BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ NHƯ THẢO
ĐẶC ĐIỂM CÁCH SỬ DỤNG TỪ NGỮ
TRONG TRUYỆN NGẮN VÀ TẠP VĂN
CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGƠN NGỮ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ NHƯ THẢO
ĐẶC ĐIỂM CÁCH SỬ DỤNG TỪ NGỮ
TRONG TRUYỆN NGẮN VÀ TẠP VĂN
CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ
Chun ngành: Ngơn ngữ học
Mã số:
602201
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGƠN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS NGUYỄN THỊ HAI
NMCNNM
Ngày mai của những ngày mai.
NNTD
Ngôn ngữ toàn dân
Nxb
Nhà xuất bản
PNNB
Phương ngữ Nam Bộ
TN NNT
Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
TPHCM
Thành phố Hồ Chí Minh
tr
Trang
TV NNT
1.3.4. Vấn đề phương ngữ trong tác phẩm văn học ........................................................23
1.4. Các phương tiện của lời văn nghệ thuật .................................................................................... 25
1.4.1. Phương tiện tu từ. ...................................................................................................25
1.4.2. Biện pháp tu từ ........................................................................................................27
1.5. Ý nghĩa cực cấp trong tiếng Việt................................................................................................. 28
1.5.1. Hình thức thể hiện ý nghĩa “cực cấp” là một từ. ..................................................28
1.5.2. Hình thức biểu hiện ý nghĩa “cực cấp” là ngữ đoạn. ...........................................28
1.6.Trường từ vựng .............................................................................................................................. 29
1.7. Những vấn đề về phong cách....................................................................................................... 30
1.7.1. Phong cách ngôn ngữ văn chương ........................................................................30
1.7.2. Phong cách khẩu ngữ tự nhiên ..............................................................................30
1.8. Chuẩn phong cách......................................................................................................................... 31
1.8.1. Chuẩn phong cách chức năng ...............................................................................31
1.8.2. Chuẩn địa phương ..................................................................................................31
1.8.3. Chuẩn cá nhân ........................................................................................................32
1.8.4. Lệch chuẩn ..............................................................................................................32
1.9. Phong cách tác giả của ngôn ngữ văn chương.......................................................................... 33
Chương 2: KHẢO SÁT CÁCH SỬ DỤNG TỪ NGỮ CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN
NGỌC TƯ .......................................................................................................... 35
2.1. Phương ngữ Nam Bộ trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư ................................................... 35
2.1.1. Phương diện ngữ âm ..............................................................................................35
2.1.2. Phương diện từ vựng ngữ nghĩa ............................................................................38
2.2. Cách sử dụng từ láy trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư. .................................................... 63
2.3. Cách sử dụng từ ngữ biểu đạt ý nghĩa cực cấp. ....................................................................... 67
2.4. Cách sử dụng từ ngữ trong biện pháp tu từ của Nguyễn Ngọc Tư ...................................... 71
2.5. Đặc điểm tu từ của kết cấu ngữ pháp trong sáng tác Nguyễn Ngọc Tư. ............................. 81
MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Phong cách nghệ thuật của một nhà văn thể hiện ở sự tinh tế về kiến thức và
sáng tạo độc đáo của họ trong việc sử dụng ngơn ngữ văn chương. Dĩ nhiên, ngồi
chất liệu ngôn ngữ, đặc sắc của phong cách nghệ thuật còn biểu lộ ở việc nhà văn
chọn lựa đối tượng trong sáng tác, lựa chọn các hình ảnh có sức gợi tả, gợi tình trong
việc xây dựng hình tượng,… tạo cho tác phẩm của mình có một sức hấp dẫn đặc biệt,
thu hút mạnh người đọc. Song, chính vì ngơn ngữ là chất liệu để sáng tác, nên phong
cách của mỗi nhà văn trong cách mơ tả cảnh vật, trình bày sự kiện, trong việc phơ
diễn và khêu gợi tình ý,… đều ít nhiều biểu hiện ở việc sử dụng ngơn từ của họ. Do
đó ngơn ngữ văn chương cũng là một căn cứ quan trọng để ta khảo sát, khám phá
phong cách của nhà văn.
Bên cạnh đó, ai cũng biết rằng tiếng Việt là một thứ ngôn ngữ thống nhất
nhưng uyển chuyển với những sắc thái địa phương khác nhau. Có thể nói phương ngữ
có vai trị nhất định trong sáng tác văn chương, đó là ghi dấu ấn địa phương cho các
văn bản, làm nổi bật ngôn ngữ nhân vật, và góp phần làm phong phú cho ngơn ngữ
toàn dân. Khi xét mối quan hệ giữa phương ngữ với tác phẩm văn học, chúng ta
không chỉ xem xét phương ngữ để nhận thức, để biết được đặc điểm của nó mà cái
chính là phải quan sát nó đi vào ngôn ngữ văn học như thế nào để đạt hiệu quả nghệ
thuật cao.
Lịch sử văn học đã chỉ rõ một điều rằng khơng ít nhà văn thành cơng trong việc
sử dụng từ ngữ địa phương như: Hồ Biểu Chánh, Bửu Đình, Nguyển Cơng Hoan,
Nam Cao, Nguyễn Thi, Nguyễn Quang Sáng, Sơn Nam. Gần đây nhất, trong văn
chương Nam Bộ lại có Lý Lan, Dạ Ngân và nổi trội là Nguyễn Ngọc Tư.
Khi nói về thành cơng của Nguyễn Ngọc Tư, nhà văn Nguyễn Quang Sáng có
nhận xét: “Với giọng văn mộc mạc bình dị, với ngơn ngữ đời thường đã tạo nên một
khơng khí rất tự nhiên về màu sắc, hương vị của mảnh đất cuối cùng Tổ quốc - mũi
biệt nhấn mạnh tài năng sử dụng ngôn ngữ Nam Bộ của Nguyễn Ngọc Tư. Ơng có
những nhận xét rất sâu sắc về “nồng độ phương ngữ miền Nam” cũng như biệt tài sử
dụng nó trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư. Huỳnh Cơng Tín trong bài
“Nguyễn Ngọc Tư, nhà văn trẻ Nam Bộ” (Báo Văn Nghệ sông Cửu Long) đã chú ý
vào những không gian Nam Bộ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, và cho rằng “…
vùng đất và con người Nam Bộ trong các sáng tác của chị được dựng lại bằng chính
chất liệu của nó là ngơn từ và văn phong nhiều chất Nam Bộ của chị.” Ông cũng thừa
nhận khả năng miêu tả tâm lý người và miêu tả tâm lý vật hết sức sắc sảo của Nguyễn
Ngọc Tư, và khẳng định cái đáng quý cần phải phát huy ở tác giả trẻ này là “Chất
Nam Bộ trong sáng tác”. Trần Phỏng Điều với bài “Thị hiếu thẩm mỹ trong truyện
ngắn Nguyễn Ngọc Tư” ở mục “Phê bình” của trang web “E-văn” ngày 14/06/2006
cho rằng hình tượng người nghệ sĩ, hình tượng người nơng dân và hình tượng dịng
sơng là thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư; Nếu đánh mất đi vùng
thẫm mỹ này thì Nguyễn Ngọc Tư cũng làm mất đi rất nhiều giá trị thẫm mỹ trong tác
phẩm của mình. Thụy Kh trong “Khơng gian sơng nước trong truyện ngắn của
Nguyễn Ngọc Tư”, trên web “Viet-studies” thống nhất ý kiến với nhiều bạn đọc cho
rằng Nguyễn Ngọc Tư đã xây dựng được một không gian Nam Bộ với ruộng đồng
sông nước đặc sắc trong tác phẩm của mình, góp phần to lớn vào việc phục vụ cho ý
đồ nghệ thuật của tác giả. Còn Mai Hồng với bài “Thời gian huyền thoại trong truyện
ngắn “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư”, cũng trên web “Viet-studies”, đã
chỉ ra kiểu thời gian huyền thoại trong truyện ngắn “Cánh đồng bất tận”, đây là cái
nhìn mới lạ trong việc tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư. Bài “Hình tượng con
người cô đơn trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư” trên “Tạp Chí Văn nghệ quân
đội” của Phạm Thái Lê đã chỉ ra “mơtíp người nghệ sĩ cơ đơn” trong hành trình đơn
độc và vơ vọng để đi tìm cái Đẹp ở đời. Tác giả đã kết luận: “Cũng đề cập đến nỗi cô
đơn của con người nhưng chúng tôi nhận thấy quan niệm của Nguyễn Ngọc Tư rất
khác. Cô đơn luôn là nỗi đau, là bi kịch tinh thần lớn nhất của con người. Nhưng đọc
Nguyễn Ngọc Tư, chúng ta cảm nhận rất rõ niềm cô đơn mà không thấy sự bi quan
màu sắc địa phương của Nguyễn Ngọc Tư. Bài viết giúp người đọc có một cái nhìn
mới đầy thú vị về những sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư. Cùng năm 2009 có một luận
văn thạc sĩ của Nguyễn Bình Khang, với đề tài “Phương ngữ Nam Bộ trong các sáng
tác của Nguyễn Ngọc Tư”. Đây là đề tài chuyên biệt về ngôn ngữ trong các sáng tác
của Nguyễn Ngọc Tư. Tác giả này đã nêu lên được “Đặc điểm từ ngữ Nam Bộ trong
các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư trong giai đoạn đầu và sau”. Trên cơ sở phát hiện
những biến thể ngữ âm, từ vựng và từ ngữ địa phương Nam Bộ, Nguyễn Bình Khang
kết luận về “Đặc điểm phong cách ngôn ngữ Nguyễn Ngọc Tư”: giàu hình tượng và
giàu tính cụ thể, giàu tính biểu cảm với các thán từ và cách ngắt câu của âm điệu,
giàu tính cường điệu dí dỏm hài hước…
Tất cả những bài viết trên là nguồn tài liệu tham khảo quý giá giúp chúng tơi trong
q trình thực hiện đề tài của mình
3. ĐỐI TƯỢNG, MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đọc các tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư ta thấy tài nghệ của nhà văn này thể
hiện một cách tập trung ở việc sử dụng các phương tiện diễn đạt của phong cách khẩu
ngữ tự nhiên. Do đó luận văn đi sâu vào tìm hiểu cách sử dụng từ ngữ của Nguyễn
Ngọc Tư.
Bên cạnh đó, chúng tơi cịn tìm hiểu, khai thác một số ngữ liệu trong truyện
ngắn của Sơn Nam – nhà văn có ít nhiều nét tương đồng với Nguyễn Ngọc Tư, để so
sánh nhằm rút ra những đặc trưng trong cách sử dụng ngơn từ của Nguyễn Ngọc Tư.
3.2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khảo sát cách sử dụng từ ngữ của Nguyễn Ngọc Tư, chúng tôi
mong muốn phát hiện ra phong cách của nhà văn này.
3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm khuynh hướng ưa thích và sở trường sử dụng những loại phương tiện ngôn
ngữ của Nguyễn Ngọc Tư.
Bên cạnh đó chúng tơi cịn sử dụng các phương pháp nghiên cứu ngơn ngữ học
như phương pháp phân tích ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa.
Phối hợp tất cả các phương pháp trên chúng tôi sẽ xác định số lần lặp đi lặp lại
của một hiện tượng. Như Phan Ngọc đã nói “… một hiện tượng phải lặp đi lặp lại
đến một tần số nhất định mới được chú ý đến. Đó là vì phong cách là sự lặp đi lặp lại
của một chùm những nét khu biệt”. Những nét này muốn tạo thành phong cách không
được có tần số q thấp, bởi vì khi tần số thấp, nó sẽ khơng để lại trong óc người đọc
một ấn tượng nào cả. Một nhà văn khi xây dựng phong cách của mình, có những yếu
tố vay mượn và những yếu tố sáng tạo. Chỉ những yếu tố sáng tạo mới là đáng kể,
còn những yếu tố vay mượn là của vốn văn học chung, không thuộc phần đóng góp
của nhà văn. Trên cơ sở này chúng tơi sẽ khẳng định được những nét đặc trưng trong
cách sử dụng từ ngữ của Nguyễn Ngọc Tư.
5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Qua luận văn, trước hết trong khả năng giới hạn của mình, chúng tơi góp phần
giới thiệu rõ hơn những đặc điểm ngôn ngữ trong các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư.
Chúng tôi đã dụng công nghiên cứu để có thể bổ sung thêm một số nhận định xác
đáng và có giá trị bên cạnh những ý kiến đã có trước đây về vấn đề này. Từ đó, giải
thích vì sao Nguyễn Ngọc Tư được coi là nhà văn Nam Bộ. Thứ hai chúng tơi hy
vọng góp một phần nhỏ nào đó vào việc tìm hiểu PNNB để thấy được những mặt tích
cực của nó khi đi vào ngơn ngữ văn chương, góp phần làm giàu thêm cho cách diễn
đạt của người Việt. Cuối cùng như chúng ta thấy với hồn cảnh xã hội và văn hóa
hiện thời, việc tìm hiểu tiếng Việt và nghiên cứu văn học Việt Nam theo quan điểm
ngôn ngữ học hiện đại vẫn là điều bổ ích để hiểu được phong cách của nhà văn. Hy
vọng luận văn sẽ là nguồn tư liệu tham khảo, phục vụ cho việc nghiên cứu PNNB qua
sáng tác văn học nói riêng và phương ngữ trong ngơn ngữ văn học nói chung.
6. BỐ CỤC LUẬN VĂN
Với các tác phẩm sau: Lỡ mùa, Chiều vắng; Nửa mùa; Đau gì như thể…; Nước
chảy mây trôi.
6. Nguyễn Ngọc Tư (2007), Ngày mai của những ngày mai (tạp văn), Nxb Phụ Nữ.
7. Nguyễn Ngọc Tư (2008), Biển của mỗi người (tạp văn), Nxb Văn hóa Sài Gòn.
8. Nguyễn Ngọc Tư (2009), Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư, Nxb Trẻ.
9. Sơn Nam (2008), Hương rừng Cà Mau, Nxb Trẻ (850 trang đầu)
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Những vấn đề về ngôn ngữ
1.1.1. Ngôn ngữ tồn dân
Tiếng Việt chuẩn hóa được coi là ngơn ngữ chung (Tiếng Việt phổ thông) hay
NNTD phân biệt với ngôn ngữ được dùng ở các địa phương - thường gọi là phương
ngữ. NNTD với chức năng là công cụ giao tiếp giữa người với người, sử dụng các
phương tiện ngôn ngữ phải được thống nhất giữa mọi thành viên trong cộng đồng. Đó
là những ràng buộc hiển nhiên được cộng cồng ngôn ngữ thừa nhận và tuân theo
trong hoạt động ngơn ngữ. Đó chính là các chuẩn mực của ngơn ngữ . NNTD mang
tính chất chuẩn hóa và thống nhất, là một quá trình quan hệ mật thiết với sự phát triển
của xã hội. Đây là ngôn ngữ phổ biến, phạm vi sử dụng ở diện rộng. NNTD tồn tại
trong các dạng phương ngữ của nó. Khơng có một ngơn ngữ chung chung tách ra
khỏi các phương ngữ, nhất là trong tình hình đặc biệt của tiếng Việt: những khác biệt
chỉ là những khác biệt về sắc thái có mang tính quy luật rõ rệt. Vậy NNTD mang tính
chất chuẩn hóa và thống nhất. Đồng thời NNTD là một hệ thống mở, luôn sẵn sàng
tiếp nhận những yếu tố mới để làm giàu cho vốn từ tồn dân.
1.1.2. Tính chuẩn mực của ngôn ngữ.
Chuẩn ngôn ngữ như một tổng thể những khả năng diễn đạt phù hợp với cấu
trúc ngôn ngữ mà xã hội lựa chọn, đánh giá và chấp nhận. Có nhiều cách xây dựng
ngơn ngữ chuẩn, nhưng thơng thường nó được xây dựng trên một phương ngữ tiêu
phương thường mang sắc thái tu từ. Có thể thấy một số kiểu từ vựng địa phương như
sau:
a. Từ vựng địa phương khơng có sự đối lập với từ vựng tồn dân. Đó là những
từ ngữ biểu thị những sự vật, hiện tượng, những hoạt động, cách sống đặc biệt chỉ có
ở địa phương nào đó chứ khơng phổ biến với tồn dân, do đó khơng có từ song song
trong ngơn ngữ văn học tồn dân. Các nhà ngơn ngữ học gọi loại này là từ vựng địa
phương dân tộc học. Thí dụ: các từ sầu riêng, chơm chơm, măng cụt, chao… là các từ
địa phương dân tộc học biểu thị những sản vật chỉ có ở miền Nam Việt Nam.
b. Từ vựng địa phương có sự đối lập với từ vựng văn học toàn dân. Kiểu từ
vựng địa phương này có thể chia ra hai loại nhỏ căn cứ vào hai mặt ngữ âm và ngữ
nghĩa của chúng:
- Từ vựng địa phương đối lập về mặt ý nghĩa. Những từ này về ngữ âm giống
với từ tương ứng trong ngơn ngữ văn học tồn dân, ý nghĩa khác nhau. Thí dụ: ở Nam
Bộ và Trung Bộ từ “nón” bao hàm cả nghĩa là cái mũ, “chén” gồm nghĩa là cái bát ở
phương ngữ Bắc Bộ, “dù” có nghĩa là cái ơ, “hịm” có nghĩa là cái quan tài,…
- Từ vựng địa phương có sự đối lập về mặt ngữ âm. Thí dụ: các từ (cái) “vịm”,
(cái) “cà ràng”,… ở Nam Bộ (tương ứng với các từ cái liễn, cái bếp kiềng, trong ngơn
ngữ tồn dân) và các từ mơ, rào, chộ, ngái… ở Bắc Trung Bộ (tương ứng với các từ
“đâu”, “sơng”, “thấy”, “xa” trong ngơn ngữ tồn dân) là những từ địa phương khác
nhau hoàn toàn về ngữ âm. Các từ (con) gấy, nác, cáo, mự, tru, chúc mào… ở Nghệ
Tĩnh (tương ứng với các từ (con) gái, nước, gạo, mợ, trâu, chào mào trong ngơn ngữ
tồn dân) là những từ địa phương khác nhau bộ phận. Có nhiều từ địa phương phản
ánh quá khứ xa xưa của dân tộc. Có nhiều từ hiện nay là từ địa phương nhưng trước
đây là từ chung của toàn dân. Đã một thời các từ trốc “đầu”, con gấy “con gái”, cấu
“gạo”,… là các từ toàn dân. Với thời gian, những từ này chỉ được giữ lại ở một vùng
nào đó và trở thành các từ địa phương. Trường hợp từ “trốc” lùi vào tiếng địa phương
kể từ khi từ “đầu” (mượn của tiếng Hán) được sử rộng rãi trong cộng đồng. Còn các
từ “cấu”, “gấy”,… trở thành các từ địa phương là do q trình biến đổi và phát triển
Quan hệ giữa phương ngữ với ngôn ngữ cũng không phải là quan hệ giữa cái
cụ thể với cái trừu tượng. Nếu vậy thì phương ngữ là cái cụ thể, cịn ngơn ngữ là cái
trừu tượng? Khơng phải như vậy. NNTD cũng có mặt cụ thể, đó là những biểu hiện
của nó trong lời nói, trên chữ viết. Tất nhiên phương ngữ cũng có những biểu hiện cụ
thể. Cái trừu tượng của ngôn ngữ là cái bộ mã tạo nên tính hệ thống của nó, thì ngơn
ngữ tồn dân hay phương ngữ đều có cái bộ mã như vậy. Có điều hai bộ mã này rất
gần nhau, chỉ có những nét khác biệt nào đó mà thơi.
Đến đây, có thể định nghĩa: Phương ngữ là biến thể địa phương của NNTD [7;
tr 57]
1.2.3. Xu hướng phân vùng phương ngữ
Tiếng Việt có bao nhiêu vùng phương ngữ khác nhau, đây là vấn đề mà các
nhà nghiên cứu cũng chưa hoàn toàn thống nhất. Có nhiều ý kiến khác nhau, cụ thể
như sau: Hồng Thị Châu, Võ Xuân Trang, Trần Thị Ngọc Lang và nhiều tác giả
khác chia tiếng Việt theo ba vùng phương ngữ: Phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung,
phương ngữ Nam. Có ý kiến chia tiếng Việt thành hai vùng phương ngữ: tiếng miền
Bắc và tiếng miền Nam (Hoàng Phê). Nguyễn Kim Thản thì chia tiếng Việt thành
bốn vùng phương ngữ: phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung Bắc, phương ngữ Trung
Nam và phương ngữ Nam. Nguyễn Bạt Tụy, Huỳnh Cơng Tín chia tiếng Việt thành
năm vùng phương ngữ: phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung trên, phương ngữ Trung
dưới, phương ngữ Trung giữa và phương ngữ Nam.
Các ý kiến, quan điểm trên đều lấy trước hết ngữ âm là tiêu chí chính để phân
chia các vùng phương ngữ. Nếu lấy thêm tiêu chí từ vựng – ngữ nghĩa, ngữ pháp thì
cũng chỉ dừng ở những vùng phương ngữ lớn mà thơi. Đó là phương ngữ Bắc,
phương ngữ Trung, phương ngữ Nam.
1.2.4. Xác định vùng phương ngữ Nam Bộ
Hoàng Phê cho rằng tiếng Việt ở khu vực địa lí từ Thuận Hải trở vào là tiếng
theo ý kiến của Huỳnh Cơng Tín)
1.2.5.1. Đặc điểm của PNNB trên bình diện ngữ âm
Trên bình diện ngữ âm, sự khác biệt ngữ âm học giữa PNNB (tiếng Sài Gòn)
và tiếng Việt chuẩn, phương ngữ Bắc Bộ (tiếng Hà Nội), phương ngữ Trung Bộ diễn
ra trên các thành phần của âm tiết, phụ âm đầu, thanh điệu, phần vần. Có thể nêu một
số hiện tượng sai biệt đáng lưu ý sau
Với thành phần phụ âm đầu, có hiện tượng sai biệt như hiện tượng không phát
âm được các âm quặt lưỡi: /ʂ-/ hay phụ âm môi – răng: /v-/, phụ âm đầu lưỡi: /z-/.
Cách phát âm của phần lớn người Nam Bộ như sau (Những sự đối chiếu này được
ghi nhận từ cách phát âm của người Hà Nội và người Sài Gòn):
/ ʂ / thành
/v-/, /z-/
[s-].
thành [j-].
Chữ Quốc ngữ: “s” thành “x”
Chữ quốc ngữ: “v”, “d, gi” thành “d”
Thành phần âm đệm /-w-/ trong PNNB khơng có. Với khuôn vần [-wa:-], chữ
viết ghi “-oa”, người đồng bằng sông Cửu Long có khuynh hướng phát âm thành [-ɔ:], chữ viết ghi “o”. Người lớn tuổi phát âm khơng cịn âm đệm, thành [-a:-], chữ viết
ghi “a”; với khuôn vần [-wɤ-], chữ viết ghi [“-uâ-”], người đồng bằng sông Cửu Long
có khuynh hướng phát âm thành [-ɯ-], chữ viết ghi “ư”. Sự kết hợp giữa âm đệm với
hai phụ âm đầu: thanh hầu /h-/ hoặc gốc lưỡi /k-/ đều được hát âm thành một âm xát,
hữu thanh, môi [w-].
Ở các khn vần, cũng có những sự khác biệt ngữ âm học đáng lưu ý như: sự
chuyển đổi nguyên âm /-e-/ thành /-i-/ trong hầu hết các khuôn vần [-Ə:ɲ], [-e:m], và
[-e:p] chữ viết ghi “-ênh”, “-êm” và “-êp”, chẳng hạn:
Chữ viết
(ngăn nắp)
[ŋan:1 nap:5]
[ŋaŋ:1 nap:5]
Có hiện tượng phát âm chuyển đổi khuôn vần [-Ɯ:w] hay [-Ɯɤw] thành [-Ʊw]
trong PNNB.
Người đồng bằng Nam Bộ phát âm không phân biệt trường độ của chính âm /a/ trong các khn vần có âm là bán nguyên âm. Tất cả đều được thể hiện ở dạng dài,
chẳng hạn:
Chữ viết
Tiếng Hà Nội
Tiếng Sài Gòn
(bàn tay)
[ba:n2 taj:1]
[ba:ŋ2 taj:1]
(ngăn nắp)
[ŋan:1 nap:5]
[ŋaŋ:1 nap:5]
Tiếng Hà Nội
Tiếng Sài Gịn
(nghĩ ngợi)
[ŋi:4] [ŋɤ:j6]
[ŋij3] [ŋɤ:j6]
Có ý kiến cho rằng, các hiện tượng khác biệt trong phát âm của người đồng
bằng Nam Bộ xuất phát “từ việc thiên về khuynh hướng chọn sự dễ dãi, thoải mái
trong phát âm. Các bộ phận tham gia vào tiến trình phát âm không phải xê dịch
nhiều. Chẳng hạn một số động tác khó như mơi hóa, yết hầu…”. Lại có người lí giải
vấn đề đơn giản hóa này như một sự phù hợp về tính cách của người Nam Bộ, mà
tính cách này là do điều kiện của vùng đất mới góp phần tạo nên [53; tr 49].
1.2.5.2. Đặc điểm của PNNB trên bình diện từ vựng – ngữ nghĩa
Xét vốn từ ngữ Nam Bộ, thì rõ ràng có một số khác biệt so với tiếng Việt tồn
dân. Có thể tóm tắt ở một số điểm cơ bản như sau [54; tr 49]
• PNNB cịn giữ lại một lớp từ cổ của tiếng Việt mà phương ngữ Bắc Bộ, tiếng
Việt chuẩn khơng cịn sử dụng. Ví dụ: “mẩng (mừng), ngộ (dễ nhìn), coi (xem), cậy
(nhờ), méc (mách), hun (hơn), thơ (thư), nhơn (nhân)…”
• Người dân vùng Đồng bằng Sơng Cửu Long sử dụng một số từ ngữ vay mượn
từ các dân tộc sống chung như Khơme, Hoa: “cà rá, cà ràng, cà ròn, xà rong, lục, thốt
nốt, len trâu, bị hóc, đi ênh…; chế, hia, tía, số dách, chào chấu quẩy, xập xám, bạc
xỉu, miệt, mai, báo…” trong quá trình giao tiếp.
Tiếng Việt của người Việt, người Nam Bộ có q trình tiếp xúc khá lâu dài với
gọi “họ hàng” như: “cậu, mợ, dì, dượng,..” được dùng trong gia đình và cả trong làng
xóm; Cách xưng gọi giữa những người trong gia đình có tính tới quan hệ thứ bậc,
nhưng chừng mực và khơng nặng nghi thức… Nói chung cách xưng gọi này được
nhìn nhận có sự thân tình, mộc mạc, chân chất.
b. Hiện tượng nói lái.
Nói lái là hiện tượng diễn đạt phổ biến, quen thuộc trong diễn đạt, nhận thức
của người Nam Bộ. Hiện tượng này tạo nên sự liên tưởng thú vị, hài hước, thể hiện
lối lạc quan yêu đời theo cách của người Nam Bộ. Ví dụ: nói “lộng kiếng” trang trọng
nhưng được hiểu “liệng cống”, trẻ rủ nhau “đi tắm” ngang qua nhà nhau, nói lái:
“đâm tí đi! đâm tí đi!”
1.2.5.4. Đặc điểm của PNNB trên bình diện phong cách diễn đạt
Ngơn từ của người Nam Bộ phản ánh lối tư duy của họ. Đó là một lối tư duy
phóng khống, nặng tình nghĩa, nhưng khơng nặng quy tắc, khn luật. Có thể khái
qt một số đặc trưng chung về phương ngữ của vùng như sau.
a. Một phong cách diễn đạt giàu hình ảnh, giàu yếu tố cụ thể. Cách diễn đạt
khơng bóng mượt, nhưng dễ tiếp nhận do lối liên tưởng, so sánh dễ hiểu. Chẳng hạn,
từ chuyện “thèm cơm” bất ngờ nhìn “em vợ”, anh chàng “máu gái” có sự liên tưởng
“hết ý”. Lối so sánh đầy tính hình tượng, cịn sự so sánh nào hơn:
“Trưa trưa thấy đói thèm cơm,
Ngó đùi em vợ tưởng tơm kho tàu.”
(Ca dao)
Sự liên tưởng có thể “q lạ”, nhưng hồn tồn khơng “vơ nghĩa lí”. Hình ảnh
được so sánh tạo ở người nghe sự hài hước thú vị, chấp nhận được.
b. Phong cách diễn đạt rất giàu sắc thái biểu cảm và nhiều chất hài.
Chất hài của Nam Bộ khác với chất hài của Bắc Bộ, không phải là do năng lực
tư duy, mà do sở thích “bơng đùa” muốn cho cuộc sống bớt căng thẳng. Nghe nói,
một người giả dạng thầy tu đã đến “tụng kinh” cho người chết ở một gia đình. Đầu
hơm, “thầy” tụng thì là kinh thật, về khuya chỉ cịn mình “thầy” và “góa phụ”, “thầy”
ra chuồng” dễ đập vào mắt người xem hơn phải dõi mắt mà nhìn con kiến “leo ra, leo