Nguyễn Anh Thư Luận văn tốt nghiệp Đại học
Chương 1
Những vấn đề lý luận cơ bản về tài sản cố định trong các doanh
nghiệp
1.1.Tài sản cố định
1.1.1. Khái niệm về tài sản cố định
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải có
đủ những yếu tố: lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động. trong đó
tài sản cố định là bộ phận tư liệu lao động quan trọng nhất. Theo quy định
trong chế độ tài chính kế toán hiện hành, một tư liệu lao động được coi là tài
sản cố định phải thoả mãn đồng thời 2 tiêu chuẩn cơ bản sau:
- Thứ nhất: phải có thời gian sử dụng tối thiểu là 1 năm.
- Thứ hai: phải có giá trị thấp nhất là 5 triệu đồng.
Những tư liệu lao động không đủ cả 2 tiêu chuẩn trên chỉ được coi là công cụ
lao động nhỏ và được mua sắm bằng nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp.
1.1.2. Đặc điểm của tài sản cố định
Một tư liệu lao động được coi là tài sản cố định có các đặc điểm chung
sau:
- Tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và chỉ khi nào hết thời
gian sử dụng hoặc không còn có lợi về mặt kinh tế thì mới phải thay thế đổi
mới.
- Trong quá trình hoạt động tài sản cố định sẽ bị hao mòn dần. Giá trị hao
mòn được chuyển dịch dần từng phần vào giá trị sản phẩm sản xuất ra. Bộ
phận giá trị chuyển dịch này được coi là một yếu tố chi phí sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp và được bù đắp khi doanh nghiệp tiêu thụ được sản
phẩm.
- Tài sản cố định hâù như không thay đổi hình thái vật chất bên ngoài và
đặc tính sử dụng ban đầu trong quá trình tồn tại và hoạt động.
Trang 1
Nguyễn Anh Thư Luận văn tốt nghiệp Đại học
+ Chi phí mua bằng phát minh sáng chế
+ Chi phí nghiên cứu phát triển
+ Chi phí về lợi thế thương mại
+ Tài sản cố định vô hình khác (quyền đặc nhượng, giá trị lợi thế thương
mại...)
Cách phân loại này giúp cho các nhà quản trị thấy được kết cấu tài sản cố
định trong doanh nghiệp, từ đó đánh giá tình hình, lựa chọn các quyết định
đầu tư hay điều chỉnh cơ cấu đầu tư sao cho phù hợp và hiệu quả nhất. Mặt
khác, cách phân loại này tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý và tính khấu
hao tài sản cố định.
1.1.3.2. Phân loại tài sản cố định theo tình hình sử dụng
Theo tiêu thức này, tài sản cố định có thể chia thành 3 loại:
* Tài sản cố định đang dùng
Là những tài sản cố định dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc
các hoạt động phúc lợi, sự nghiệp... của doanh nghiệp.
* Tài sản cố định chưa cần dùng
Là những tài sản cố định cần thiết và có thể sử dụng cho hoạt động sản
xuất kinh doanh hay các hoạt động khác của doanh nghiệp, song hiện tại chưa
cần dùng và đang được bảo quản để sử dụng sau này.
* Tài sản cố định không cần dùng chờ thanh lý
Là những tài sản cố định không cần thiết hay không còn sử
dụng được, cần phải thanh lý, nhượng bán để thu hồi vốn đầu tư.
Trang 3
Nguyễn Anh Thư Luận văn tốt nghiệp Đại học
Dựa vào cách phân loại này, người quản lý nắm được tổng quát tình hình
sử dụng và mức độ có hiệu quả tài sản cố định của doanh nghiệp, từ đó đưa ra
các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định (như sử dụng tối đa
các tài sản cố định hiện có, giải phóng nhanh các tài sản cố định không cần
dùng chờ thanh lý...)
1.1.3.3. Phân loại tài sản cố định theo công dụng kinh tế
Dựa vào tính chất sở hữu, có thể chia tài sản cố định thành các nhóm: tài
sản cố định tự có và tài sản cố định đi thuê.
* Tài sản cố định tự có (hay còn gọi là tài sản cố định thuộc sở hữu
doanh nghiệp)
Là tài sản cố định được xây dựng, mua sắm và hình thành bằng nguồn
vốn ngân sách cấp hoặc cấp trên cấp (DNNN), nguồn vốn vay, nguồn vốn liên
doanh (doanh nghiệp liên doanh), các quỹ của doanh nghiệp và các tài sản cố
định được biếu tặng.
Đây là những tài sản cố định của doanh nghiệp và được phản ánh trên
bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp.
* Tài sản cố định thuê ngoài
Là những tài sản cố định đi thuê để sử dụng trong một thời gian nhất
định theo hợp đồng đã ký kết.
Tuỳ theo điều khoản của hợp đồng thuê tài sản cố định mà tài sản cố
định được chia thành:
- Tài sản cố định thuê tài chính
Là những tài sản cố định mà doanh nghiệp thuê của công ty cho thuê tài
chính, nếu hợp đồng thuê thoả mãn ít nhất 1 trong 4 điều kiện sau (quy định
tại NG 64/CP ngày 9/10/1995 của chính phủ)
+ Nội dung hợp đồng có quy định: Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo
hợp đồng, bên đi thuê quyền lựa chọn mua tài sản thuê theo giá danh nghĩa
thấp hơn giá trị thực tế của tài sản thuê tại thời điểm mua lại.
Trang 5
Nguyễn Anh Thư Luận văn tốt nghiệp Đại học
+ Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được quyền
chuyển quyền sở hữu tài sản thuê hoặc được tiếp tục thuê theo sự thoả thuận
của hai bên.
+ Thời hạn cho thuê một loại tài sản cố định, quy định tại hợp đồng thuê,
ít nhất phải bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao hết tài sản cố định thuê.
+ Tổng số tiền thuê một loại tài sản, quy định tại hợp đồng thuê ít nhất
đầu của tài sản cố định trong quá trình hoạt động và sau đó không còn sử
dụng được nữa. Để khôi phục lại giá trị sử dụng của tài sản cố định, phải tiến
hành sửa chữa, thay thế các bộ phận, chi tiết.
Về mặt giá trị, cùng với sự giảm dần về giá trị của tài sản cố định là
quá trình chuyển dịch dần phần giá trị hao mòn đó vào giá trị sản phẩm sản
xuất ra. Đối với tài sản cố định vô hình, hao mòn hữu hình chỉ thể hiện ở sự
hao mòn về mặt giá trị.
Có hai nguyên nhân chính dẫn tới hao mòn hữu hình tài sản cố định là:
- Thứ nhất là do việc sử dụng tài sản cố định gây ra. Tài sản cố định
qua một thời gian sử dụng sẽ lạc hậu, cũ kỹ và hư hỏng.
- Thứ hai là do tác động của môi trường tự nhiên. Cho dù tài sản cố
định không được sử dụng nhưng vẫn bị hao mòn và hư hỏng dần, biến đổi
hình thái vật chất bên ngoài, suy giảm cả về giá trị sử dụng (công suất...) và
giá trị. Các nhân tố đó bao gồm: nhiệt độ, độ ẩm, mưa gió...
Mức độ hao mòn tài sản cố định phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Thời gian sử dụng tài sản cố định: tài sản cố định càng được sử dụng
lâu bao nhiêu thì càng cũ kỹ và bị hao mòn bấy nhiêu. Càng về cuối thời gian
sử dụng kỹ thuật, mức độ hao mòn càng lớn.
- Cường độ sử dụng tài sản cố định: Mỗi loại tài sản cố định đều có giới
hạn kỹ thuật về cường độ sử dụng để đảm bảo khả năng phục vụ lâu dài của
tài sản cố định. Có nghĩa là trong một đơn vị thời gian nhất định, tài sản cố
định chỉ có thể hoạt động tối đa là bao nhiêu, cứ cách bao lâu tài sản cố định
Trang 7
Nguyễn Anh Thư Luận văn tốt nghiệp Đại học
lại phải được nghỉ, được bảo dưỡng duy tu... Sử dụng có hiệu quả tài sản cố
định không đồng nghĩa với việc tăng cường độ sử dụng tài sản cố định tối đa.
Khai thác triệt để tài sản cố định là sử dụng hết công suất thiết kế tài sản cố
định trong cường độ giới hạn cho phép.
- Chất lượng của tài sản cố định: chất lượng tài sản cố định do các yếu
tố như nguyên vật liệu chế tạo, trình độ công nghệ, trình độ kỹ thuật...quyết
giá một cách tương đối sau khi mua hoặc mất gía hoàn toàn do sự phát triển
của khoa học kỹ thuật và công nghệ. Biện pháp hiệu quả nhất để khắc phục
hao mòn vô hình là doanh nghiệp phải theo sát sự tiến bộ của khoa học kỹ
thuật và công nghệ, ứng dụng kịp thời những thành tựu đó vào sản xuất.
Muốn vậy, doanh nghiệp phải xây dựng một kế hoạch khấu hao linh
hoạt đi cùng tốc độ phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ. Điều này hết
sức có ý nghĩa trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp trên thị
trường.
1.2.2. Khấu hao tài sản cố định
1.2.2.1. Khái niệm về khấu hao tài sản cố định
Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, tài sản cố
định bị hao mòn dần và hư hỏng.
Để thu hồi phần giá trị hao mòn đó, nhằm tái đầu tư tài sản cố định,
doanh nghiệp phải chuyển dần phần giá trị hao mòn đó vào giá trị sản phẩm
sản xuất trong kỳ theo các phương pháp thích hợp. Đó là khấu hao tài sản cố
định.
Phần giá trị hao mòn chuyển dịch dần vào giá trị sản phẩm được coi là
một yếu tố của chi phí sản xuất kinh doanh. Nó biểu hiện dưới hình thái tiền
tệ, gọi là tiền khấu hao tài sản cố định. Sau khi sản phẩm hàng hoá được tiêu
thụ, một số tiền được rút ra từ tiền thu bán hàng (tương ứng với số trích khấu
hao) tích luỹ lại hình thành quỹ khấu hao tài sản cố định của doanh nghiệp,
khi chưa tới thời hạn tái sản xuất tài sản cố định.
Trang 9
Nguyễn Anh Thư Luận văn tốt nghiệp Đại học
Mục đích của khấu hao tài sản cố định: Dưới góc độ tài chính, khấu hao
tài sản cố định là phương thức thu hồi vốn cố định của doanh nghiệp. Thực
hiện khấu hao tài sản cố định nhằm thu hồi giá trị đầu tư tài sản cố định, tạo
nguồn tài chính quan trọng để tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng
tài sản cố định.Trong thực tiễn, khi chưa có nhu cầu đầu tư mua sắm tài sản
cố định, các doanh nghiệp cũng có thể sử dụng linh hoạt quỹ này cho các mục
Nguyên giá bao gồm giá mua thực tế phải trả ghi trên hoá đơn chứng từ
trừ đi các khoản giảm giá chiết khấu (nếu có), cộng với các khoản lãi tiền vay
đầu tư tài sản cố định khi chưa đưa vào sử dụng và các chi phí vận chuyển,
lắp đặt, chạy thử, thuế, lệ phí trước bạ (nếu có).
+ Loại tài sản cố định đầu tư xây dựng:
Nguyên giá tài sản cố định bao gồm giá mua thực tế của công trình đã quyết
toán, cộng với các chi phí có liên quan và lệ phí trước bạ (nếu có).
+ Loại tài sản cố định được điều chuyển đến:
Đối với loại tài sản cố định này, nguyên giá của tài sản cố định được
xác định bằng giá trị còn lại trên sổ sách kế toán hoặc theo giá trị đánh giá của
hội đồng giao nhận; cộng với chi phí khác như chi phí vận chuyển, bốc dỡ,
lắp đặt, chạy thử, lệ phí trước bạ (nếu có) mà bên nhận tài sản cố định phải chi
ra trước khi đưa tài sản cố định vào sử dụng.
+ Loại tài sản cố định nhận góp vốn liên doanh:
Nguyên giá của tài sản cố định là giá trị theo đánh giá của hội đồng giao nhận,
cộng với các chi phí khác như chi phí tân trang tài sản cố định, chi phí vận
chuyển, bốc dỡ, lắp đặt... mà bên nhận phải chi ra trước khi đưa vào sử dụng.
+...
- Đối với tài sản cố định vô hình
+ Chi phí sử dụng đất: chi phí đền bù giải phóng mặt bằng, san
lấp mặt bằng, lệ phí trước bạ (nếu có).
Trang 11
Nguyễn Anh Thư Luận văn tốt nghiệp Đại học
+ Chi phí thành lập doanh nghiệp: bao gồm chi phí nghiên cứu,
thăm dò, xây dựng dự án thành lập doanh nghiệp, chi phí thẩm định dự án.
+ Chi phí nghiên cứu phát triển: chi phí thănm dò xây dựng các
kế hoạch đầu tư dài hạn.
+ Chi phí về bằng phát minh sáng chế, mua bản quyền tác giả,
chi phí nhận chuyển giao công nghệ.
+ Chi phí về lợi thế thương mại...
* Giá trị còn lại của tài sản cố định ở thời điểm đầu năm trích khấu hao.
Giá trị còn lại của tài sản cố định ở thời điểm đầu năm trích khấu hao
bằng nguyên giá của tài sản cố định trừ đi mức khấu hao luỹ kế của tài sản cố
định đó.
Nếu ta gọi
NG: Nguyên giá của tài sản cố định
NG
ni:
Giá trị còn lại của tài sản cố định ở thời điểm đầu năm thứ i
MK
i:
Mức khấu hao luỹ kế của tài sản cố định đến đầu năm thứ i
Thì ta có công thức NG
ni
= NG
- MK
i
* Tỷ lệ khấu hao của tài sản cố định
Bước 1: Xác định tỷ lệ khấu hao như phương pháp tuyến tính
Gọi K là tỷ lệ khấu hao tuyến tính
T là số năm sử dụng định mức của tài sản cố định
Thì
100
1
x
T
K =
Bước 2: Điều chỉnh tỷ lệ khấu hao gốc theo hệ số điều chỉnh
- Nếu thời gian sử dụng tài sản cố định dưới 5 năm thì hệ số điều chỉnh là
- Khi kết thúc thời gian sử dụng, tài sản cố định vẫn chưa thu hồi được
toàn bộ vốn ban đầu đã bỏ ra để đầu tư tài sản cố định, vì vậy phải điều chỉnh
mức khấu hao ở năm cuối cùng.
- Việc tính toán mức khấu hao và tỷ lệ khấu hao hàng năm phức tạp hơn
phương pháp khấu hao tuyến tính.
c, Phương pháp khấu hao theo tỷ lệ giảm dần
Cơ sở của phương pháp này là nguyên giá của tài sản cố định và tỷ lệ
khấu hao của tài sản cố định được áp dụng cho năm trích khấu hao.
* Yếu tố nguyên giá của tài sản cố định được xác định như 2 phương
pháp trên.
Trang 14
Nguyễn Anh Thư Luận văn tốt nghiệp Đại học
* Yếu tố tỷ lệ khấu hao được xác định như sau:
nếu gọi N : Tổng các số tự nhiên của thời hạn sử dụng tài sản cố định
N
ni
: Số năm sử dụng tài sản cố định còn lại ở năm thứ i
TK
ni
: Tỷ lệ khấu hao tài sản cố định ở năm thứ i
Ta có
100x
N
N
TK
ni
ni
=
Có thể thấy: tỷ lệ khấu hao sẽ giảm dần qua các năm
Sau khi xác định được 2 yếu tố nói trên, ta có thể xác định dược mức
Tài sản cố định là bộ phận chủ yếu của tư liệu lao động, có ảnh hưởng to
lớn đối với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Để xem xét hiệu
quả sử dụng tài sản cố định, người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
1.3.1. Hệ số sử dụng tài sản cố định
Phản ánh mối quan hệ giữa tài sản cố định thực tế đã sử dụng với tổng tài
sản cố định hiện có của doanh nghiệp.
1.3.2. Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
Phản ánh mối quan hệ về công suất thực tế sử dụng và công suất theo
thiết kế của tài sản cố định trong kỳ. Sử dụng hết công suất thiết kế của tài sản
cố định là doanh nghiệp đã tận dụng toàn bộ khả năng phục vụ của tài sản cố
định, tránh lãng phí tài sản cố định.
1.3.3. Hệ số phục vụ của tài sản cố định
Thể hiện mối quan hệ giữa kết quả đạt được trong quá trình sản xuất kinh
doanh và tổng vốn cố định đã đầu tư.
1.3.4. Hệ số lợi nhuận của tài sản cố định
Biểu hiện mối quan hệ giữa lợi nhuận ti được và tổng nguyên giá tài sản
cố định hiện có bình quân trong kỳ.
Trang 16
Tổng nguyên giá TSCĐ thực tế bình quân sử dụng trong kỳ
Hệ số sử dụng TSCĐ =
Tổng nguyên giá TSCĐ bình quân hiện có trong kỳ
Tổng công suất TSCĐ thực tế bình quân sử dụng trong kỳ
Hiệu suất sử dụng TSCĐ =
Tổng công suất TSCĐ theo thiết kế bình quân trong kỳ
Tổng doanh thu thực hiện trong kỳ
Hệ số phục vụ TSCĐ =
Tổng nguyên giá TSCĐ sử dụng bình quân trong kỳ
Nguyễn Anh Thư Luận văn tốt nghiệp Đại học
Chỉ tiêu này phản ánh trong một thời kỳ nhất định, cứ 1 đồng nguyên
giá tài sản cố định đã đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Hệ số trang bị kỹ thuật phản ánh một công nhân sản xuất bình quân
được trang bị bao nhiêu đồng các phương tiện kỹ thuật (nguyên giá hoặc giá
trị còn lại). Hệ số trang bị kỹ thuật cho công nhân càng cao chứng tỏ tình hình
trang bị trực tiếp cho công nhân càng cao va ngược lại.
Sự khác biệt của hai chỉ tiêu là ở giá trị tài sản cố định. Giá trị tài sản
cố định ở chỉ tiêu “hệ số trang bị chung tài sản cố định” bao gồm toàn bộ tài
sản cố định dùng trong sản xuất của doanh nghiệp, cả nhà xưởng, vật kiến
trúc, máy móc thiết bị... còn giá trị tài sản cố định ở chỉ tiêu “hệ số trang bị kỹ
thuật” chỉ gồm các phương tiện kỹ thuật trực tiếp sử dụng trong sản xuất kinh
doanh. Do đó, hệ số trang bị kỹ thuật luôn luôn chỏ hơn hệ số trang bị chung.
Tuy nhiên, xu hướng chung là tốc độ tăng của hệ số trang bị kỹ thuật
phải nhanh hơn của hệ số trang bị chung. Có như vậy xí nghiệp mới thực sự
tăng được năng lực sản xuất, tạo điều kiện tăng năng suất lao động, vì đó là
biểu hiện của việc đầu tư cho máy móc thiết bị trực tiếp tham gia sản xuất
kinh doanh.
1.4.2. Các chỉ tiêu đánh giá tình trạng kỹ thuật của tài sản cố định
Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, tài sản cố
định bị hao mòn dần. Càng hoạt động lâu, tài sản cố định càng cũ đi và số hao
mòn càng lớn.
Đánh giá tình trạng kỹ thuật của tài sản cố định thực chất là xem xét
mức độ hao mòn tài sản cố định, lấy đó làm cơ sở để tìm hiểu giá trị sử dụng
còn lại của tài sản cố định, mức độ bảo toàn công năng, khả năng phục vụ của
tài sản cố định.
Công thức tính hệ số hao mòn tài sản cố định:
Trang 18
Số đã trích khâú hao TSCĐ
Hệ số hao mòn TSCĐ = x 100
Nguyên giá của TSCĐ
Nguyễn Anh Thư Luận văn tốt nghiệp Đại học
Hệ số hao mòn tài sản cố định được xác định bằng số %. Hệ số này
ra bao nhiêu đồng giá trị sản lượng. Chỉ tiêu này càng tăng chứng tỏ chất
lượng công tác quản lý, sản phẩm tài sản cố định càng tiến bộ và ngược lại.
Trong đó:
“Giá trị sản lượng trong kỳ” có thể được thay bằng “giá trị sản lượng
thuần tuý định mức”.
Đại lượng “tài sản cố định bình quân” có thể sử dụng “nguyên giá tài
sản cố định bình quân” hoặc “giá trị còn lại của tài sản cố định bình quân”.
Sử dụng phương pháp số chênh lệch, ta có thể tính được ảnh hưởng của
hiệu suất sử dụng tài sản cố định đến khối lượng sản phẩm.
Chỉ tiêu này tương đương với chỉ tiêu “hệ số phục vụ của tài sản cố
định” thường được sử dụng trong doanh nghiệp thương mại.
b, Hệ số lợi nhuận của tài sản cố định
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng tài sản cố định sử dụng bình quân
trong 1 kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lưọi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao và khi so
sánh gưữa các kỳ tốc độ tăng của chỉ tiêu càng lớn thì chứng tỏ doanh nghiệp
làm ăn có hiệu quả và ngược lại.
1.4.4. Các chỉ tiêu đánh giá tình hình sử dụng máy móc thiết bị
1.4.4.1. Các chỉ tiêu đánh giá tình hình sử dụng số lượng máy móc thiết
bị sản xuất
Tuỳ theo mức độ tham gia vào sản xuất, máy móc thiết bị được chia
thành:
Trang 20
Tổng lợi nhuận thực hiện trong kỳ
Hệ số lợi nhuận của TSCĐ =
Tổng nguyên giá TSCĐ sử dụng bình quân trong kỳ
Nguyễn Anh Thư Luận văn tốt nghiệp Đại học
- Máy móc thiết bị hiện có: là tất cả nưững máy móc thiết bị được ghi vào
danh mục tài sản cố định của xí nghiệp, không kể tình trạng của máy móc
thiết bị đó.
- Máy móc thiết bị đã lắp: là những máy móc thiết bị đã lắp tại nơi làm việc
* Tỷ lệ sử dụng số máy móc thiết bị hiện có:
Chỉ tiêu này phản ánh tình hình sử dụng máy móc thiết bị hiện có, cả số
máy móc thiết bị hiện có của xí nghiệp và tình hình sử dụng thực tế số máy
móc thiết bị này thông qua số máy móc thiết bị hiện làm việc bình quân.
Phân tích tình hình sử dụng số lượng máy móc thiết bị là xem xét,
đánh giá sự biến động các chỉ tiêu phản ánh tình hình lắp đặt và sử dụng số
máy móc thiết bị hiện có, nhằm thấy được mức độ huy động máy móc thiết bị
vào sản xuất và một phần hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị (tỷ lệ máy móc
thiết bị làm việc trong tổng số máy móc thiết bị hiện có). Từ đó chỉ ra nguyên
nhân để có những biện pháp tích cực khai thác khả năng tiềm tàng về năng
lực của máy móc thiết bị.
1.4.4.2. Các chỉ tiêu đánh giá tình hình sử dụng thời giam làm việc của
máy móc thiết bị sản xuất
Ngoài việc sử dụng tốt máy móc thiết bị thì sử dụng tốt thời gian làm
việc của máy móc thiết bị cũng là một vấn đề rất quan trọng, có ý nghĩa to lớn
trong việc gia tăng khối lượng sản phẩm, giảm chi phí, giảm giá thành sản
phẩm. Điều này càng đặc biệt có ý nghĩa trong điều kiện vốn đầu tư hạn hẹp,
số lượng tài sản cố định hạn chế và việc tăng thời gian sử dụng máy móc thiết
bị giúp giảm tương đối một số loại chi phí.
Các chỉ tiêu thường sử dụng:
* Hệ số giữa giờ máy làm việc theo chế độ và giờ máy làm việc theo lịch
Trang 22
Số MMTB hiện l m vià ệc bình quân
Tỷ lệ sử dụng số MMTB hiện có = x 100
Số MMTB hiện có bình quân
Hệ số giữa giờ máy l m vià ệc theo chế độ Tổng số giờ máy l m vià ệc theo chế độ
=
v già ờ máy l m vià ệc theo lịch Tổng số giờ máy l m vià ệc theo lịch
Nguyễn Anh Thư Luận văn tốt nghiệp Đại học
* Hệ số sử dụng thời gian làm việc theo chế độ
Hệ số này phản ánh tình hình tăng ca để làm thêm giờ, tăng thời gian
làm việc của máy móc thiết bị. Bởi vì thời gian nghỉ vào ngày lễ và chủ nhật
là cố định cho nên nếu xí nghiệp tăng ca thì thời gian làm việc theo chế độ và
giờ máy làm việc theo lịch cũng tăng theo. Đây cũng là một biện pháp giảm
hao mòn vô hình trong điều kiện khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển
không ngừng.
* Hệ số sử dụng thời gian chế độ:
Hệ số này phản ánh tình tận dụng quỹ thời gian chế độ. Nếu chỉ tiêu
này tăng do xí nghiệp giảm thời gian ngừng máy (giảm T4) vì thiếu điện,
thiếu nguyên vật liệu, máy hỏng... thì được đánh giá là tích cực, nhưng nếu
tăng do xí nghiệp tận dụng thời gian làm việc theo chế độ (tăngT3) bằng cách
bố trí thêm ca kíp vào ngày lễ, chủ nhật thì được đánh giá là không tốt. Nếu
chỉ tiêu này giảm chứng tỏ thời gian ngừng máy tăng. Đó là biểu hiện không
tốt, phải tìm biện pháp khắc phục.
* Hệ số sử dụng thời gian kế hoạch:
Hệ số này phản ánh tình hình sử dụng thời gian làm việc của máy móc
thiết bị hiện có. Đánh giá chỉ tiêu này tương tự chỉ tiêu hệ số sử dụng thời
gian chế độ.
1.4.5. Các chỉ tiêu đánh giá ảnh hưởng hiệu quả sử dụng máy móc
thiết bị tới kết quả sản xuất kinh doanh.
Máy móc thiết bị là bộ phận tài sản cố định biểu hiện năng lực thực sự
của xí nghiệp trong sản xuất kinh doanh. Để đánh giá tổng quát ảnh hưởng
của các nhân tố thuộc về máy móc thiết bị tới kết quả sản xuất kinh doanh, ta
dùng phương pháp phân tích kinh tế
Trang 24
Giá trị Số lượng Số ng y Sà ố ca l m vià ệc Số giờ Sản lượng bình
quân
= x x x x
sản lượng MMTB l m vià ệc trong ng y trong ca 1 già ờ máy
Hoặc