nam. Thông qua kết quả, tiến hành so sánh với dấu kỳ vọng
trong khung lý thuyết đã trình bày cũng như các nghiên cứu thực nghiệm ở trên để
rút ra kết luận, hạn chế của nghiên cứu cùng những gợi mở hướng nghiên cứu tiếp
theo.
8
1.5. Phạm vi nghiên cứu
Để có được các khoảng thời gian dài nhất cho phân tích, chúng tơi đã chọn mẫu
các quốc gia từ Châu Á. Các quốc gia này là một trong những đối tượng nhận FDI
thuẫn với vấn đề này. Đồng thời, chương này cũng trình bày những nghiên
cứu thực nghiệm trước đây về mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng, các
nhân tố tác động đến mối quan hệ đó.
• Chương 3: mơ tả dữ liệu và các phương pháp tính tốn được sử dụng trong
phân tích thực nghiệm.
• Chương 4: trình bày các kết quả chính.
• Chương 5: nhấn mạnh những kết luận quan trọng từ đề tài nghiên cứu, đồng
thời nêu lên những hạn chế và gợi ý đề tài nghiên cứu mở rộng chuyên sâu
hơn.
10
Tóm tắt chương 1
Chương 1 trình bày những nét sơ lược về nghiên cứu. Nhận thấy tầm quan trọng
và những tác động của dòng vốn FDI đến tăng trưởng, nghiên cứu đã được thực
hiện để khám phá mối quan hệ này dưới tác động của các nhân tố điều kiện. Mục
đích của bài viết là nhằm trả lời câu hỏi liệu môi trường kinh tế vĩ mô và thể chế ở
các nước tiếp nhận FDI có thể giải thích cho sự khác biệt về tác động của FDI giữa
các quốc gia đang phát triển hay không. Do vậy, nghiên cứu sử dụng mẫu là 20
quốc gia Châu Á đang phát triển giai đoạn 1985-2013. Mặt khác, vì cho rằng các
các nhân tố kích thích tăng trưởng cũng có thể tạo ra nhiều vốn FDI hơn nên nghiên
cứu lựa chọn giải quyết vấn đề nội sinh và quan hệ nhân quả thơng qua việc sử dụng
mơ hình ước lượng GMM cho dữ liệu bảng. Nghiên cứu cũng sử dụng một loạt các
phương pháp kinh tế lượng để kiểm tra tính vững của các ước tính. Ước tính dữ liệu
bảng được sử dụng so sánh các kết quả từ phân tích xuyên quốc gia. Cuối cùng,
toàn bộ mẫu được chia thành hai bộ đối với các nước thu nhập trung bình thấp và
thu nhập trung bình cao để điều tra xem liệu các nền kinh tế với trình độ phát triển
khác nhau sẽ có được mức độ lan truyền từ FDI như thế nào.
ngoài xảy ra khi nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được tài sản ở một
nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó”. Phương diện
quản lý là yếu tố dùng để phân biệt đầu tư nước ngồi với các cơng cụ tài chính
khác. Trong hầu hết các trường hợp, các nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý
ở nước ngồi là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư
thường được gọi là công ty mẹ và tài sản thường được gọi là công ty con hoặc chi
nhánh. Theo cách tiếp cận này, nhà đầu tư có hai hình thức lựa chọn đầu tư vào một
quốc gia: hoặc là bỏ vốn xây dựng một cơ sở kinh doanh mới (greenfield
investment) hoặc là bỏ vốn mua lại/ sáp nhập với một cơ sở kinh doanh sẵn có và
tiếp tục hoạt động, phát triển nó (Merger and Acquisition).
Từ những khái niệm trên, có thể hiểu một cách khái quát về FDI như sau: “FDI
tại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một quốc gia đưa vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài
sản nào vào một quốc gia khác để có được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền
kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó, với mục tiêu tối đa hố lợi nhuận của
mình”.
13
2.1.3 Về thể chế
Thể chế là một khái niệm phức tạp và được xem xét dưới những góc độ khác
nhau. Định nghĩa kinh điển nhất được đưa ra bởi nhà kinh tế học người Đức Adolph Wagner cho rằng: "Thể chế là các khế ước, các hợp đồng và luật lệ thành
văn đang cai quản đời sống và con người". Douglass C. North, người được giải
Nobel với cơng trình nghiên cứu “Kinh tế và Thể chế” năm 1993, cho rằng “Thể
chế là những giới hạn được vạch ra trong phạm vi khả năng và hiểu biết của con
người hình thành nên mối quan hệ qua lại của con người”. Đầu thế kỷ XX, ở
phương Tây xuất hiện một khuynh hướng chính trị mới - khuynh hướng chủ nghĩa
thể chế - quan niệm thể chế là bất kỳ liên hiệp bền vững nào của con người nhằm
đạt được mục đích nhất định nào đó.
Quan niệm này tương đối giống với cách hiểu của Ngân hàng thế giới về thể
nghiệp. Tăng trưởng kinh tế đòi hỏi giải quyết các vấn đề dài hạn hơn liên quan đến
sự phát triển kinh tế. Phân phối công bằng là vấn đề nền kinh tế phải giải quyết
thường xuyên để đảm bảo sự ổn định và tăng trưởng.
15
2.2. Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế
Mơ hình tăng trưởng kinh tế là cách diễn đạt quan điểm cơ bản nhất về tăng
trưởng kinh tế thông qua các biến số kinh tế và mối liên hệ giữa chúng. Ngay từ khi
mới ra đời, các mơ hình tăng trưởng kinh tế đã trở thành cơng cụ hữu ích, giúp các
nhà kinh tế mơ tả và lượng hố tăng trưởng của nền kinh tế một cách rõ ràng hơn,
cụ thể hơn. Cho đến nay, cùng với sự phát triển của lịch sử kinh tế học, các mơ hình
tăng trưởng đã chiếm một vị trí quan trọng trong các nghiên cứu lý luận cũng như
thực tiễn về tăng trưởng kinh tế ở mỗi quốc gia. Theo dòng thời gian, các lý thuyết
và mơ hình tăng trưởng được sắp xếp thành: (i) Lý thuyết tăng trưởng cổ điển (thế
kỷ XVIII), (ii) Lý thuyết tăng trưởng của Karl Marx (thế kỷ XIX), (iii) Mô hình
tăng trưởng trường phái Keynes (đầu thế kỷ XX), (iv) Mơ hình tăng trưởng Tân cổ
điển (giữa thế kỷ XX), và (v) Mơ hình tăng trưởng nội sinh (cuối thế kỷ XX).
Một cách tóm lược, có thể thấy rằng tăng trưởng kinh tế đã từng là trung tâm chú ý
của các nhà kinh tế chính trị cổ điển từ Adam Smith tới David Ricardo và Karl
Marx, nhưng rồi rơi vào quên lãng trong suốt thời kỳ “cách mạng cận biên”
(marginal revolution). Với nỗ lực tổng quát hoá nguyên lý của Keynes về cầu hiệu
quả trong ngắn hạn, Roy Harrod và Evsey Domar đã tái tạo lại mối quan tâm về lý
thuyết tăng trưởng. Sau những nghiên cứu của Robert Solow và Trevor Swan vào
giữa những năm 1950, lý thuyết tăng trưởng đã thực sự trở thành một trong những
chủ đề trọng tâm của giới kinh tế học cho đến đầu những năm 1970. Và vào cuối
những năm 1980, lý thuyết tăng trưởng nội sinh đã làm tái sinh lĩnh vực này sau
một thập kỷ ngủ quên.
Ở phần này, nghiên cứu sẽ tập trung vào mơ hình tăng trưởng của Robert Solow
F(A,L,K). Giả thiết là hàm này có dạng Cobb – Doulas, tức
• Nền kinh tế đóng cửa và khơng có sự can thiệp của chính phủ.
• Có sự khấu hao tư bản. Khi có đầu tư mới, trữ lượng vốn tăng lên.
Nhưng đồng thời, vốn cũng bị khấu hao theo thời gian. Khi đó lượng vốn
mới có sẽ bằng lượng vốn mới tạo ra từ đầu tư trừ đi các khoản hao mòn.
17
• Tư bản K và lao động L tuân theo quy tắc lợi tức biên giảm dần, có nghĩa
là khi tăng k thì ban đầu y tăng rất nhanh đến một lúc nào đó tăng chậm
lại.
Dựa trên các giả định trên, mơ hình tăng trưởng của Solow đã chỉ ra trạng thái
dừng của nền kinh tế. Trạng thái dừng là điểm cân bằng mà tại đó lượng vốn giữ
ngun khơng đổi, bởi vì lượng đầu tư để tạo ra vốn mới mỗi năm chỉ đủ để bù trừ
phần vốn bị hao mịn. Khi vốn khơng tăng thì sản lượng cũng khơng tăng. Vì vậy ở
trạng thái dừng, lượng vốn trên một lao động là cố định. Vốn và lao động khơng
tăng thì tổng sản lượng vẫn là cố định. Đây là hệ quả của hàm sản xuất có hiệu suất
biên giảm dần. Nếu vốn tiếp tục tăng, sản lượng sẽ tăng nhưng với tốc độ giảm dần.
Do vậy, thu nhập dành cho tiết kiệm cũng tăng với tốc độ giảm dần. Vì vậy ln
ln tồn tại một “trạng thái dừng” của nền kinh tế, nơi mà mọi biến số đều hội tụ về
một giá trị cố định. Như vậy, mô hình Solow dự đốn rằng những nước có tăng
trưởng dân số cao hơn sẽ có mức vốn và thu nhập trên lao động thấp hơn trong dài
hạn. Đồng thời, mô hình cũng giải thích được sự tăng trưởng đều đặn của một số
nước là do tốc độ tăng trưởng về cơng nghệ. Tóm lại, bên cạnh những hạn chế do
mơ hình được đặt trong khá nhiều giả định, lý thuyết tăng trưởng của Solow vẫn
đóng một vai trị quan trọng trong các học thuyết về tăng trưởng và mở ra nhiều vận
dụng cho những nghiên cứu trong tương lai. Trong đó, một số luận điểm đã được
chú ý và tiếp tục được khai thác trong những nghiên cứu về sau.