Báo cáo nghiên cứu khoa học: "Cách sử dụng thành ngữ trong lời thoại nhân vật qua tiểu thuyết của Tô Hoài" pot - Pdf 19

trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 4b-2009 29

Cách sử dụng THàNH NGữ trong LờI THOạI NHÂN VậT
QUA TIểU THUYếT CủA TÔ HOàI

Nguyễn Thị Bích Hạnh
(a)Tóm tắt.
Mỗi nhà văn, trong hành trình sáng tạo nghệ thuật đều chọn cho mình
một hệ thống ngôn ngữ và tổ chức chúng theo cách riêng để chuyển tải nội dung tác
phẩm có hiệu quả. Với Tô Hoài, qua những tiểu thuyết viết về đề tài Hà Nội, chúng ta
thấy nhà văn sử dụng rất thành công thành ngữ vào lời thoại nhân vật. ở bài viết
này, chúng tôi đi vào tìm hiểu cách sử dụng thành ngữ trong lời thoại nhân vật qua
tiểu thuyết của Tô Hoài.

1. Đặt vấn đề
Thành ngữ là một phơng tiện đắc
dụng của tiếng Việt. Thành ngữ đợc
dùng trong giao tiếp, trong ngôn ngữ
văn chơng, trong ngôn ngữ chính luận,
báo chí Sở dĩ thành ngữ đợc a dùng
nh vậy là do chính khả năng vợt trội
của nó. Trớc hết, thành ngữ là một đơn

chúng tôi so sánh), có thể thấy tần số
xuất hiện thành ngữ trong lời thoại
nhân vật của Tô Hoài chiếm tỉ lệ khá
cao (xem bảng):

Tác phẩm Tác giả
Số
trang

Số lợt thành ngữ

trong lời thoại
nhân vật
Tỉ lệ
tính trên trang
văn bản
Quê ngời Tô Hoài 293 37 0,13
Mời năm Tô Hoài 320 72 0,23
Những ngõ phố Tô Hoài 286 27 0,09
Quê nhà Tô Hoài 290 90 0,31
Bố mìn mẹ mìn Tô Hoài 271 55 0,20
Kẻ cớp bến Bỏi Tô Hoài 190 59 0,31
Thời xa vắng Lê Lựu 344 13 0,04
Mùa lá rụng trong vờn

Ma Văn Kháng

359 22 0,06

Nhận bài ngày 23/10/2009. Sửa chữa xong 18/11/2009.

đặc biệt quan trọng trong lời ăn tiếng
nói của nhân vật.
2.2. Cách sử dụng thành ngữ vào lời
thoại nhân vật của Tô Hoài
Qua t liệu khảo sát, chúng tôi thấy
Tô Hoài khi đa thành ngữ vào lời thoại
thờng chủ yếu thông qua hai phơng
thức chính sau: phơng thức thứ nhất
là sử dụng trực tiếp thành ngữ vào lời
thoại, tức giữ nguyên dạng cấu trúc
những thành ngữ vốn có của dân gian
để đa vào lời thoại; phơng thức thứ
hai là vận dụng sáng tạo, linh hoạt tạo
ra những biến thể thành ngữ, tức cấu
trúc thành ngữ có sự biến đổi so với
thành ngữ gốc. Cách đa thành ngữ vào
kết cấu lời thoại cũng đợc nhà văn xử
lý hết sức tài tình, nhuần nhuyễn: đa
từng thành ngữ một vào lời thoại và
đa hai hay nhiều thành ngữ vào lời
thoại nhân vật.
2.2.1. Cấu trúc thành ngữ trong lời
thoại nhân vật qua tiểu thuyết của Tô
Hoài
2.2.1.1. Tiểu dẫn
Trong lời thoại, thành ngữ ở dạng
nguyên thể có 223 thành ngữ với 279
lợt xuất hiện (chiếm 81,3%). Trong đó,
thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng là 133
thành ngữ với 165 lợt sử dụng (chiếm

Việt mà Tô Hoài đã sử dụng thành hai
loại lớn: thành ngữ so sánh và thành
ngữ ẩn dụ hóa.
a. Thành ngữ so sánh
Quan hệ so sánh là một trong
những kiểu quan hệ thờng đợc dùng
trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 4b-2009 31

trong cả thành ngữ, tục ngữ, ca dao,
phản ánh lối nói thiên về ví von so sánh
của ngời Việt. Theo Đinh Trọng Lạc,
so sánh là phơng thức diễn đạt tu từ
khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật
khác miễn là giữa hai sự vật có một nét
tơng đồng nào đó, để gợi ra hình ảnh
cụ thể, những cảm xúc thẩm mỹ trong
nhận thức của ngời đọc, ngời nghe"
[tr. 189]. Thành ngữ so sánh là một tổ
hợp từ bền vững, bắt nguồn từ phép so
sánh, với nghĩa biểu trng, kiểu đẹp
nh tiên sa; hiền nh Bụt; dối nh
Cuội Nói một cách khái quát, trong
phép so sánh, việc so sánh sự vật A với
sự vật B chỉ thực hiện đợc khi căn cứ

thành ngữ so sánh để phù hợp với ngữ
cảnh, để cần nhấn mạnh vế so sánh hay
vế đợc so sánh
Nhìn vào cấu trúc của thành ngữ so
sánh, ta thấy có 2 loại: thành ngữ so
sánh giản lợc (nh B) và thành ngữ so
sánh đủ cả hai vế (t nh B).
Thành ngữ so sánh giản lợc gồm 3
đơn vị trên tổng số 38 thành ngữ so
sánh đợc Tô Hoài đa vào lời thoại:
Nh cháy nhà, nh tàu lá héo, nh lửa.
ở thành ngữ có cấu trúc này, trung tâm
nghĩa nằm ở B để biểu thị thuộc tính
của A. Còn A là thành tố bên ngoài
thuộc lời nhân vật đa vào.
(1)- Bọn quan triều ngày càng hèn
đớn, không ra thể thống gì nữa. Sang
nghị bàn với Tây, nó chỉ đập bàn một
cái, mặt quan nào cũng úa ra nh tàu
lá héo ( ) [Quê nhà, tr. 144].
Thành ngữ so sánh nh tàu lá héo
trong lời ngời nói đã giúp ngời nghe
hình dung đợc vẻ mặt héo hon, tàn tạ,
sợ sệt của đám quan triều trớc bọn
Tây.
Thành ngữ so sánh đủ hai vế gồm
35 thành ngữ với 36 lợt sử dụng đợc
đa vào lời thoại nhân vật.
(2)- Anh này sao mà thật nh đếm.
Chả trách cái Ngát nó xỏ mũi ( ) [Quê

những nhân vật điển hình trong những
truyện cổ tích yêu thích của ngời Việt;
hình tợng bèo, đinh đóng cột là những
hình tợng quen thuộc trong đời sống
dân dã hàng ngày của làng mạc Việt
Nam truyền thống. Nh vậy, những từ
ngữ biểu thị cái so sánh (B) ở đây rất
gần gũi quen thuộc trong đời sống tinh
thần, vật chất của ngời Việt. Qua vế B
của thành ngữ so sánh, chúng ta có thể
thấy bóng dáng của cách nhìn, cách
nghĩ, thấy đợc dấu ấn của đời sống vật
chất, tinh thần của dân tộc đợc phản
ánh trong ngôn ngữ. Và cũng chính vì
thế, thành ngữ so sánh trở nên gần gũi,
quen thuộc, dễ đi vào lời nói hàng ngày
của con ngời.
b. Thành ngữ ẩn dụ hóa
Bên cạnh việc sử dụng thành ngữ so
sánh, Tô Hoài còn a sử dụng thành
ngữ ẩn dụ hóa vào lời thoại nhân vật.
Trong thành ngữ ẩn dụ, có loại thành
ngữ ẩn dụ hóa đối xứng và thành ngữ
ẩn dụ phi đối xứng. Trong tiểu thuyết
của Tô Hoài, thành ngữ ẩn dụ phi đối
xứng rất ít xuất hiện, chỉ có 2 phiếu t
liệu nên chúng tôi không đề cập đến
dạng này.
Thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng đợc
Tô Hoài sử dụng nhiều nhất. Và trong

ma dại, sống khôn chết thiêng.
Nhờ sử dụng thành ngữ đối mà các
ý trở nên cân xứng, hài hòa về âm
thanh, tạo đợc ấn tợng trong lòng
ngời nghe và gợi nhiều liên tởng.
2.2.1.3. Sử dụng thành ngữ biến thể
Về mặt lý thuyết, thành ngữ là một
cấu trúc chặt chẽ, cố định. Vì vậy, nó
thờng tồn tại ở dạng chuẩn, mang tính
xã hội cao. Tuy nhiên, sự bền vững của
thành ngữ không phải là bất biến,
không phải là những khối từ đông cứng.
Trong quá trình hành chức, nó có khả
năng biến đổi ít nhiều về mặt cấu trúc
cũng nh ngữ nghĩa tùy thuộc vào mục
đích sử dụng, tài năng của nhà văn.
Thành ngữ biến thể không chỉ thể hiện
một cách cụ thể, chi tiết, hình tợng
những điều ngời nói, ngời viết muốn
thể hiện mà quan trọng hơn nó tạo nên
những sắc thái riêng biệt trong phong
trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 4b-2009 33

cách ngôn ngữ của tác giả. Điều này

Thành ngữ nguyên thể tiền vào nhà
khó nh gió vào nhà trống đi vào lời
thoại nhân vật đã biến thể thành gió
vào nhà trống. Mặc dù vậy tính chỉnh
thể của thành ngữ vẫn không bị mất đi.
Ngời nghe vẫn lĩnh hội đầy đủ, rõ ràng
giá trị ngữ nghĩa của thành ngữ.
Các thành ngữ không phải dạng đối
thì cách tĩnh lợc thờng là giữ lại một
vài yếu tố chính sao cho vẫn đảm bảo
đợc tính chỉnh thể giữa cái biểu đạt và
cái đợc biểu đạt.
(7)- Không đợc nói cuội! ( ) [Bố
mìn mẹ mìn, tr. 203].
Từ thành ngữ nguyên thể nói dối
nh Cuội, Tô Hoài đã tạo ra các biến
thể thành ngữ nói cuội trong lời thoại
nhân vật. Tuy nhiên các yếu tố bớt đi
chỉ làm thay đổi cấu trúc vốn có của
thành ngữ mà không làm thay đổi ngữ
nghĩa của nó. Hay nói cách khác, ngời
ta vẫn hiểu hết ý nghĩa của thành ngữ
nhờ sự liên hệ với thành ngữ gốc.
Dạng biến thể là thêm (hay còn gọi
là chêm xen) một số yếu tố vào cấu trúc
nội tại của thành ngữ.

đây, tất cả các
yếu tố gốc đợc giữ nguyên vị trí và
theo nguyên tắc chêm xen thì chỉ ở vị

chuyện làm quà.
Mặc dù sử dụng dạng biến thể này
không nhiều nhng là một bằng chứng
N. T. B. Hạnh Cách sử dụng thành ngữ trong lời thoại nhân , tr. 29-39 34

sinh động cho sự vận dụng tài tình, linh
hoạt của Tô Hoài đối với kho tàng
thành ngữ tiếng Việt vào trong lời thoại
nhân vật.
b. Thay thế một hoặc một số từ ngữ
trong thành ngữ
Đây là dạng cấu trúc mà khi đi vào
lời thoại nhân vật các yếu tố trong
thành ngữ gốc đợc thay thế bằng một
hoặc một số từ ngữ khác. Dạng cấu trúc
này chỉ có giá trị lâm thời trong một
ngữ cảnh nhất định.
Để nhấn mạnh, khẳng định một ý
hay làm nổi bật trạng thái, hình ảnh,
tính chất của sự việc, sự vật, con
ngời đợc đề cập đến trong lời thoại,
Tô Hoài thay thế một từ trong thành
ngữ. Trong thành ngữ so sánh, để nhấn
mạnh ý nghĩa nào đó của cái so sánh A,

vận hạn trong nhà mấy năm nay đấy
thôi. Nhà ta thì nghèo; anh mày thì đi
làm xa đồng đất nớc ngời; con em
mày ăn cớp công mẹ, bầm không muốn
nói đến nữa. Bây giờ có mỗi mình mày ở
với bầm. Cửa nhà vắng vẻ. Không phải
là kén, nhng bầm phải suy kỹ. Chỉ sợ
lấy phải chỗ cành cao cành thấp, nó về
lại ỏe họe nhà mình [Quê ngời, tr. 71].
Trong lời nhân vật bà Vạng, Tô
Hoài đa vào hai thành ngữ nguyên
dạng: đồng đất nớc ngời, cành cao
cành thấp. Bên cạnh đó nhà văn còn sử
dụng thành ngữ biến thể: ăn cớp công
mẹ bằng cách thay đổi một số từ trong
thành ngữ gốc: cớp công cha mẹ. Nhờ
sử dụng biến thể ấy mới phù hợp với lời
nói của nhân vật về gia cảnh của mình:
chồng bà Vạng mất sớm, bà ở vậy nuôi
con, đứa con gái còn trẻ xấu số cũng bỏ
bà mà đi, không báo đáp đợc công ơn
của mẹ.
Đặc biệt, có trờng hợp thay thế từ
ngữ trong thành ngữ gốc đã tạo ra một
biến thể thành ngữ mang nghĩa khác
với thành ngữ gốc.
Chúng ta xem xét cách dùng thành
ngữ của Tô Hoài trong tiểu thuyết Bố
mìn mẹ mìn:
(13)- Không bận đến cái lông chân,

kiêng nể, sợ sệt, không dám động chạm
đến. Nhng hai biến thể còn lại thì
nghĩa lại có sự chuyển dịch. Biến thể
không bận đến cái lông chân mang
nghĩa không phải làm việc gì dù nhỏ
nhất, không phải động tay động chân
mà vẫn hái ra tiền. Còn biến thể
không suy chuyển một cái lông chân,
tức là vẫn nguyên vẹn, không mất mát
bất cứ cái gì. Nh vậy, chỉ cần thay đổi
một vài từ so với thành ngữ gốc, Tô
Hoài cũng có khả năng mang đến cho
thành ngữ biến thể chuyển tải một nội
dung ngữ nghĩa khác nhau. Đó là biểu
hiện tài năng của Tô Hoài trong việc
đánh thức tiềm năng biểu đạt của ngôn
ngữ nói chung, thành ngữ nói riêng.
Thay thế một hoặc một vài số từ
ngữ của thành ngữ trong lời thoại nhân
vật để tạo ra những biến thể là một
sáng tạo của Tô Hoài. Vốn ngôn ngữ
dân tộc đợc nhà văn khai thác tài tình.
Trong những cái tởng nh quen thuộc
nhất Tô Hoài đã đem đến cho thành
ngữ những cách biểu đạt mới. Thay thế
một số từ ngữ trong thành ngữ để tạo ra
những biến thể thành ngữ có nội dung
tơng đồng hay khác biệt cũng là một
cách Tô Hoài để cho nhân vật của mình
biểu đạt nội dung trong lời nói một cách

phổ biến. Hình ảnh có mặt trong biến
thể đó phải là những hình ảnh giàu ý
nghĩa và nó chứa đựng nội dung, ý
nghĩa chính của thành ngữ gốc.
(16)- Các quan bên mình thì trăm
ngời cũng nh một con cáy, cả lũ ăn
hại, chẳng dám làm trò trống gì ( )
[Quê nhà, tr. 57].
Trong lời thoại, từ gợi hình ảnh
trong thành ngữ đợc tác giả dùng theo
lối ẩn dụ là con cáy. Đây là một thành
tố vốn có của thành ngữ nhát nh cáy.
Nh vậy, dù thành ngữ không xuất
hiện trên bề mặt song qua từ cáy chúng
ta cũng có thể tái hiện đợc thành ngữ
gốc. Bởi vì hình ảnh con cáy gợi cho ta
liên tởng tới những con ngời luôn sợ
N. T. B. Hạnh Cách sử dụng thành ngữ trong lời thoại nhân , tr. 29-39 36

sệt, nhút nhát, chẳng dám làm trò
trống gì và đó cũng là lớp nghĩa của
thành ngữ nhát nh cáy. Để cho ngời
đọc có thể liên tởng đợc đễ dàng hơn,
ta phải đặt vào ngữ cảnh khi từ ngữ gợi

dụng thành ngữ linh hoạt, tài tình của
nhà văn để đa đến cho thành ngữ một
sức sống mới, một vẻ đẹp mới. Những
thành ngữ đợc sử dụng dới dạng này
trong lời thoại cũng tạo cho ngời nghe
những liên tởng rộng hơn, thích thú
hơn và đầy ấn tợng hơn bởi vì dấu ấn
thành ngữ chỉ phảng phất trong lời
thoại chứ không hiện hữu đầy đủ rõ
ràng nh sử dụng thành ngữ nguyên
thể. Đây cũng là lối nói a thích của
ngời Việt Nam: thích ví von, so sánh,
thích sự kín đáo ý nhị nói vòng, nhất
là trong những tình huống nh bày tỏ
tình cảm hay phê phán Tuy nhiên, để
có thể nhận diện đợc kiểu biến thể
thành ngữ này trong lời thoại thì ngời
nghe phải có một vốn thành ngữ nhất
định để quy chiếu so sánh thì mới nhận
ra đợc.
2.2.2. Cách sử dụng thành ngữ vào
kết cấu lời thoại nhân vật qua tiểu
thuyết của Tô Hoài
Khảo sát 287 cặp thoại, chúng tôi
thấy có 15 lời thoại có 2 thành ngữ
(chiếm 5,2%), 5 lời thoại có 3 thành ngữ
(chiếm 1,7%), 1 lời thoại có 4 thành ngữ
(chiếm 0,35%), 1 lời thoại có 6 thành
ngữ (chiếm 0,35%), 265 lời thoại chỉ có 1
thành ngữ (chiếm 92,3%). Qua đó, ta

37

nhấn mạnh vào dụng ý mà ngời nói
muốn chuyển tải đến ngời nghe.
Thành ngữ đứng đầu lời thoại làm
nhiệm vụ dẫn thoại để đi đến các mục
đích khác khác nhau trong ý đồ của
ngời nói: nhận xét, đánh giá; hỏi, can
ngăn, cầu khiến Nhờ sự xuất hiện
thành ngữ đầu lời thoại làm dẫn thoại
mà vấn đề đợc ngời nói đề cập đến trở
nên tự nhiên, có hình ảnh và sâu sắc,
dễ đi vào lòng ngời.
Dẫn thoại để đi đến một nhận xét,
đánh giá nào đó:
(19)- Già không trót đời, rún với rẩy,
trông giơ cả mắt! [Quê ngời, tr. 25].
Dẫn thoại để đi đến một sự bác bỏ,
phản đối:
(20)- Rối nh canh hẹ, yên hàn thế
nào [Quê nhà, tr. 241].
Dẫn thoại để đi đến lời can ngăn
một hành động của ai đó:
(21)- Hàng cơm quán trọ, chớ có
trống mồm ông ơi! [Quê nhà, tr. 22].
Thành ngữ ở ví dụ trên làm
nhiệm vụ mở đầu lời thoại để ngời nói
dẫn đến sự can ngăn, ngăn cản, khuyên
can.
Dẫn thoại để đi đến lời hỏi:

(27)- Phải, phải, bạc của nó cũng là
bạc ăn cắp của chủ hiệu, của thiên trả
địa [Kẻ cớp bến Bỏi, tr. 36].
Khi đặt các thành ngữ ở vị trí cuối
lời thoại, Tô Hoài thờng đặt tách ra
thành một vế. Vì vậy, những nội dung
mà nhân vật cần nhấn mạnh bao giờ
cũng hiện ra rất nổi bật, ngời nghe dễ
dàng nắm đợc quan điểm, dụng ý của
ngời nói. Trong những trờng hợp ấy,
thành ngữ trở thành câu kết luận của
lời thoại, đọng lại, khái quát lại nội
dung, tinh thần của lời ngời nói.
Tuy nhiên, vị trí xuất hiện phổ biến
nhất của thành ngữ trong lời thoại
nhân vật là ở giữa câu.

đây, Tô Hoài
thờng hòa quyện các thành ngữ vào lời
thoại để tạo ra cách nói tự nhiên, thu
hút ngời nghe vào nội dung lời thoại
với các điểm nhấn là thành ngữ sử
dụng.
(28)- Đêm nó đào tờng khoét ngạch
ngày



bán


của Tô Hoài.

đây, thành ngữ đi vào
lời nhân vật hết sức tự nhiên, gần gũi
vừa có giá trị tạo tiêu điểm ngữ nghĩa
cho phát ngôn của nhân vật.
2.2.2.2. Liên kết hai hay nhiều
thành ngữ vào lời thoại
Qua khảo sát, chúng ta thấy trong
lời thoại nhân vật việc liên kết hai hay
nhiều thành ngữ lại với nhau tuy không
nhiều so với việc dùng thành ngữ điểm
vào từng câu nhng nó vẫn chiếm tỉ lệ
tơng đối.

đây, ta bắt gặp hai trờng
hợp: liên kết hai hay nhiều thành ngữ
vào trong một câu và liên kết hai hay
nhiều thành ngữ nối tiếp nhau trong
một lời thoại. Việc đa nhiều thành ngữ
vào một câu trong lời thoại nhân vật
vừa tạo đợc sự ngắn gọn, hàm súc cho
lời nói. Để nhấn mạnh một vấn đề nào
đó, Tô Hoài thờng liên kết nhiều
thành ngữ với nhau dựa vào quan hệ
đồng nghĩa hoặc cùng trờng nghĩa.
(30)- Em lo trớc cho chị một đồng
bạc. Rồi còn phải đút lót tôi nhiều nữa
cơ. Không phải tôi ăn cớp cơm chim,
bóp hầu bóp cổ các cô đâu ( ) [Bố mìn

có nhớn cha có khôn. Nhà thì vừa việc
ruộng, vờn vừa canh cửi, đằng nào
cũng phải có ngời chạy chợ, ngời hồ
cháo. Việc trong nhà không nh việc
đồng còn mùa bận mùa nhàn, lúc nào
cũng tối mặt tối mày. Từ khi thằng cả
nó đi việc nớc với bố nó, khung cửi
đành để trống đấy. Buổi đực buổi cái,
nhà đã neo càng neo. Mà trời còn làm
tao loạn thế này [Quê nhà, tr. 90].
Trong lời tâm sự, nỗi lo lắng trăn
trở của bà Xuất đợc cụ thể hóa trong
từng thành ngữ, từ một lũ cháu nhỏ dại
- có nhớn cha có khôn, đến công việc
làm ăn vất vả - mùa bận mùa nhàn, tối
mặt tối mày, buổi đực buổi cái.
Nh vậy, liên kết hai hay nhiều
thành ngữ vào lời thoại nhân vật là một
cách sử dụng ngôn ngữ đặc sắc của Tô
Hoài. Nó chứng tỏ một vốn ngôn ngữ
phong phú và khả năng vận dụng vốn
ngôn ngữ nói chung, thành ngữ nói
riêng một cách linh hoạt, tài tình, biết
đặt đúng lúc, đúng chỗ trong lời nhân
vật để nó phát huy sức mạnh biểu đạt
vốn có của nó.
trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 4b-2009


Nguồn t liệu trích dẫn
[I] Tô Hoài, Quê ngời (1941), NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2003.
[II] Tô Hoài, Mời năm (1957), NXB Văn học, Hà Nội, 2007.
[III] Tô Hoài, Những ngõ phố (1977), NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2007.
[IV] Tô Hoài, Quê nhà (1978), NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2007.
[V] Tô Hoài, Bố mìn mẹ mìn (1990), NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2007.
[VI] Tô Hoài, Kẻ cớp bến Bỏi (1996), NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2007.

Summary

The ways of using idioms in characters conversations
in To Hoais novels In the way of creating art, each writer chooses his own language system and
organises it in a typical way to convey the content of his work effectively. In To
Hoai's novels about Ha Noi, we can see his success in using idioms in characters'
conversations. In this article, we studied the ways of using idioms in characters'
conversations in To Hoai's novels.

(a)
Cao học 15, chuyên ngành Ngôn ngữ, trờng đại học vinh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status