BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA THỦY SẢN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM THAY THẾ
TRÙN CHỈ BẰNG THỊT CÁ TRONG
ƯƠNG NUÔI CÁ LĂNG NHA (Mystus
wyckioides Chaux và Fang, 1949)
NGÀNH: THỦY SẢN
KHÓA : 2001 – 2005
SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN QUỐC NINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2005
XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM THAY THẾ TRÙN CHỈ BẰNG
THỊT CÁ TRONG ƯƠNG NUÔI CÁ LĂNG NHA (Mystus
wyckioides Chaux và Fang, 1949).
Thực hiện bởi
Nguyễn Quốc Ninh
Luận văn được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng Kỷ Sư Thủy Sản
Giáo viên hướng dẫn : Ngô Văn Ngọc
TÓM TẮT
Đề tài: xác đònh thời điểm thay thế trùn chỉ bằng thòt cá trong ương nuôi cá
lăng nha (Mystus wyckioides Chaux và Fang, 1949) được tiến hành để đánh giá sự ảnh
hưởng của thức ăn lên sự tăng trưởng, tỉ lệ sống và xác đònh ngày tuổi nào thì cá ăn
được thòt cá một cách tồt nhất.
Chúng tôi tiến hành thí nghiệm gồm sáu nghiệm thức, mỗi nghiệm thức gồm
ba lô và lập lại sáu lần. Cá ba ngày tuổi được cho ăn Moina, khi cá bốn ngày tuổi thì
tiến hành thí nghiệm. Một nghiệm thức cá bốn ngày tuổi (NT I) cho ăn thòt cá hấp
chín, các nghiệm thức còn lại cho ăn trùn chỉ, sau mỗi ngày thì lần lược thay thế trùn
chỉ bằng thòt cá. Riêng nghiệm thức đối chứng vẫn cho ăn trùn chỉ.
CẢM TẠ
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn:
Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm
Ban chủ nhiệm và quý thầy cô trong Khoa Thủy Sản đã tận tình dạy bảo tôi
trong thời gian học tại trường.
Đặc biệt là thầy Ngô Văn Ngọc đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ, truyền đạt
kiến thức quý báu để chúng tôi hoàn thành tốt bài luận văn tốt nghiệp này.
Các anh nhân viên Trại Thực Nghiệm Thủy Sản, Khoa Thủy Sản, Trường Đại
Học Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh.
Tôi xin cảm ơn cha, mẹ tôi và những người thân trong gia đình đã tạo mọi điều
kiện cho tôi trong suốt quá trình tôi theo học tại trường.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn những người bạn đã cùng tôi học tập bốn năm trong
trường, đã động viện giúp đỡ tôi trong thời gian học tập, và làm luận văn tốt nghiệp.
Do kiến thức còn hạn chế nên luận văn này không thề tránh khỏi những thiếu
sót, chúng tôi rất mong đón nhận những ý kiến đóng góp của q Thầy Cô và các bạn.
MỤC LỤC
ĐỀ MỤC TRANG
TÊN ĐỀ TÀI i
TÓM TẮC BẰNG TIẾNG VIỆT ii
TÓM TẮC BẰNG TIẾNG ANH iii
CẢM TẠ iv
MỤC LỤC v
DANH SÁCH CÁC BẢNG vii
DANH SÁCH ĐỒ THỊ VÀ HÌNH ẢNH viii
I. GIỚI THIỆU
1.1 Đặt Vấn Đề
1.2 Mục Tiêu Đề Tài
II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2
2.1 Đặc Điểm Sinh Học 2
2.1.1 Vị trí phân loại 2
3.7 Phương Pháp Xử Lý Số Liệu 15
IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 16
4.1 Các Yếu Tố Bên Ngoài Tác Đôïng lên Sự Tăng Trưởng của Cá 16
4.1.1 Nhiệt độ 17
4.1.2 Oxygen hoà tan trong nước (DO) 17
4.1.3 pH 17
4.1.4 Amonia 18
4.2 Các Yếu Tố Bên Trong Tác Đôïng lên Sự Tăng Trưởng của Cá 18
4.3 Thành Phần Dinh Dưỡng của Thức Ăn trong Thí Nghiệm 18
4.4 Đánh Giá về Sự Tăng Trưởng của Cá Lăng Nha 19
4.4.1 Sự tăng trưởng về chiều dài 19
4.4.2 Sự tăng trưởng về trọng lượng 24
4.5 Tỉ Lệ Sống 30
V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 33
5.1 Kết Luận 33
5.2 Kiến Nghò 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤC LỤC
DANH SÁCH CÁC BẢNG VÀ ĐỒ THỊ
BẢNG NỘI DUNG TRANG
Bảng 2.1 Thành phần thức ăn trong ống tiêu hóa của cá lăng 3
Bảng 2.2 Thành phần dinh dưỡng của trùn chỉ 5
Bảng 3.1 Cách bố trí thí nghiệm và cho ăn 12
Bảng 4.1 Các yếu tố môi trường nước trong quá trình thí nghiệm 16
Bảng 4.2 Thành phần dưởng chất (%) trong thòt cá 19
Bảng 4.3 Chiều dài trung bình (cm) cá lăng nha 12 ngày tuổi qua
sáu lần thí nghiệm 20
Bảng 4.4 Trọng lượng trung bình (g) cá lăng nha 12 ngày tuổi qua
sáu lần thí nghiệm 23
Bảng 4.5 Tỉ lệ sống cá lăng nha 12 ngày tuổi qua sáu lần thí nghiệm 26
trường, các nhà kỷ thuật tìm ra những loại cá có hàm lượng mỡ ít, thịt thơm ngon. Các
lồi cà truyền thống của chúng ta từ trước đến nay như mè, chép, trơi, rơ phi, khơng còn
phù hợp với thị trường và khơng còn ưa chuộng nữa, chúng ta phải tìm ra một loại cá
mới.
Cá lăng nha (Mystus wyckioides) hiện đang được rất nhiều nhà nghiên cứu quan
tâm bởi vì: cá lăng nha có kích thước lớn, thịt thơm ngon được nhiều người ưa chuộng và
có giá trị kinh tế cao. Đây là lồi cá bản địa, chúng hiện diện ở miền Đơng Nam Bộ và
đồng bằng sơng Cửu Long và con giống ngày càng khan hiếm do khai thác q mức.
Hiện nay tại Trại Thực Nghiệm Thủy Sản Trường Đại Học Nơng Lâm TPHCM
đã cho sản xuất giống thành cơng và một thực tế khác lại nảy sinh đó là nhu cầu thức ăn
trong việc sản xuất giống để thay thế trùn chỉ là rất quan trọng .
Từ những nhu cầu thực tế trên và được sự phân cơng của Khoa Thủy Sản, chúng
tơi thực hiện đề tài: “XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM THAY THẾ TRÙN CHỈ BẰNG
THỊT CÁ TRONG ƯƠNG NUÔI CÁ LĂNG NHA (Mystus wyckioides Chaux và
Fang, 1949)”.
1.2 Mục Tiêu Đề Tài
Đề tài thực hiện nhằm các mục đích sau:
- Tại những nơi khơng có trùn chỉ thì có thể sản xuất giống cá lăng nha bằng cách
cho ăn cá tạp, giải quyết con giống tại chỗ cho bà con nơng dân.
- Giảm chi phí trong sản xuất giống.
II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đặc Điểm Sinh Học
2.1.1 Vò trí phân loại
Ngành: Chordata
Ngành phụ: Vertebrata
Lớp: Osteichthyes
Bộ: Siluriformes
Họ: Bagridae
Giống : Mystus
Loài: Mystus wyckioides Chaux và Fang, 1949
nước, ấu trùng muỗi, giun ít tơ, rễ cây, … Cá lăng là loài cá hoạt động kiếm ăn mạnh
về đêm.
Ngoài ra, cá lăng vàng (Mystus nemurus) và lăng đòa (Mystus filamentus.) hoàn
toàn chấp nhận thức ăn công nghiệp trong điều kiện nhân tạo (Ngô Văn Ngọc, 2002).
Theo Phạm Báu và Nguyễn Đức Tuân (1998; trích bởi Đào Dương Thanh,
2004), cá lăng có cấu tạo bộ máy tiêu hóa của cá dữ điển hình: miệng rộng, răng hàm
sắc, nhọn, dạ dày lớn, tỷ lệ chiều dài ruột/chiều dài thân = 89,35%. Phân tích 25 mẫu
vật thức ăn trong ruột cá, thành phần thức ăn chính là động vật.
Bảng 2.1 Thành phần thức ăn trong ống tiêu hóa của cá lăng (Hemibagrus guttatus)
trên hệ thống sông Hồng (Phạm Báu và Nguyễn Đức Tuân, 1998).
Loại thức ăn Cá Tôm Côn
trùng
Cua Giun
đất
ĐV trên
cạn khác
Mùn bã
hữu cơ
Hạt
thực vật
Tần số gặp
(%)
28 36 60 4 4 4 20 12
Tỷ lệ KL
(%)
15,8 26,2 36 4 3,2 3,6 3,2 8
2.1.5 Đặc điểm sinh sản
2.1.5.1Mùa vụ sinh sản
So với Artemia thì Moina có ưu điểm là dễ tìm, sẵn có, giá thành rẻ hơn, đem
lại hiệu quả kinh tế cao và đặc biệt là giá trò dinh dưỡng không sai khác bao nhiêu so
với Artemia.
2.2.2 Trùn chỉ (Tubifex)
Trùn chỉ là loại thức ăn thông dụng ở các trại sản xuất giống, chúng sống trong
môi trường nước thải sinh hoạt hay nước bẩn có hàm lượng dinh dưỡng cao.
Trùn chỉ có kích thước nhỏ, đường kính khoảng 0,1 - 0,3 mm chiều dài khoảng
1- 40 mm, thích hợp cho miệng các loài cá con và các loài cá có kích thước nhỏ.
Chúng là loài sinh vật có giá trò ding dưỡng rất cao. Vì vậy, người ta khai thác trùn chỉ
làm thức ăn cho các loài cá con.
Theo Phạm Văn Trang (1983, trích bởi Lê Thò Thu, 1994), thì thành phần dinh
dưỡng của trùn chỉ được phân tích như sau
Bảng 2.2 Thành phần dinh dưỡng của trùn chỉ được phân tích theo phần trăm khối
lượng tươi (trong 1 gam) trùn chỉ (Tubifex).
Thành phần Đạm Mỡ Vật chất khô Năng lượng
Tỷ lệ(%) 8,62 2,00
13,46 0,5-0,7 Kcal
Việc sử dụng trùn chỉ có một số ưu nhược điểm sau:
Ưu điểm:
- Hàm lượng dinh dưỡng cao.
- Là loại mồi sống thích hợp cho tập tính ăn của các loài cá con lúc còn nhỏ.
- Có thể giữ được 24 giờ nếu cá ăn không hết mà không làm bẩn nước ảnh
hưởng đến hoạt động sống của cá.
Nhược điểm:
- Do sống trong môi trường nước bẩn nên trùn chỉ là loại thức ăn mang mầm
bệnh nguy hiểm cho các loài cá nuôi.
- Nguồn cung cấp trùn chỉ không ổn đònh nên ảnh hưởng đến nguồn thức ăn
cho cá con lúc còn nhỏ và ảnh hưởng đến sản xuất giống.
- Giá trùn chỉ thường rất cao vào các thời điểm khan hiếm, ảnh hưởng đến việc
ương nuôi cá bột.
với số lượng không đáng kể. Cá mè hoa (Aristichthys nobilis) là loài cá điển hình ăn
động vật phù du. Ấu trùng côn trùng, giun, trai, ốc, … là thức ăn tự nhiên thích hợp của
cá chép (Cyprinus carpio). Nhưng tính riêng biệt của mỗi loài cá nuôi như đã kể trên
chỉ đặc trưng ở giai đoạn trưởng thành. Điều lý thú là ở tất cả các loại cá nuôi kể trên.
Trong một thời kỳ nhất đònh cá sau khi nở từ trứng ra đều ăn chung một loại thức ăn
đó là động vật phù du, những sinh vật nhỏ nhưng có giá trò dinh dưỡng cao. Đây là
khía cạnh độc đáo và hấp dẫn về mặt thức ăn (Trần Văn Vỹ, 1995).
2.3.2 Sự lựa chọn thức ăn
Hiện tượng lựa chọn thức ăn thấy ở tất cả các loài động vật từ thấp tới cao, ở cả
loài lấy thức ăn phân biệt và không phân biệt, trong đó loài thứ nhất có tính lựa chọn
cao hơn. Không những chỉ lựa chọn thức ăn mà cá còn lựa chọn loại thức ăn thích hợp
trong số những loại thức ăn có trong thủy vực. Ngoài khả năng lựa chọn thức ăn, thủy
sinh vật còn lựa chọn kích thước thức ăn.
2.3.3 Mối quan hệ giữa kích cỡ miệng và kích cỡ mồi
Theo Dabrowshki và Bardega (1984; trích bởi Khánh Đoan, 1997), nghiên cứu
trên cá trắm cỏ (ctenopharingodonidella), mè hoa (Aristichthys nobillis) và cá mè
trắng (Hypophthalmicchthys molitrix) cho thấy rằng có một sự liên hệ giữa kích cỡ
miệng và tổng chiều dài cá từ lúc mới ăn thức ăn ngoài đến lúc cá đạt chiều dài 20
-30 mm.
Kích cỡ miệng dường như là yếu tố giới hạn trong sự ăn của cá bột kể cả thức
ăn tự nhiên và thức ăn viên. Đường kính lớn nhất của phần thức ăn chính của loài
tương ứng với độ rộng trung bình của miệng, xấp xỉ 1:1. Bởi vậy độ rộng miệng quyết
đònh đến giới hạn kích cỡ con mồi. Hơn thế nữa ông còn kết luận rằng những cá con
có miệng nhỏ phát triển chậm hơn những cá con có miệng lớn.
2.4 Thành Phần Thức Ăn của Cá
Thành phần hóa học của thức ăn gồm protein, glucid, lipid, vitamin và các
khoáng chất khác, thức ăn là nguồn cung cấp năng lượng chính cho cơ thể, trong đó
glucid và lipid giữ một vai trò quan trọng trong việc cung cấp năng lượng cho cơ thể,
protein chỉ cung cấp một phần trong nhu cầu năng lượng của cá.
đạm, làm cho vật nuôi chậm lớn, và xuống cân dù rằng các thành phần khác đầy đủ
và làm rối loạn sử dụng tất cả các acid amin còn lại.
Thiếu protid làm cho tôm cá dễ nhạy cảm với sự nhiễm trùng đường ruột và
đường hô hấp, chậm lớn và dễ bò bệnh. Khi thiếu protid sẽ kéo theo các triệu chứng
thiếu các dinh dưỡng khác. Vì vậy, hàm lượng protid luôn là yếu tố quan trọng hàng
đầu trong chất lượng của thức ăn tôm cá. Để sử dụng protid có hiệu quả cao thức ăn
phải cung cấp đủ năng lượng, sinh tố và muối khoáng.
2.5.2 Lipid
Lipid là nguồn sinh năng lượng quan trọng, gấp 2,25 lần glucid hay protid, là
dung môi hòa tan các vitamin A, D và còn gây hương vò tốt cho thức ăn tôm cá.
Thành phần chính của lipid là acid béo do đó phần quyết đònh tính chất của
lipid thuộc về các acid béo. Các acid béo chứa nhiều nối đôi thường có nhiều chất
dinh dưỡng hơn các aicid béo no. Nhu cầu các acid béo thiết yếu đối với tôm cá còn
nhỏ cao hơn tôm cá đã trưởng thành cho nên việc bổ sung thêm mỡ cá hay dầu gan
mực vào thức ăn tôm cá khi còn nhỏ là rất cần thiết.
Lipid gồm các lipid đơn giản và lipid phức tạp trong đó colesterol là một lipid
phức tạp rất quan trọng đối với tôm, nó ảnh hưởng đến sự lột xác của tôm và kích
thích sự tăng trưởng.
Phospholipid rất cần thiết, không thể thiếu trong thức ăn tôm cá. Nó ảnh hưởng
trực tiếp trong cơ chế chuyển hóa chất béo, đẩy nhanh sự tăng trưởng tôm cá từ khi
còn nhỏ cho đến khi thành thục (Nguyễn Văn Thoa và Bạch Thò Quỳnh Mai, 1996).
2.5.3 Glucid
Trong dinh dưỡng tôm cá, vai trò chính của glucid là sinh năng lượng. Tùy theo
giống loài mà tôm, cá có khi hơn một nữa năng lượng của khẩu phần là do glucid cung
cấp. Ngoài vai trò sinh năng lượng, ở mức độ nhất đònh, glucid có cả vai trò tạo hình vì
có mặt trong tế bào và tổ chức thòt tôm cá. Chuyển hóa glucid liên quan chặt chẽ với
chuyển hóa protid và lipid. Cung cấp đủ glucid trong thức ăn sẽ làm giảm phân hủy
protid đến mức tối thiểu.
Glucid theo nhu cầu dinh dưỡng tôm cá chủ yếu là tinh bột. Tinh bột là thành
phần dinh dưỡng chính của các loại hạt ngũ cốc và đậu. Nhưng có một thành phần
Tăng trọng của cá
Hệ số thức ăn càng lớn thì thức ăn càng kém hiệu quả.
Ngày nay khi nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh thì đòi hỏi phải giảm hệ số
thức ăn xuống mức thấp nhất, rút ngắn thời gian nuôi, thu lại lợi nhuận cao nhất. Tuy
nhiên việc rút ngắn hệ số thức ăn còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố như ao, hồ, kỷ thuật
nuôi v…v…
III. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời Gian và Đia Điểm Nghiên Cứu
Chúng tôi thực hiện đề tài từ tháng 03/2005 – 07/2005 tại Trại Thực Nghiệm
Thủy Sản Trường Đại Học Nông Lâm TPHCM
3.2 Đối Tượng Nghiên Cứu
Đối tượng nghiên cứu là cá lăng nha ba ngày tuổi, được cho sản xuất tại Trại
Thực Nghiệm Thủy Sản, Trường Đại Học Nông Lâm TPHCM.
3.3 Dụng Cụ Thí Nghiệm
Bể kính có kích thước 40x40cm, số lượng 18 bể.
Nhiệt kế, DO test, pH test, NH
4
/NH
3
test.
Cân điện kế 2 số lẻ, giấy kẻ ôli.
Vợt vớt Moina và vợt lọc Moina.
Thau nhựa để đựng cá.
Thức ăn: Moina, trùn chỉ, cá hấp chín.
Nguồn nước được lấy từ hồ đất được chứa trong bể chứa để ổn đònh về các mặt
thủy, lý, hóa. Được quy đònh theo tiêu chuẩn giành cho nuôi trồng thủy sản.
3.4 Bố Trí Thí Nghiệm
Thí nghiệm được bố trí trong bể kính, bố trí ngẫu nhiên 100 con cá ba ngày
tuổi trong mỗi bể, cá khỏe mạnh, không bò bệnh, kích thước đồng đều.
(Lô 3)
NT ĐC
(Lô 3)
NT V
(Lô 3)
NT I
(Lô 3)
Hình 3.1 Bể kính bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên, gồm sáu nghiệm thức,
mỗi nghiệm thức gồm ba lô và được lặp lại sáu lần vào các thời điểm khác nhau. Mỗi
lần lặp lại đều bốc thăm ngẫu nhiên cho mỗi lô thí nghiệm để tránh sự trùng lặp giữa
các lần lặp lại trong mỗi nghiệm thức.
Bảng 3.1 Cách bố trí thí nghiệm và cho ăn
Thời điểm
đổi thức ăn
Loại thức ăn
NT ĐC NT I NT II NT III NT IV NT V
4 ngày tuổi
Trùn chỉ Cá tạp Trùn chỉ Trùn chỉ Trùn chỉ Trùn chỉ
5 ngày tuổi
Trùn chỉ Cá tạp Cá tạp Trùn chỉ Trùn chỉ Trùn chỉ
6 ngày tuổi
Trùn chỉ Cá tạp Cá tạp Cá tạp Trùn chỉ Trùn chỉ
7 ngày tuổi
Trùn chỉ Cá tạp Cá tạp Cá tạp Cá tạp Trùn chỉ
8 ngày tuổi
Trùn chỉ Cá tạp Cá tạp Cá tạp Cá tạp Cá tạp
9 ngày tuổi
Trùn chỉ Cá tạp Cá tạp Cá tạp Cá tạp Cá tạp
: đo hai lần một ngày bằng test NH
4
/NH
3
+
, một tuần đo một lần.
3.5.2 Cho ăn và chăm sóc
3.5.2.1 Cho ăn
a/ Moina, trùn chỉ
Moina được vớt trong ao và được lọc sạch trước khi cho cá ăn. Cho cá ăn
Moina khi ba ngày tuổi lúc này cá đã tiêu hết noãn hoàng.
Trùn chỉ được mua về rửa sạch loại bỏ hết chất bẩn và được lưu giữ trong nước
chảy.
Khi cá được bốn ngày tuổi thì cho cá ăn bằng trùn chỉ các nghiệm thức II,
nghiệm thức III, nghiệm thức IV, nghiệm thức V và nghiệm thức đối chứng.
b/ Thòt cá
Thòt cá mà chúng tôi sử dụng là thòt cá rô phi từ Trại Thực Nghiệm Thủy Sản.
Cá sau khi được bắt lên, bỏ mang, rửa sạch để loại bỏ chất bẩn bám trên cơ thể cá.
Sau khi làm sạch được đem đi hấp chín để loại bỏ mầm bệnh.
Nghiệm thức I (tức cá bốn ngày tuổi) thì chúng tôi cho ăn thòt cá, sau mỗi ngày
thì lần lược thay thế trùn chỉ bằng thòt cá ở mỗi nghiệm thức, riêng nghiệm thức đối
chứng vẫn cho ăn trùn chỉ.
Sau khi cho ăn, thức ăn còn dư được bảo quản trong tủ đá để tránh sự phân hủy
của thòt cá làm thức ăn và bảo quản thức ăn được lâu hơn. Không nên hấp cá quá lâu
làm ảnh hưởng đến chất lượng của thức ăn. Trước khi cho cá ăn chúng tôi hấp lại thức
ăn đã bảo quản trong tủ lạnh.
3.5.2.2 Cách thức chăm sóc
Cá bắt đầu thí nghiệm là cá ba ngày tuổi, ương trong chín ngày thì cá đạt kích
thước trung bình khoảng (1,1 – 2,705) cm
của cá và tỉ lệ sống. Sự khác biệt giữa các nghiệm thức được so sánh theo trắc nghiệm
LSD (p<0,05).
IV. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Việc ương nuôi thành công các loài cá bột bằng cách sử dụng thức ăn nhân tạo
thay thế thức ăn tự nhiên mà cụ thể là động vật nổi đã được báo cáo ở nhiều loài cá
như trê phi, chép (Kerdchuen và Legendre, 1994; Dabrowski and Bardega, 1994; trích
bởi Nguyễn Thò Ngọc Lan, 2004) và điều này cũng phù hợp với khuynh hướng hiện
nay trong ương nuôi các loài thủy sản càng sớm càng tốt.
Trong số nhiều loài động vật nổi khác nhau, giống Moina (Cladocera) và trùn
chỉ được sử dụng phổ biến nhất vì chúng không làm mất dưỡng chất trong nước như
thức ăn chế biến và kích thước phù hợp với cở miệng của hầu hết các loài cá (Verreth
và ctv.,1993; trích bởi Nguyễn Thò Ngọc Lan, 2004).
Trong nghiên cứu cũng như trong thực tế, việc chuyển từ thức ăn tươi sống sang
thức ăn nhân tạo, nếu không ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá bột thì
nên sử dụng thức ăn nhân tạo sẽ hạn chế được bệnh lây nhiễm từ thức ăn tươi sống và
chủ động được nguồn thức ăn trong ương nuôi.
4.1 Các Yếu Tố Bên Ngoài Tác Đôïng lên Sự Tăng Trưởng của Cá
Nước là một nhân tố không thể thiếu trong hoạt động nuôi trồng thủy sản, là
môi trường sống của cá cũng như các loài sinh vât dưới nước khác. Các yếu tố thủy,
lý, hoá của nước phần nào cũng làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cá, sự bắt mồi
và khả năng hấp thụ thức ăn của cá. Do đó, trong quá trình nuôi cần phải quan tâm
đến chất lượng của môi trường, hay nói cách khác chúng ta phải quan tâm đến chất
lượng nước, tạo môi trường sống thích hợp cho sự tăng trưởng và phát triển của cá.
Nước mà chúng tôi sử dụng trong quá trình làm thí nghiệm là nước được lấy từ
hồ đất có chất lượng tương đối tốt và được chứa trong bể 1000L đã ổn đònh phần nào
các yếu tố thủy, lý, hoá cho nên không làm ảnh hưởng nhiều đến cá.
Bảng 4.1 Các yếu tố môi trường nước trong quá trình thí nghiệm
Các yếu tố môi trường Dao động
Nhiệt độ (