THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TIỂUTHỦ CÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN THẠCH THẤT TỈNH HÀ TÂY - Pdf 71

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TIỂUTHỦ CÔNG NGHIỆP
Ở HUYỆN THẠCH THẤT TỈNH HÀ TÂY
I. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA HUYỆN.
-Vị trí địa lý: Thạch Thất là một vùng bán sơn địa, nằm ở phía tây bắc tỉnh Hà
Tây. Với diện tích tự nhiên 119,5km
2
. Có toạ độ địa lý 20
o
58

23

-21
o
06

10

độ vĩ
bắc 105
o
27

54

-105
o
32

22


-Về tài nguyên:
+ diện tích đất tự nhiên của Huyện Thạch Thất 11948,84 ha trong đó đã khai thác
đưa vào sử dụng 10775,45 ha chiếm 90,18% quĩ đất, chử dụng 1173,39 ha bằng
9,82%.
+ Theo hệ thống phân loại đất Việt Nam vể thổ nhưỡng đất đai của huyện được
chia làm 4 nhóm chính.
- Nhóm đất phù sa: với diện tích 7.979 ha bằng 90,31%.
- Nhóm Feralit: với diện tích 138 ha chiếm 1,56%.
- Nhóm dốc tụ: diện tích 407 ha bằng 4,61%.
- Nhóm đất vàng đỏ trên đồi cao diện tích 311 ha bằng 3,52%.
Nhìn chung đất đai ở các vùng đồng bằng có độ phì nhiêu cao, với nhiều
loại địa hình nên có thể bố trí nhiều loại cây trồng.
+ Tổng quỹ đất của huyện phân bố không đều, các xã vùng đồi gò bán sơn địa dân
cư thưa, diện tích lớn, các xã vùng đồng bằng dân cư đông đúc, diện tích nhỏ. Bình
quân diện tích đất tự nhiên trên đầu người khoảng 0,09 ha. Đất nông nghiệp chiếm
65%, bình quân khẩu nông nghiệp 562m
2
/người. Đất lâm nghiệp có khoảng 905,06
ha thuộc loại rừng trồng. Đất chuyên dùng 2.070,81 ha chiếm 17,33% diện tích đất
tự nhiên.
+ Tài nguyên nước: Nước mặt chủ yếu ở các sông, suối trong nội huyện cung cấp
và sự điều tiết ở nơi khác đến bằng các hệ thống công trình thủy lợi như trạm bơm
tưới phù sa và hồ Đồng mô.
Nước ngầm ở vùng đồng bằng tương đối dồi dào và ở mức nông, vùng đồi gò chưa
có tài liệu khoan địa chất nhưng với giếng đào của dân khoảng 6-10m đã có nước.
+ Khoáng sản: Từ trước đến nay chưa có tài liệu nghiên cứu, đánh giá đầy đủ
nguồn khoáng sản trên địa bàn 20 xã của huyện, chỉ có phát hiện ra đất sét ở Minh
Nghĩa, Đại Đồng vào năm 1971 do đoàn địa chất 307 lập năm 1982.
+ Phân vùng sinh thái: Do đặc điểm tự nhiên về khí hậu, địa hình thổ nhưỡng,
thuỷ văn huyện Thạch Thất có thể phân ra hai vùng sinh thái:

- Tổng giá trị sản xuất 1995: 270,237 tỷ đồng, năm 1996: 294,43 tỷ đồng, năm
1997: 322,734 tỷ đồng. Tốc độ tăng bình quân 3 năm (1995-1997) là 8,2%.
Tổng giá trị tăng thêm (GDP) năm 1995 là 165,938 tỷ đồng, năm1996 là
184,907 tỷ đồng, năm 1997 là 194,773 tỷ đồng. Tốc độ tăng GDP bình quân
3 năm (1995-1997) là 7,2%, trong đó: nông nghiệp tăng 2,2%, công nghiệp,
thủ công nghiệp-xây dựng cơ bản tăng 12,5%, dịch vụ-du lịch tăng 13,4%.
- Huy động ngân sách từ GDP năm 1995 là 3,15%, năm 1996 là 3,3%, năm
1997 là 2,86%. GDP bình quân đầu người năm 1995 là 1,237 triệu đồng,
năm 1996 là 1,362 triệu đồng, năm 1997 là 1,419 triệu đồng, bình quân tăng
3 năm là 8,5%, bình quân lương thực đầu người năm 1995 là 357kg, năm
1996 là 333kg, năm 1997 là 320kg.
Trong 3 năm qua, mức tăng trưởng kinh tế ở mức trung bình, nhưng điểm
xuất phát trên 3 mặt chủ yếu là GDP bình quân đầu người, mức lương thực bình
quân và tỷ lệ huy động ngân sách do chưa có xuất khẩu nên có mức thu nhập thấp.
Tuy đời sống nhân dân có được cải thiện hơn song vẫn còn khó khăn.
a. Nông nghiệp:
Sản xuất nông nghiệp nhìn chung có những bước phát triển do được đầu tư
về cơ sở vật chất nên giá trị trồng trọt năm 1995, vụ xuân năm 1996, 1997 có bước
phát triển khá, năng xuất cao nhất từ trước tới nay (trên 50 tạ/ha/vụ). Nhưng vụ
mùa của 2 năm 1996-1997 do sâu bệnh và ngập úng nặng nên sản lượng lương
thực giảm. Chăn nuôi từng bước phát triển, cơ cấu ngành đã có bước chuyển dịch.
- Cây lương thực chiếm tỷ trọng cao về diện tích: 88,3%, ngô và cây rau màu khác
chiếm tỷ trọng rất thấp, cần đẩy mạnh cây vụ đông lên 62% diện tích lúa vụ mùa.
- Ngành chăn nuôi của huyện Thạch Thất cũng từng bước được phát triển, trong
cơ cấu ngành công nghiệp tỷ trọng ngành chăn nuôi có xu hướng tăng dần, nhưng
mức tăng vẫn còn chậm. Một số vật nuôi chu yếu: Đàn trâu năm 1997 tăng 5% so
với năm 1995, đàn bò tăng 14%, đàn lợn tăng 5,5% và gia cầm tăng gần 30% (năm
1997 so với năm 1995). Từng bước đã đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn
nuôi như bò lai sind, lợn hướng nạc…
Song việc áp dụng các tiến bộ khoa học còn chậm, chưa có hướng đầu tư

1.2. Lưu thông hàng hoá:
a. Thương mại dịch vụ: Trong những năm qua hoạt động dịch vụ ở các cụm
dân cư, ở trung tâm các xã, các thị trấn, các chợ trên địa bàn huyện phát triển
mạnh. Năm 1997 có khoảng 3.200 lao động tham gia vào ngành thương mại
dịch vụ và khoảng 2.700 lao động nông nghiệp kết hợp tham gia hoạt động
thương mại. Tổng giá trị sản xuất năm 1995 là 28.808 triệu đồng, năm 1997
là 38.251 triệu đồng, tốc độ tăng bình quân 3 năm là 16% đã đáp ứng được
nhu cầu phục vụ sản xuất và tiêu dùng.
b. Dịch vụ các ngành phi vật chất: Do nhu cầu ngày càng tăng nhanh về sản
xuất hàng hoá và đời sống nhân dân nên các dịch vụ về tài chính ngân hàng,
bưu điện, y tế, bảo hiểm,…ngày càng tăng. Giá trị sản xuất năm 1995 là
35.644 triệu đồng, chiếm 55,3% trong cơ cấu lưu thông, năm 1997 là 54.460
triệu đồng, chiếm 58,8% cơ cấu lưu thông dịch vụ. Đã đáp ứng được nhu cầu
phục vụ đời sống và quản lý Nhà Nước.
c. Du lịch: Huyện Thạch Thất thuộc cụm du lịch Sơn Tây-Thạch Thất-Quốc
Oai, có chùa Tây Phương, hồ Tân Xã, các đình, chùa, di tích lịch sử văn hoá,
các làng nghề truyền thống và các lễ hội truyền thống. Nhưng trong những
năm qua chưa được đầu tư xây dựng điểm tham quan du lịch, nên nền kinh
tế du lịch chưa được hình thành.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status