PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG MARKETING MIX CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN GẠCH ỐP LÁT THÁI BÌNH
I/. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN GẠCH ỐP LÁT THÁI BÌNH
1/. Giới thiệu khái quát công ty:
- Tên công ty: Công ty Cổ phần gạch ốp lát Thái Bình
- Tên tiếng Anh: Thaibinh ceramic tiles join stock company
- Trụ sở: xã Đông Lâm, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
- Đại diện theo pháp luật của công ty: Ông Nguyễn Văn Dũng- Chủ tịch HĐQT -
kiêm Giám đốc.
- Điện thoại: 036.823.682
- Website: http//: www.ceramicLongHau.com.vn
- Giấy chứng nhận ĐKKD số: 0803000177, Cấp ngày: 23 tháng 02 năm 2005
- Loại hình doanh nghiệp: Công ty cổ phần
- Vốn điều lệ: 10.000.000.000VNĐ (10 tỷ đồng)
- Vốn đầu tư hiện nay: 88.184.000.000đồng;
- Ngành nghề kinh doanh: Sản xuất và kinh doanh xuất nhập khẩu vật liệu xây
dựng, sản phẩm chủ yếu là gạch Ceramic ốp tường và lát nền.
2/. Quá trình hình thành và phát triển của công ty:
Công ty cổ phần gạch ốp lát Thái Bình được thành lập tháng 7 năm 1997 với tổng
số vốn đầu tư là 73,2 tỷ đồng, thuộc sự quản lý của Ban quản lý dự án đầu tư tỉnh
Thái Bình. Lúc đầu công ty chỉ có 180 công nhân viên. Sản phẩm sản xuất chính là
gạch lát nền. Dây chuyền sản xuất được nhập đồng bộ từ hãng WELKO của Italy
với công suất khoảng 1,1 triệu m
2
/năm. Tuy nhiên công ty mới chỉ sản xuất được
gạch lát nền kích cỡ 300-300 (30cm-30cm), sản phẩm còn đơn giản chưa đáp ứng
được nhu cầu đa dạng của thị trường.
Năm 1999 công ty đầu tư dây chuyền đồng bộ nữa của Italy với công suất 1,12
triệu m
2
/năm. Với dây chuyền công nghệ này công ty có thể sản xuất được gạch ốp
1. Hội đồng quản trị: HĐQT là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh
công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, chiến lược quyền lợi của
công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội cổ đông.
2. Ban giám đốc: Điều hành toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, chịu trách nhiệm trước Đại hội cổ đông và HĐQT công ty.
3. Ban kiểm soát: Kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong quản lý, điều hành hoạt
động sxkd, trong ghi chép sổ sách kế toán và báo cáo tài chính.
4. Phòng tổ chức hành chính: Xây dựng kế hoạch đào tạo CBCNV-LĐ, nâng cao
tay nghề, kế hoạch BHLĐ và kế hoạch thực hiện các chế độ chính sách của nhà
nước và công ty; Giúp giám đốc sắp xếp tổ chức cán bộ quản lý, điều phối lao
động kịp thời phục vụ sxkd, rà soát các định mức kinh tế kỹ thuật điều chỉnh kịp
thời khi thấy có sự bất hợp lý; Cùng công đoàn cơ sở giúp giám đốc làm tốt công
tác thi đua, khen thưởng, tuyên truyền giáo dục, phổ biến các chế độ của Đảng và
nhà nước,...
5. Phòng kế hoạch cung ứng vật tư: Lập kế hoạch sx, kế hoạch vật tư thiết bị, men
màu nguyên vật liệu..., kế hoạch vận tải đảm bảo đủ nhu cầu sản xuất tháng, quý,
năm; Hợp đồng mua bán vật tư, nguyên liệu, sản phẩm, khai thác nguồn mua
nguyên nhiên vật liệu đảm bảo chất lượng giá cả phù hợp với thị trường cung ứng
theo yêu cầu của sản xuất kinh doanh.
Quan hệ trực tuyến
Quan hệ liên hệ
Hội đồng quản trị
Ban giám đốc
Ban kiểm soát
Phó GĐ kỹ thuật
Phó GĐ kinh doanh
Giám đốc
Phân xưởng sản xuất
Phân xưởng cơ điện
Phòng tổ chức h nh chínhà
lý, điều hành thực hiện nhiệm vụ giám đốc giao hàng tháng; Gia công, lắp đặt bảo
trì bảo dưỡng các thiết bị phục vụ sản xuất liên tục, ổn định và an toàn.
4/. Yếu tố lao động của công ty:
Lao động là một yếu tố quan trọng không thể thiếu trong quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Trong những năm qua, công ty đã không ngừng nỗ lực
nâng cao tay nghề và trẻ hóa đội ngũ lao động. Cơ cấu lao động của công ty được
thể hiện qua bảng sau:
Chỉ tiêu
2001 2002 2003 2004 2005
Slg Tỷ lệ Slg Tỷ lệ Slg Tỷ lệ Slg Tỷ lệ Slg Tỷ lệ
1.Tổng lao động 194 209 225 268 310
2.Theo giới tính
- Nam 166 85.57 175 83.73 180 80 210 78.36 241 77.74
- Nữ 28 14.43 41 19.62 45 20 58 21.64 69 22.26
3.Theo trình độ
- Đại học 15 7.732 18 8.612 21 9.333 26 9.701 40 12.9
- CĐ, TCấp 19 9.794 21 10.05 24 10.67 28 10.45 35 11.29
- CN kỹ thuật 116 59.79 138 66.03 145 64.44 193 72.01 214 69.03
- Khác 44 22.68 32 15.31 35 15.56 21 7.836 21 6.774
4.Theo công việc
- LĐ trực tiếp 166 85.57 174 83.25 178 79.11 222 82.84 244 78.71
- LĐ gián tiếp 28 14.43 35 16.75 42 18.67 46 17.16 48 15.48
5.Bậc thợ bình quân 1.58 1.58 1.58 1.58 1.65
6.Thu nhập bq
(đ/n/th)
950 1100 1250 1300 1500
7.Tuổi đời bq 36 35.5 35 34.5 33
Bảng 1: Cơ cấu lao động của công ty trong 5 năm 2001-2005
(Nguồn: Phòng tổ chức hành chính công ty CP gạch ốp lát Thái Bình)
Lao động của công ty có một số đặc điểm sau:
Biểu đồ trên cho thấy cổ phần của nhà nước trong công ty vẫn chiếm vai trò chủ
đạo, ảnh hưởng trực tiếp tới mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, việc cổ
phần hóa, bán cổ phần cho người lao động trong công ty đã phát huy tác dụng gắn
bó người lao động với công ty, là động lực cho việc nâng cao năng suất lao động.
Theo số liệu thống kê năm 2005, tổng số vốn kinh doanh của công ty là 120.675,16
triệu đồng. Trong đó:
Vốn cố định: 60.938,69 triệu đồng
Vốn lưu động: 59.736,47 triệu đồng
Ta tính được tỷ lệ cơ cấu vốn của công ty là:
50.49% vốn cố định
49.51% vốn lưu động
Theo ý kiến của ban lãnh đạo công ty thì cơ cấu này là hợp lý.
II/. ĐẶC ĐIỂM VỀ SẢN PHẨM, KHÁCH HÀNG VÀ CÔNG NGHỆ CỦA CÔNG TY CỔ
PHẦN GẠCH ỐP LÁT THÁI BÌNH:
1/. Đặc điểm về sản phẩm:
Đặc điểm của các sản phẩm gạch trên thị trường nói chung đều là những sản phẩm
lâu bền và được sản xuất hàng loạt phục vụ cho nhu cầu xây dựng cơ bản. Đây
cũng là những sản phẩm hàng hóa mua có lựa chọn và chịu ảnh hưởng của yếu tố
thời vụ (theo mùa xây dựng, thường tiêu thụ nhiều vào những tháng cuối năm).
Sản phẩm chính của công ty là gạch ốp tường và gạch lát nền với các kích cỡ chủ
yếu sau:
Gạch lát nền kích cỡ: 400-400
Gạch lát nền kích cỡ: 300-300
Gạch lát nền kích cỡ: 200-200
Gạch ốp tường kích cỡ: 200-250
Do được sản xuất trên dây chuyền hiện đại, nên các sản phẩm gạch của công ty có
độ bền, độ chịu lực và độ bóng cao. Từ khi thành lập đến nay sản phẩm của công ty
đã nhận được nhiều giải thưởng về chất lượng như: Giấy chứng nhận chất lượng
sản phẩm đạt tiêu chuẩn châu Âu EN 177, được tặng Cúp bạc chất lượng toàn quốc
(2002), đạt giải thưởng Sao vàng đất Việt (2003),...
Về trang thiết bị: Toàn bộ dây chuyền công nghệ, thiết bị sản xuất được nhập đồng
bộ, hiện đại nhất hiện nay của Italy và Tây Ban Nha, trình độ tự động hóa đạt 99%.
Toàn bộ chu trình đầu ra đầu vào được xử lý theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001-
2000 và phù hợp với các tiêu chuẩn Việt Nam.
Về bố trí mặt bằng nhà xưởng: mặt bằng nhà xưởng được bố trí phù hợp với đặc
điểm dây chuyền công nghệ, đảm bảo tiết kiệm diện tích và tiện lợi nhất.
Về môi trường: các chất thải (thể rắn, thể khí,...) độ ồn, bụi, độ rung, thông gió, ánh
sáng...được công ty chú ý quan tâm và hàng năm sở khoa học công nghệ và môi
trường tỉnh Thái Bình kiểm tra đều đạt chuẩn. Năm nào công ty cũng được cấp
giấy chứng nhận và bằng khen về công tác vệ sinh môi trường.
Về an toàn lao động: với dây chuyền công nghệ hiện đại, công nhân lao động được
đào tạo lành nghề, được trang bị các trang thiết bị bảo hộ lao động cần thiết nên rất
ít khi xảy ra tai nạn lao động. Minh chứng là trong hai năm 2004, 2005 công ty
không để xảy ra bất kỳ một vụ tai nạn lao động nào dù là nhỏ nhất.
Những ưu điểm nổi bật của công nghệ đang sử dụng:
- Năng suất lao động (cao hơn so với công nghệ nung 2 lần), giảm chi phí
nhân công, năng lượng, nhiên liệu.
- Chất lượng sản phẩm ổn định;
- Tiết kiệm được diện tích mặt bằng công nghệ và giảm được chi phí đầu tư
thiết bị sản xuất;
- Đảm bảo tốt điều kiện làm việc cho người lao động, ít gây ảnh hưởng xấu
đến môi trường.
Sơ đồ dây chuyền sản xuất và thuyết minh:
Dây chuyền sản xuất gồm 5 công đoạn được minh họa bằng mô hình dưới
đây:Chuẩn bị hồ
Chuẩn bị bột
ép v sà ấy đứng
Tráng men in hoa
Nung v phân loà ại
Nghiền men
tự động tháo dỡ ra đi vào dây chuyền tráng men-in hoa.
4. Công đoạn tráng men in hoa:
Tại dây chuyền tráng men, các thiết bị bố trí trên đây sẽ đảm bảo tráng một lớp
Engobe và một lớp men phủ phù hợp với công nghệ nung một lần. Việc trang trí
trên mặt gạch sẽ tùy theo yêu cầu của sản phẩm để in lưới từ 1-3 lần, tạo ra gạch
hoa có hoa văn 2-4 màu (kể cả màu nền).
Sau khi tráng men, gạch được tự động xếp vào các xe dự trữ để chuyển đến lò sấy
modul trước khi vào lò nung.
5. Công đoạn nung và phân loại:
Bố trí loại lò nung thanh lăn theo công nghệ nung một lần. Gạch từ các xe dự trữ
sau khi qua sấy modul để khống chế độ ẩm được tự động xếp lên băng tải dạng con
lăn vào lò nung, quá trình điều khiển và khống chế nhiệt độ nung được tự động hóa
hoàn toàn với chu kỳ nung từ 38-45 phút, nhiệt độ từ 1150-1180˚C tùy theo từng
loại sản phẩm.
Gạch ra khỏi lò nung sẽ đi vào dây chuyền phân loại. Tại đây gạch được tự động
phân loại bằng máy có 5 cửa ra, sau đó gạch được đóng vào hộp Caton và chuyển
vào kho chứa bằng xe nâng.
III/. TÌNH HÌNH SXKD CỦA CÔNG TY CP GẠCH ỐP LÁT THÁI BÌNH:
1/. Tình hình chung của thị trường gạch ốp lát:
Có thể thấy trong những năm qua, thu nhập bình quân đầu người tăng lên đáng kể.
Theo số liệu của tổng cục thống kê: thu nhập bình quân đầu người một năm trong
năm 1990 là 200USD, năm 2000 là 295USD, năm 2002 là 356,1USD thì tính đến
cuối năm 2005 con số này đã lên tới 640USD/ng/năm. Cùng với sự gia tăng của
thu nhập, chi cho đầu tư cho xây dựng cơ bản của người dân cũng tăng lên nhanh
chóng. Tổng mức đầu tư cho xây dựng năm 2005 khoảng 40.000 tỷ đồng, tăng gấp
1.09 lần so với năm 2004 (số liệu từ website bộ kế hoạch đầu tư). Nhu cầu về đầu
tư xây dựng tăng cao đã tác động trực tiếp tới sản lượng gạch tiêu thụ trên thị
trường. Tuy nhiên, một thực tế cho thấy là tốc độ tăng trưởng về sản lượng tiêu thụ
gạch trong những năm qua đã tăng không kịp với lượng gạch cung ứng trên thị
trường. Điều này đã vô hình chung làm cho tình hình cạnh tranh của thị trường gay
gạch chất lượng cao giá tương đương với các loại gạch cao cấp sản xuất trong
nước. Ngoài gạch Trung Quốc, thị trường Việt Nam còn có rất nhiều các sản phẩm
gạch cao cấp nhập từ các nước như: Tây Ban Nha, Italy, Ai Cập, Thái Lan,... Các
sản phẩm này xâm nhập vào thị trường Việt Nam thông qua các nhà phân phối lớn
tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh. Đối tượng mà những sản phẩm ngoại nhập
này hướng tới chính là các thành phố lớn, khu đô thị và những nơi dân cư có thu
nhập cao. Tuy nhiên giá cả của những sản phẩm này khá cao so với các loại gạch
sản xuất trong nước.
Thị trường gạch còn vấp phải một khó khăn khác chính là sự xuất hiện của các sản
phẩm thay thế trên thị trường. Hiện nay bên cạnh các loại gạch ốp lát truyền thống,
trên thị trường đã xuất hiện các sản phẩm nhựa ốp tường, mặt hàng này rất đa dạng
về chủng loại, kích cỡ và màu sắc đã và đang thu hút người tiêu dùng sử dụng
nhiều hơn, điều này đồng nghĩa với việc tụt giảm doanh số tiêu thụ chung của thị
trường gạch ốp lát. Đây cũng là một vấn đề mà các nhà sản xuất gạch nói chung
đang rất quan tâm.
2/. Vị trí của công ty trên thị trường:
Mới đi vào hoạt động được 9 năm (từ năm 1997), công ty cổ phần gạch ốp lát Thái
Bình vẫn còn là một doanh nghiệp trẻ trong thị trường sản xuất gạch ốp lát. Khi
mới đi vào sản xuất, sản phẩm gạch lát nền của công ty còn hoàn toàn xa lạ đối với
người tiêu dùng, họ chưa quen với sản phẩm của công ty nên chưa thực sự tin
dùng. Tuy nhiên với sự nỗ lực không ngừng của đội ngũ cán bộ công nhân viên từ
việc nâng cao chất lượng sản phẩm đến đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến, sản
phẩm gạch lát nền đã dần chiếm được lòng tin của người tiêu dùng. Sản phẩm mà
công ty sản xuất không những có chất lượng cao mà mẫu mã cũng rất đa dạng,
nhiều kích cỡ, màu sắc, không kém gì các sản phẩm nhập ngoại.
Ban đầu công ty mới chỉ sản xuất được gạch lát nền nhưng từ cuối năm 2000 công
ty đã đồng thời sản xuất gạch ốp tường. Chất lượng sản phẩm của công ty luôn đạt
và vượt tiêu chuẩn Châu Âu EN-177.
Công ty là doanh nghiệp nhà nước đầu tiên xây dựng và áp dụng thành công hệ
thống quản lý chất lượng theo tiêu chẩn Quốc tế ISO 9002-1994 từ năm 1998 do tổ