Đặc điểm và phân bố của các loài cây lâm nghiệp- Cây Chiêu liêu - Pdf 72

CHIÊU LIÊU

Terminalia chebula Retz., 1789

Tên đồng nghĩa: Terminalia reticulata Roth.,1821; Myriobala nuschebula Gaertn., 1790
Tên khác: Kha tử, chiêu liêu xanh, tiếu, sàng, cà lích (Ba na)
Họ: Bàng - Combretaceae
Tên thương phẩm: Chebulic myrobalan (E) Hình thái Chiêu liêu - Terminalia chebula Retz.
1. Cành mang hoa; 2. Hoa bổ dọc; 3. Quả
Cây gỗ trung bình, rụng lá
mùa khô, cao 10-20cm, đường
kính 40-80cm. Tán cây phân
tầng, nhiều cành lá như cây
bàng. Vỏ thân màu xám nhạt,
nứt sâu 4-8mm tạo thành các
hình chữ nhật không đều; thịt vỏ
dày 1,5-1,8cm, có nhiều lớp đỏ
và nâu xen kẽ; khi mới chặt có ít
dịch vỏ màu đỏ nhạt, vị chát.
Cành non nhẵn.

Lá đơn nguyên, mọc đối
hoặc gần đối, phiến lá hình trứng
ngược, dài 10-20cm, rộng 5-
10cm, đầu và gốc lá gần hình

Cây phân bố ở Quảng Nam, Đà Nẵng, Nghĩa Bình, Gia Lai,
Kon Tum, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Phú Khánh, Ninh Thuận, Bình
Thuận, Bình Phước, Tây Ninh và An Giang (núi Thất sơn). Tập
trung nhiều nhất ở các tỉnh thuộc Tây Nguyên.

Thế giới:
Nam Trung Quốc, Lào, Cămpuchia, Thái Lan, Malaysia, Ấn
Độ, Ne pal, Sri Lanka, Myanmar. Cây được nhập vào trồng ở
Singapor và Indonesia.

Đặc điểm sinh

học

Cây ưa sáng khi trưởng thành, nhưng chịu bóng khi non.
Mọc nhiều ở rừng thưa, rừng thứ sinh; phân bố nhiều ở rừng
thường xanh, rừng nửa rụng lá và khu vực rừng chuyển tiếp
giữa rừng nửa rụng lá và rừng khộp (rừng rụng lá ưu thế cây
họ Dầu). Trong nhiều khu rừng chiêu liêu chiếm 2-4% tổ thành cây gỗ lớn. Cây thường mọc ở
các địa hình bằng phẳng ven sông suối, dọc đường đi, chân núi ở độ cao dưới 1.200m, gặp
nhiều ở độ cao 300-700m. Ở Ấn Độ, chiêu liêu có thể phân bố đến độ cao 1.500m. Cây mọc
trên cả đất pha sét và đất cát. Cây chịu lạnh, khô và chịu lửa, do có vỏ dày. Tái sinh rải rác
dưới tán rừng thưa, có độ tàn che 0,3-0,4. Cây cũng có khả năng tái sinh chồi tốt. Thường cùng
mọc với chiêu liêu đen, chiêu liêu ổi, bằng lăng, giáng hương, tai nghé, gụ mật, cà te, căm xe,
dầu trai, dầu trà beng, sao đen…

Phân bố của chiêu liêu
ở Việt Nam
và hút trong một tẩu hút thuốc lá có tác dụng chống hen. Người Nepal, nướng quả chiêu liêu
trên than hồng rồi nhai chậm để chữa viêm họng và có tác dụng long đờm.

Cây cho loại gỗ tốt, tỷ trọng 0,87, thớ mịn, được xếp vào nhóm III trong bảng phân loại gỗ
Việt Nam. Dùng đóng đồ đạc, làm nhà, làm cột, đóng trục bánh xe, làm các bộ phận nẹp cong
của tàu thuyền.

Kỹ thuật nhân giống, gây trồng

Tạo giống. Ở Việt Nam chưa có tập quán trồng chiêu liêu. Theo kinh nghiệm ở Ấn Độ,
tháng 8-9 khi quả bắt đầu rụng phải đi thu nhặt ngay, nếu không các loài thú sẽ ăn hết. Quả
mang về phải phơi đến khô hoàn toàn. Sau đó tách lớp vỏ quả khô đi chỉ để lại hạt. Do vỏ hạt
quá cứng nên có thể xử lý bằng cơ học hoặc hoá học để làm mỏng lớp vỏ hạt, tạo điều kiện
cho hạt nảy mầm nhanh, nhưng chú ý không được làm ảnh hưởng đến phôi ở trong. Ngâm hạt
trong nước lạnh trong 36 giờ. Không nên gieo thẳng vào hố trồng, vì tỷ lệ sống sẽ thấp mà cần
phải gieo trong vườn ươm vào trước mùa mưa, phủ lớp đất mỏng lên trên và tưới nước.
Thường tỷ lệ nảy mầm chỉ đạt 20%. Cũng có thể trồng chiêu liêu bằng cành, nhưng kết quả
không tốt bằng phương pháp dùng hạt. Khi trồng trong rừng phải mở tán, đảm bảo cho cây non
có đủ ánh sáng để phát triển. Nơi thưa quá phải trồng dặm.

Kỹ thuật trồng, chăm sóc: Tiến hành trồng chiêu liêu vào đầu hay cuối mùa mưa. Việc che
bóng cho cây mạ trong vườn ươm và cây non mới trồng là cần thiết.

Sau khi trồng, nếu không đủ độ ẩm phải tưới cho cây non mới trồng. Một năm phải chăm
sóc ít nhất 2 lần vào đầu và cuối mùa mưa. Chú ý phát cây leo, bụi rậm để cây không bị che lấp
ánh sáng. Thường phải chăm sóc trong 3 năm đầu.

Khai thác, chế biến và bảo quản

Quả được thu hái khi vỏ bắt đầu chuyển thành màu vàng, cho đến khi nó hoàn toàn có

Resources of South - East Asia. No3: 122-125. Pudoc Wageningen. Netherlands.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status