Đặc điểm và phân bố của các loài cây lâm nghiệp- Cây Dó - Pdf 72

DÓRhamnoneuron balansae Gilf., 1894

Tên đồng nghĩa: Wikstroemia balansae Drake, 1889
Tên khác: Dó giấy, vỏ dó, dã gân, dã rừng
Họ: Trầm – Thymeleaceae Hình thái

Cây bụi hay gỗ nhỏ, cao 5-10m, tán
hình cầu. Gốc thường có nhiều thân, do cây
tái sinh chồi rất mạnh. Thân phân cành
sớm; vỏ màu nâu nhạt hay xám, nhẵn,
thường có vết nứt nhỏ dọc thân, dày
khoảng 3-3,5mm. Vỏ trong có nhiều sợi rất
dai. Lá đơn nguyên, mọc cách đều nhau,
dài 8-11cm, rộng 3,5-6cm, hình trái xoan,
đầu nhọn, đáy tù hay gần tròn, mặt trên
xanh sẫm, bóng, mặt dưới xanh nhạt có
lông xám. Những lá ở ngọn cành thường
nhỏ hơn các lá phía dưới. Gân bên 15-18
đôi, song song và nổi rõ ở cả 2 mặt; gân
nhỏ nhiều, gần song song. Cuống lá ngắn,
dài khoảng 5mm, màu đỏ có rãnh sâu.

Cụm hoa chùy mọc trên đỉnh, dài hơn
lá, gồm nhiều cụm hoa hình đầu nhỏ, bao
bọc trong một tổng bao; mỗi cụm hoa đầu

Phân bố

Việt Nam:
Dó phân bố nhiều ở các vùng Đông Bắc, Trung Tâm, vùng
thấp của Tây Bắc và Bắc Trung Bộ; đặc biệt ở các tỉnh: Lai
Châu, Sơn La, Hòa Bình, Vĩnh Phúc, Hà Bắc, Hà Tây, Quảng
Ninh, Thanh Hóa. Hiện đã được trồng ở nhiều nơi thuộc các
tỉnh Hà Tây và Hòa Bình.

Thế giới:
Trung Quốc và Lào.

Đặc điểm sinh học

Cây phân bố phổ biến ở các tỉnh vùng trung du và miền
núi, ở độ cao 50-600m so với mặt biển. Thường gặp trong các
rừng nhiệt đới gió mùa thứ sinh, trong các trảng cây bụi có
xen cây gỗ ở vùng trung du và núi thấp.

Dó mọc ở vùng có lượng mưa cao, từ 1.600mm trở lên;
nhiệt độ không khí trung bình 22-23
0
C, độ ẩm không khí
tương đối cao (82-86%); tổng số giờ nắng 1.520-1.620 giờ.
Cây chịu bóng, nhất là giai đoạn dưới 3 tuổi nên thường mọc dưới tán cây gỗ, ven rừng thứ
sinh, hoặc dọc theo các con đường của làng bản. Cây ưa đất sâu dày, thoát nước tốt, phong
hóa từ các loại đá biến chất như phiến thạch, mica, diệp thạch kết tinh, gnai và nhóm đá trầm
tích chua, các loại đất feralit vàng đỏ hoặc đỏ vàng, tầng đất dày, thành phần cơ giới từ thịt đến
sét trung bình, độ pH từ chua đến hơi chua. Dó thường mọc xen với nhiều cây bụi và cây gỗ
khác, dưới tán của các loài: Cọ, ràng ràng mít, chẹo, trám trắng, trám đen, xoan đào, thôi ba,

lưu truyền và phát triển nghề truyền thống sản xuất giấy dó chuyên dùng theo tính chất thủ
công (Phong Khê - Đông Khê - Bắc Ninh) (Nguyễn Quang Khải, 2002).

Thực tiễn nhu cầu về giấy ngày càng tăng, không những về số lượng, chất lượng mà còn
đa dạng về chủng loại. Bên cạnh các loại giấy thông thường cón có nhu cầu mạnh về giấy chất
lượng cao dùng cho lưu trữ, phục chế tài liệu, ấn phẩm lịch sử, văn hóa nghệ thuật …. Giấy dó
là nguồn nguyên liệu có thể đáp ứng với các yêu cầu đó.

Kỹ thuật nhân giống, gây trồng

Theo Triệu văn Hùng (2002), kỹ thuật gieo trồng dó được tiến hành như sau:

Điều kiện gây trồng:
+ Địa hình: Đồi núi thấp, độ cao dưới 500m so với mặt biển.
+ Khí hậu: Nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ bình quân năm 22-23
0
C; lượng mưa 1.500-2.000
mm/năm.
+ Đất đai: Tầng dày trên 40-50cm, thoát nước tốt, pH= 4,0- 4,5; lượng mùn trên 2-3%.
+ Thực bì: Rừng thứ sinh nghèo kiệt và rừng mới phục hồi sau nương rẫy; trảng cỏ cây bụi
có cây gỗ rải rác hoặc trảng cỏ cây bụi cao.

Nhân giống:
Nguồn giống: Chọn cây mẹ mọc từ hạt trên 5 tuổi hoặc cây chồi trên 2 tuổi, sinh trưởng tốt,
vỏ dày, không bị sâu bệnh để lấy giống. Hạt thu hái vào tháng 3-4, chọn các quả có vỏ chuyển
sang màu đen, tốt nhất đem gieo ngay, không để quá 7 ngày do hạt chóng mất sức nảy mầm.
Tiêu chuẩn của quả và hạt gió để gieo trồng như sau:
+ Độ thuần quả: 79,7%
+ Số lượng quả/100gr: 3245
+ Tỷ lệ quả có hạt: 80- 90%

để bón thúc cho cây, sau đó phải tưới nước lã để rửa lá.
+ Ngừng mọi việc chăm sóc và dỡ bỏ giàn che trước khi đem cây đi trồng 1-2 tháng

Tiêu chuẩn cây con đem trồng
Tiêu chuẩn cây con Cây con gieo và cây cụt không bầu Cây con có bầu
Tuổi cây (tháng) 10-12 6-8
Đường kính gốc (cm) 0,5- 1,0 0,3- 0,5
Chiều cao (cm) 40- 50 40- 45
Sinh lực Sinh trưởng tốt, không sâu bệnh Sinh trưởng tốt, không sâu bệnh
Nguồn: Triệu văn Hùng (2002).

Gây trồng, chăm sóc:
+ Trồng dưới tán rừng cây gỗ tự nhiên nghèo kiệt, dưới rừng trồng bồ đề, xoan, trẩu,
thông… có độ tàn che 0.5- 0,6 hoặc theo đám lỗ trống trong các rừng có dó phân bố. Ngoài ra
còn có thể trồng theo băng bao đồi, theo đường ranh phân lô, chống xói mòn hoặc cản lửa.
+ Thời vụ trồng: Thích hợp là vụ xuân và vụ thu
+ Phát dọn thực bì theo băng hoặc theo hố rộng 80cm
+ Hố đào kích cỡ 30x30x30cm
+ Mật độ: 5000 cây/ha (cự li 2x1m), trồng toàn diện; 6.600 cây/ha (cự li 1,5x1,0m) trồng
theo băng; 3-5 hàng/băng.
+ Moi đất, xé bỏ vỏ bầu nếu có, đặt cây ngay thẳng giữa hố, lấp đất đầy hố, ấn chặt quanh
gốc, cào đất vun lấp đầy, cao hơn miệng hố 4-5cm.
+ Thường xuyên phát dọn thực bì xâm lấn quanh gốc rộng 0,8-1,0m trong 2-3 năm liền,
mỗi năm 1-2 lần.

Khai thác, chế biến và bảo quản

Sau khi trồng 3 năm, có thể bắt đầu thu hoạch vỏ luân kỳ 1. Tiếp tục nuôi chồi 2-3 năm,
khai thác một lần; liên tục kinh doanh chồi 3-4 luân kỳ rồi trồng lại. Sản lượng chu kỳ 1 đạt
8.000kg vỏ tươi, tương đương với 2.285kg vỏ khô không khí và 9.600kg gỗ thân dó/1ha. Các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status