(Luận văn thạc sĩ) pháp luật về kinh doanh hàng rong – thực tiễn tại thành phố hồ chí minh và một số kiến nghị - Pdf 71

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. Hồ Chí Minh

NGUYỄN HÙNG TÍN

PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH HÀNG RONG – THỰC TIỄN
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

TP. Hồ Chí Minh - Năm 2020


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. Hồ Chí Minh

NGUYỄN HÙNG TÍN

PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH HÀNG RONG – THỰC TIỄN
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Hướng đào tạo: Hướng ứng dụng
Mã số: 8380107
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN THỊ ANH

TP. Hồ Chí Minh - Năm 2020



1.2.2. Phân loại kinh doanh hàng rong .............................................................. 18
1.2. Tác động của kinh doanh hàng rong đến xã hội ............................................. 20
1.2.1. Những tác động tích cực .......................................................................... 20
1.2.2. Những tác động tiêu cực .......................................................................... 21
1.3. Các nội dung quản lý nhà nước đối với kinh doanh hàng rong ..................... 22
1.3.1. Khái niệm quản lý nhà nước đối với kinh doanh hàng rong ................... 22
1.3.2. Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước ............................................ 25
1.3.3. Những nội dung trong công tác quản lý kinh doanh hàng rong .............. 27
1.4. Kinh nghiệm quản lý kinh doanh hàng rong tại một số quốc gia................... 28
1.4.1. Quản lý người bán hàng rong tại Bangkok (Thái Lan) ........................... 28
1.4.2. Quản lý kinh doanh hàng rong tại Singapore .......................................... 30
1.4.3. Kinh nghiệm quản lý người bán hàng rong ở Đài Loan, Hồng Kong
(Trung Quốc) ..................................................................................................... 30
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN KINH DOANH
HÀNG RONG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ............................................... 35
2.1. Khái quát về lịch sử phát triển hoạt động kinh doanh hàng rong tại thành phố
Hồ Chí Minh .......................................................................................................... 35


2.1.1. Khái quát về lịch sử phát triển kinh tế hàng rong tại thành phố Hồ Chí
Minh ................................................................................................................... 35
2.1.2. Những đặc trưng về kinh doanh hàng rong ở thành phố Hồ Chí Minh ... 39
2.2. Thực trạng pháp luật về kinh doanh hàng rong và các quy định liên quan của
thành phố Hồ Chí Minh ......................................................................................... 44
2.2.1. Nội dung pháp luật về kinh doanh hàng rong và các quy định liên quan
của Thành phố Hồ Chí Minh ............................................................................. 44
2.2.2. Đánh giá thực trạng pháp luật về kinh doanh hàng rong và các quy định
liên quan của Thành phố Hồ Chí Minh ............................................................. 50
2.3. Thực trạng quản lý kinh doanh hàng rongtrên địa bàn Thành phố Hồ Chí
Minh....................................................................................................................... 54

Thành Phố Hồ Chí Minh

TP

Thành Phố

UBND

Ủy ban nhân dân


TÓM TẮT LUẬN VĂN
Kinh doanh hàng rong là hoạt động khá phổ biến trong nền kinh tế ở Việt
Nam, có thể thấy trên tất cả các tuyến phố, vỉa hè, các con hẻm. Một mặt, kinh
doanh hàng rong giải quyết được cơ hội thốt nghèo của nhiều hộ gia đình khó
khăn, mặt khác, việc kinh doanh này cũng tồn tại nhiều vấn đề cả về mặt pháp lý lẫn
thực tiễn. Việc kinh doanh này chưa có văn bản pháp luật điều chỉnh trực tiếp đối
với hoạt động kinh doanh hàng rong, bởi vậy những chủ thể kinh doanh hàng rong
hoạt động một cách tùy tiện, bất chấp việc xử lý của cơ quan chức năng, ảnh hưởng
đến mỹ quan đô thị, vệ sinh mơi trường, an tồn giao thơng, vệ sinh an tồn thực
phẩm. Vì thế, cần có cơ chế pháp lý điều chỉnh đối với nhóm đối tượng này và phải
giải quyết bài toán mâu thuẫn: làm sao để vừa tạo điều kiện phát triển kinh doanh
hàng rong, vừa không ảnh hưởng xấu đến trật tự đường phố, vỉa hè, trật tự an toàn
xã hội, đảm bảo an toàn giao thông, mỹ quan đô thị... Bằng phương pháp phân tích
luật học và phân tích thực tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã chỉ ra một số
bất cập và nêu lên một vài kiến nghị để hoàn thiện các quy định về kinh doanh hàng
rong và tạo điều kiện thuận lợi trong việc quản lý hoạt động này tại thành phố Hồ
Chí Minh cũng như trên cả nước Việt Nam./.
Từ khóa: kinh doanh hàng rong; cá nhân hoạt động thương mại; Nghị định
39/2007/NĐ-CP; Thành phố Hồ Chí Minh.

Việt Nam. Nhìn nhận từ khía cạnh tích cực thì kinh doanh hàng rong đã có những
chuyển biến tích cực cả về quy mơ, tốc độ và cơ cấu, nhiều cơ sở kinh doanh đã
đứng vững trong nền kinh tế thị trường, có tác động tích cực đến cơng tác xóa đói
giảm nghèo. Có thể nói rằng, sự phát triển kinh doanh hàng rong tại đường phố, vỉa
hè là sự ra đời tất yếu của quá trình vận động chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đáp ứng
nhu cầu của đông đảo người tiêu dùng, đem lại nhiều tiện ích, mơi trường kinh
doanh thơng thống làm rõ giá trị thực của hàng hóa. Tuy nhiên, với sự bùng nổ của
kinh doanh hàng rong gây ra nhiều hệ luỵ nghiêm trọng cho xã hội, nhiều cửa hàng
mọc lên không đủ điều kiện, các phố cụt, ngã rẽ, ngõ rộng biến thành chợ cóc chợ
tạm, thậm chí một số nhà cơng vụ, trụ sở cơ quan nhà nước cũng biến thành chợ.1
Các cơ sở kinh doanh tự phát trên đường phố, vỉa hè dần dần trở thành một bộ
phận cấu thành không nhỏ của nền kinh tế. Theo Niên giám thống kê năm 2018,
khu vực kinh tế cá thể đóng góp 29,24% GDP cả nước. Theo Kết quả tổng điều tra
kinh tế năm 2017 của Tổng cục Thống kê, cả nước có khoảng 4,59 triệu cơ sở sản
xuất kinh doanh cá thể phi nơng, lâm nghiệp và thủy sản có địa điểm hoạt động ổn
định; trong đó, có khoảng 1,33 triệu cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể đã có Giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh, khoảng 3,02 triệu cơ sở chưa đăng ký kinh doanh,
còn lại khoảng 0,24 triệu cơ sở đã đăng ký kinh doanh nhưng chưa được cấp giấy
chứng nhận hoặc không phải đăng ký kinh doanh.2
Theo Kết quả tổng điều tra kinh tế năm 2017 của Tổng cục Thống kê, các cơ
sở sản xuất kinh doanh hàng rong trên đường phố, vỉa hè có địa điểm hoạt động ổn
1
2

Hoàng Minh, “Mặt trái của “chợ đường”, /> />

2

định sử dụng khoảng 7,6 triệu lao động, trong đó gần 60% lao động chưa qua đào
tạo; doanh thu đạt 2.375.935 tỷ đồng, nộp ngân sách 11.641 tỷ đồng. So với các

/>
lich_67442.html


3

cung ứng dịch vụ và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác nhưng khơng thuộc
đối tượng phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh
doanh và không gọi là “thương nhân” theo quy định của Luật Thương mại”. Nhìn
chung, các cơ sở kinh doanh do cá nhân tự mình hoạt động chưa được quy định một
cách chi tiết, dẫn đến sự quản lý nhà nước đối với nó cũng gặp nhiều khó khăn. Các
cơ sở này có thể là quán cà phê, tiệm cơm, bán đồ ăn, thức uống…được mọc lên
một cách tự phát lấn chiếm đường phố, vỉa hè. Cơ chế pháp lý điều chỉnh đối với
nhóm đối tượng này phải giải quyết bài toán mâu thuẫn giữa: làm sao để tạo điều
kiện phát triển các cơ sở kinh doanh này mà không ảnh hưởng xấu đến trật tự đường
phố, vỉa hè.
Do đó, chúng ta cần khẳng định rõ ràng về địa vị pháp lý và luật hóa các
quyền, nghĩa vụ để tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các cơ sở kinh doanh
đường phố, vỉa hè phát triển, nâng cao năng lực quản trị, thực hiện đầy đủ quyền và
nghĩa vụ và bảo đảm cạnh tranh bình đẳng với các chủ thể khác khi tham gia thị
trường. Mặt khác, việc bổ sung những quy chế pháp lý phải đảm bảo phù hợp với
quy hoạch đô thị của đường phố, vỉa hè không ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tồn
xã hội.
Chính vì vậy, cần nghiên cứu một cách tổng thể tình hình các cơ sở kinh
doanh hàng rong trên đường phố, vỉa hè từ đó đánh giá sự hợp lý của các quy định
pháp luật hiện hành. Có thể cần phải nghiên cứu để bổ sung quy định quản lý đối
với các cơ sở kinh doanh hàng rong trên đường phố, vỉa hè; quy định về tạm ngừng,
chấm dứt hoạt động, quy định về quản trị, kế toán, theo hướng đơn giản, thuận lợi
về thủ tục hành chính nhằm bảo đảm vừa khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho
hoạt động sản xuất kinh doanh hàng rong vừa đảm bảo tính trật tự cho đường phố, vỉa

Tạp chí Tài chính, số 710. Bài viết của tác giả chỉ ra các loại hình kinh tế phi chính
thức, gồm có: Nhóm hoạt động kinh tế bất hợp pháp, nhóm hoạt động kinh tế ngầm
và nhóm hoạt động kinh tế tự sản xuất của các hộ gia đình, cá nhân. Trên cơ sở đó,
tác giả của bài viết này chỉ ra các cách thức quản lý thuế phù hợp, riêng đối với kinh
tế tự phát của hộ gia đình, cá nhân thì cần xây dựng nhiều chính sách miễn, giảm
thuế, tiện giản thủ tục hành chính để góp phần nâng đỡ các cơ sở kinh doanh. Bài


5

viết này góp phần giúp tác giả luận văn nhận diện ra các hình thức kinh doanh phi
chính thức trên đường phố, vỉa hè, cũng như những gợi mở đối về chính sách thuế
đối với các cơ sở kinh doanh này.
- Đào Lộc Bình và Nguyễn Hải Ngân (2017), “Hành lang pháp lý cho hoạt
động kinh tế phi chính thức ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Nghề luật, số 4. Bài viết
phân tích các quy định pháp luật hiện hành có đề cập về việc đăng ký hoạt động,
quản lý thuế, trách nhiệm khi kinh doanh tự phát (phi chính thức). Bài viết này một
mặt thừa nhận vai trị của kinh tế phi chính thức, một trong số đó là kinh doanh
đường phố, vỉa hẻ, đồng thời đề xuất các cơ chế pháp lý để tạo lập những khu vực
dành riêng cho kinh doanh “chợ”, tránh tình trạng tự phát phá vỡ quy hoạch.
- Dương Thị Thuỳ Linh (2019), “Thực trạng và chính sách quản lý kinh tế phi
chính thức ở Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và quản trị kinh doanh, số 10. Bài viết đề
cập đến vấn đề quản lý thuế đối với các cơ sở hộ kinh doanh và các cơ sở tự phát,
trong đó tác giả bài viết cho rằng việc quy định ngưỡng 100 triệu đồng trở lên phải
nộp thuế là không phù hợp, mang tính cào bằng mà chưa có sự tính tốn đối với
từng hoàn cảnh cụ thể. Bài viết cung cấp thêm một góc nhìn từ góc độ người kinh
doanh tự phát, trong đó có kinh doanh đường phố, vỉa hè.
3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: nghiên cứu thực trạng áp dụng các quy định pháp luật
điều chỉnh về kinh doanh hàng rong để từ đó nhận diện ra những hạn chế, bất cập và

Thực trạng áp dụng pháp luật quản lý kinh doanh hàng rong tại thành phố Hồ
Chí Minh đang có những hạn chế, bất cập nào?


7

Những giải pháp nào có thể hài hồ được việc đảm bảo trật tự đường phố vỉa
hè với việc tạo điều kiện kinh doanh cho các cơ sở kinh doanh tự phát?
6. Ý nghĩa đề tài
Cung cấp các vấn đề lý luận về hoạt động kinh doanh đường phố, vỉa hè. Cụ
thể: các vấn đề về khái niệm, đặc điểm nhận diện kinh doanh đường phố, vỉa hè; sự
cần thiết phải xây dựng quy chế pháp lý đặc thù để quản lý loại hình kinh doanh tự
phát này; làm rõ các bộ phận cấu thành cơ bản của pháp luật về kinh doanh đường
phố, vỉa hè.
Phân tích thực trạng áp dụng pháp luật trong hoạt động quản lý đối với kinh
doanh đường phố, vỉa hè, từ đó chỉ ra những hạn chế, bất cập đang tồn tại để đề
xuất những giải pháp về mặt lập pháp và tổ chức triển khai thi hành. Điều này có ý
nghĩa quan trọng trong việc tìm hiểu về kinh doanh tự phát, cũng như đóng góp vào
q trình xây dựng luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
7. Bố cục đề tài (tên các chương)
Ngoài Lời mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo thì luận có kết
cấu gồm 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1. Khái quát chung về kinh doanh hàng rong
Chương 2. Thực trạng pháp luật về kinh doanh hàng rong tại thành phố Hồ
Chí Minh
Chương 3. Giải pháp hoàn thiện việc các quy định về kinh doanh hàng rong và
một số kiến nghị


8


đông dân cư (không phải là tại các chợ, nơi được quy hoạch chính thức). Bn bán
hàng rong có thể chia thành hai nhóm đối tượng hoạt động chính: nhóm cố định (có
mặt tiền nhà kết hợp với khơng gian cơng cộng – vỉa hè) và nhóm lưu động (khơng
có mặt tiền nhà, bn bán ngay lịng lề đường, trên vỉa hè, đường hẻm khu dân cư).6
Nói cách khác, một đặc trưng của kinh doanh hàng rong diễn ra ở khơng gian mở ngồi trời.
Có quan điểm cho rằng kinh doanh hàng rong là bán hàng hố khơng có địa
điểm kinh doanh cố định. Quan điểm này xuất phát từ Nghị định số 39/2007/NĐCP khi cho rằng người bán hàng rong “khơng có địa điểm kinh doanh cố định”. Tuy
nhiên, tác giả khơng đồng tình với quan điểm này. Thực tế cho thấy, những người
kinh doanh hàng rong không nhất thiết phải bán hàng hoá bằng một cách thức duy
nhất là di chuyển liên tục đến các địa điểm khác nhau một cách ngẫu nhiên, tuỳ
thuộc vào đặc tính của hàng hố, dịch vụ mà họ lựa chọn cho mình cách thức kinh
doanh, địa điểm kinh doanh phù hợp để bn bán. Do đó, người kinh doanh hàng
rong cũng cần có những thị phần riêng, khách hàng riêng, các địa điểm riêng, khu
vực kinh doanh nhất định. Mặt dù có thể người bán hàng rong thường xuyên di
chuyển, nhưng sự di chuyển trong tính tốn, đến những khu vực, địa bàn xác định.
Thậm chí có nhiều người kinh doanh hàng rong chỉ bán được vào một số thời gian
trong một ngày, phụ thuộc vào đặc điểm của từng loại hàng hố, điều kiện tự nhiên,
mà họ sẽ tìm cách bn bán rong tốt nhất. Xét về các quy luật của thị trường, tại
những địa bàn quen thuộc, sự cạnh tranh diễn ra theo xu hướng ngày càng gay gắt
những chủ thể kinh doanh với nhau, do đó việc giữ khách hàng quen là một cách
thức cạnh tranh lành mạnh hữu hiệu, việc di chuyển ngẫu nhiên tiềm ẩn nhiều rủi ro
trong kinh doanh. Vì vậy, người kinh doanh hàng rong phải tìm những địa điểm
thuận lợi cho việc kinh doanh của mình và bán ở những khu vực xác định trong
những khung thời gian phù hợp. Chỉ khi nào mà việc kinh doanh ở những khu vực
6

Đỗ Văn Tính, “Hoạt động buôn bán hàng rong tại Việt Nam”,
/>




11

nước uống (hàng nước) có hoặc khơng có địa điểm cố định. Có thể thấy, “bn bán
vặt” và “bán q vặt” dựa vào tiêu chí “có hoặc khơng có địa điểm cố định”, cịn
“kinh doanh hàng rong” thì khơng có địa điểm cố định, tuy nhiên việc nhận diện có
hay khơng có địa điểm cố định rất khó. Theo quan điểm của tác giả thì các thuật
ngữ này đồng nghĩa, khơng có nội hàm khác nhau, nhưng trong bối cảnh xây dựng
Nghị định số 39/2007/NĐ-CP, các nhà lập pháp có lẽ đã gặp lúng túng khi tìm một
cụm từ ngắn gọn, rõ nghĩa để chỉ về những người bán hàng rong, nên họ đã sử dụng
cách làm an toàn là liệt kê tất cả những từ này vào Nghị định số 39/2007/NĐ-CP.
Cụ thể, Khoản 1 Điều 3 của Nghị định này liệt kê các hình thức hoạt động kinh
doanh của “cá nhân hoạt động thương mại”: buôn bán rong (buôn bán dạo); buôn
bán vặt; bán quà vặt; buôn chuyến; thực hiện các dịch vụ: đánh giày, bán vé số,
chữa khóa, sửa chữa xe, trơng giữ xe, rửa xe, cắt tóc, vẽ tranh, chụp ảnh và các dịch
vụ khác có hoặc khơng có địa điểm cố định; các hoạt động thương mại một cách
độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh khác.7 Cách liệt kê này rộng
hơn so với những chủ thể được Nghị định số 78/2015/NĐ-CP quy định không phải
7

Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 39/2007/NĐ-CP:

1. Cá nhân hoạt động thương mại là cá nhân tự mình hàng ngày thực hiện một, một số hoặc toàn bộ
các hoạt động được pháp luật cho phép về mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và các hoạt động
nhằm mục đích sinh lợi khác nhưng khơng thuộc đối tượng phải đăng ký kinh doanh theo quy định
của pháp luật về đăng ký kinh doanh và không gọi là “thương nhân” theo quy định của Luật
Thương mại. Cụ thể bao gồm những cá nhân thực hiện các hoạt động thương mại sau đây:
a) Buôn bán rong (buôn bán dạo) là các hoạt động mua, bán khơng có địa điểm cố định (mua rong,
bán rong hoặc vừa mua rong vừa bán rong), bao gồm cả việc nhận sách báo, tạp chí, văn hóa phẩm

dể nhận biết bởi “tính rong” và “ngoài trời”, một nội hàm đủ để bao quát hết “bn
bán vặt” và “bán q vặt”. Do đó, có thể gọi chung các cụm từ này bằng “kinh
doanh hàng rong”.
Ngồi ra, kinh doanh hàng rong có điểm khác nổi bật so với các “thương
nhân” ở điểm đăng ký kinh doanh. Cần lưu ý rằng, những người bán hàng rong
được đề cập ở đây là những cá nhân kinh doanh hợp pháp, khơng có nghĩa vụ đăng
ký kinh doanh. Đối với họ thì việc đăng ký kinh doanh chỉ được dừng lại ở khuyến
khích, chứ khơng là một trách nhiệm. Trong khi đó, các thương nhân theo Luật
thương mại 2005 định nghĩa thì phải có “đăng kí kinh doanh”, và chính cái hình
thức pháp lý làm vỏ bọc để nhà đầu tư kinh doanh chính là thương nhân (doanh
nghiệp, hộ kinh doanh và hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã). Cịn kinh doanh hàng
rong thì người bán hàng rong sẽ lấy tư cách cá nhân của mình để đảm bảo cho việc
kinh doanh, cũng như là chủ thể phải chịu trách nhiệm đầu tiên và cuối cùng trước
nhà nước, xã hội và người tiêu dùng.


13

Từ phân tích ở trên, có thể hiểu kinh doanh hàng rong như sau: kinh doanh
hàng rong là một dạng tổ chức kinh doanh của cá nhân hoạt động thương mại,
được thực hiện ở khu vực khơng gian mở, có thể có hoặc khơng có địa điểm cố
định.
1.2.2. Đặc điểm kinh doanh hàng rong
Thứ nhất, người kinh doanh hàng rong khơng có nghĩa vụ đăng ký kinh doanh.
Cơ sở pháp lý cho đặc điểm này được minh thị tại Nghị định số 39/2007/NĐCP và Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 9 năm 2015 của Chính phủ về
đăng ký doanh nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 11 năm 2015, được sửa đổi,
bổ sung bởi Nghị định số 108/2018/NĐ-CP ngày 23 tháng 8 năm 2018 của Chính
phủ. Đăng ký kinh doanh là bộ thủ tục mà theo đó nhà đầu tư phải tiến hành các
biện pháp để khai báo với các cơ quan chức năng về cơ sở kinh doanh của mình,
dưới một hình thức pháp lý nhất định.8 Trong q trình khai báo các thơng tin về

Đối với những chủ thể kinh doanh có đăng ký kinh doanh khi này chủ thể kinh
doanh bắt buộc tuân thủ các quy định của pháp luật về thủ tục đăng ký, kế đến các
điều kiện lao động được đảm bảo tốt hơn, ngoài ra cơ sở kinh phải thực hiện nghĩa
vụ thuế theo quy định của pháp luật. Đăng ký kinh doanh khi này phải gắn liền với
một hình thức pháp lý nhất định, mà phổ biến hơn cả là hộ kinh doanh. Khi này, các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền nắm bắt được các thơng tin liên quan đến cơ sở
kinh doanh của người đăng ký, từ số vốn, số lao động, địa điểm kinh doanh, dự kiến
thu nhập…ở góc độ vĩ mơ có thể xây dựng các chính sách phù hợp.
Trong khi đó, kinh doanh hàng rong khơng có đăng ký kinh doanh thì người
bán hàng không phải thực hiện các thủ tục đăng ký kinh doanh, việc vận hành kinh
doanh hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của người bán hàng. Nhà nước nhìn chung
chưa có thơng tin đầu vào của các cơ sở kinh doanh hàng rong và kinh doanh vỉa hè
không đăng ký kinh doanh. Vì vậy, đây cũng là nhóm kinh doanh có thể làm thất
thu thuế cho ngân sách nhà nước.
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý là kinh doanh hàng rong, vỉa hè không đăng ký kinh
doanh chưa hẳn là vi phạm pháp luật. Theo Khoản 1 Điều 3 Nghị định số
39/2007/NĐ-CP thì cá nhân tự mình hàng ngày thực hiện một, một số hoặc toàn bộ
các hoạt động được pháp luật cho phép về mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và
các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác nhưng không thuộc đối tượng phải đăng
ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh và không gọi là
“thương nhân” theo quy định của Luật Thương mại. Chẳng hạn, cá nhân buôn bán
rong (buôn bán dạo) là các hoạt động mua, bán khơng có địa điểm cố định (mua


15

rong, bán rong hoặc vừa mua rong vừa bán rong), bao gồm cả việc nhận sách báo,
tạp chí, văn hóa phẩm của các thương nhân được phép kinh doanh các sản phẩm
này theo quy định của pháp luật để bán rong; buôn bán vặt là hoạt động mua bán
những vật dụng nhỏ lẻ có hoặc khơng có địa điểm cố định; bán quà vặt là hoạt động

chính bản thân người thực hiện hành vi, cho người khác hoặc cho xã hội. Mục đích
sinh lợi ở đây có thể được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm hoạt động nhằm thu lợi
nhuận với ý nghĩa kinh tế đơn thuần và cả những hoạt động sinh lợi khác có thể
khơng chỉ là vì lợi ích kinh tế một cách trực tiếp.10 Khi xác định mục đích sinh lợi
thì “ý định” thu lợi nhuận của chủ thể mới là tiêu chí quyết định, cịn việc đạt được
lợi nhuận hay không, cũng như việc sử dụng lợi nhuận thu được cho mục đích gì
khơng phải là dấu hiệu quyết định.11 Do đó, nhiều trường hợp người bán hàng rong
tổ chức việc sản xuất, buôn bán bị thua lỗ nhưng hoạt động đó vẫn là kinh doanh.
Nói cách khác thì dưới góc độ pháp lý, khi xác định hành vi kinh doanh hàng rong,
chúng ta quan tâm đến việc có hay khơng có mục tiêu tạo ra lợi nhuận chứ không
quan tâm đến việc thực hiện mục tiêu đó như thế nào.
Thứ ba, các hoạt động kinh doanh hàng rong có nội hàm rộng.
Dưới góc độ ngữ nghĩa thì theo Từ điển Tiếng Việt: “kinh doanh là việc tổ
chức sản xuất, bn bán, dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi”12. Có thể thấy rằng ở
nghĩa phổ thơng, từ “kinh doanh” có nghĩa là bn bán và/hoặc tổ chức việc sản
xuất. Hơn thế nữa, không phải tất cả các hoạt động sản xuất, buôn bán đều là kinh
doanh mà chỉ những hoạt động sản xuất, bn bán nào có mục đích sinh lợi mới
được coi là kinh doanh.13
Khái niệm kinh doanh có thể tiếp cận theo dạng chuỗi cung ứng, tức một quá
trình từ đầu vào đến đầu ra của sản phẩm, dịch vụ trên thị trường. Gồm tất cả các
giai đoạn của quá trình đầu tư, từ việc bỏ vốn vào đầu tư, đến sản xuất, gia công,
chế biến, cung ứng dịch vụ hay bán sản phẩm trên thị trường... Ở đặc điểm này,
10

Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2016), tlđd, tr. 26.

11

Bùi Ngọc Cường (2008) (Chủ biên), Giáo trình Luật thương mại, tập 1, Nxb. Giáo dục, tr. 8.


do kinh doanh theo quy định pháp luật”, thì tại Điều 33 Hiến pháp 2013 khẳng
định: “mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà pháp luật
khơng cấm”. Xét về góc độ đối tượng thì Hiến pháp 1992 chỉ quy định cơng dân có
quyền, cịn Hiến pháp 2013 quy định là mọi người có quyền, rộng hơn rất nhiều. Xét
về góc độ phạm vi hoạt động, Điều 33 Hiến pháp 2013 được hiểu theo nghĩa rộng
hơn so với Hiến pháp 1992. Từ Khoản 2 Điều 14 và Điều 33 Hiến pháp 2013 thì
mọi người đều có quyền tự do kinh doanh và giới hạn của quyền tự do đó là những
gì mà luật cấm. Như vậy, quyền tự do kinh doanh ngày càng được nhà nước ghi
nhận và mở rộng.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status