DỪA NƯỚCNypa fruticans Wurmb., 1779
Tên đồng nghĩa: Nipa fruticans Thunb., 1782; Nipa littoralis Blanco
Họ: Cau dừa - Palmae
Tên thương mại: Nipa palm; Mangrove palm Hình thái
Dừa nước - Nypa fruticans Wurmb.
1. Dáng cây; 2. Cụm hoa; 3. Cụm quả
Cây mọc ven bờ nước, có thân ngầm
đơn trục bò lan trên mặt đất, đường kính
đến 45cm, mang nhiều sẹo lá lớn xếp
chồng lên nhau, trông như các chiếc thớt,
mặt dưới có rễ. Lá mọc cụm, 3-5 lá, vươn
lên theo chiều đứng thẳng, dài 3,0-6,5m,
dạng lông chim; cuống lá rất mập, dài đến
1,5m, hình trụ, có rãnh ở bên; gốc phình lên
thành hình bẹ ngắn; thuỳ lá con nhiều, hình
đường, dài 1,2-1,5m, rộng 6,5-8,5cm, dai,
gân giữa ở mặt dưới mang nhiều vảy mầu
nâu ép sát.
Cụm hoa đơn độc, nằm trong nách lá,
đứng thẳng và phân nhánh, cao đến 60-
90cm, có nhiều lá bắc; cuống mập hình trụ,
dài. Hầu hết các nhánh có lá bắc lớn, hình
bố chủ yếu ở vùng xích đạo, từ vĩ độ 10
0
Nam đến 10
0
Bắc,
kéo dài từ Sri Lanka qua vùng Đông Nam Á, đến phía Bắc
Australia. Cây cũng đã được nhập vào phía tây châu Phi từ
đầu thế kỷ 20. Vùng rừng dừa nước lớn nhất là ở Indonesia,
rộng khoảng 700.000ha, rồi đến Papua New Guinea
(500.000ha) và Philippin (8.000ha). Điểm cực bắc khu phân
bố của dừa nước là đảo Ryukyu của Nhật Bản và điểm cực
nam là nam Australia. Ở nhiều nước Đông Nam Á, dừa nước
đã được đưa vào trồng trọt.
Đăc điểm sinh học
Đây là loài cây nhiệt đới, vùng sinh trưởng có nhiệt độ
trung bình thấp 20
0
C và nhiệt độ trung bình cao nhất 32-35
0
C.
Khí hậu tốt nhất để cây phát triển là vùng từ cận ẩm ướt đến
ẩm với lượng mưa lớn hơn 100mm/tháng và phân bố đều
trong năm.
Dừa nước chỉ mọc ở vùng nước lợ, tập trung nhất là các
cửa sông, dọc theo các kênh rạch và các con sông đào vùng
ven biển. Nó có thể xâm nhập ngược cửa sông hàng chục
kilômet. Rất ít gặp dừa nước dọc theo các bờ biển. Điều kiện tốt để phát triển dừa nước là thân
và côn trùng phá hại.
Dừa nước là cây có vai trò quan trọng bảo vệ các bờ kênh rạch, chống xói mòn, lở đất do
sóng mạnh đánh vào bờ. Nó cũng có tác dụng giữ đất bồi ven kênh rạch. Ở bờ các đầm nuôi
tôm nước lợ, trồng dừa nước dọc theo mương, vừa có tác dụng giữ đất, vừa che bóng cho
đầm, giữ nước mát làm chỗ trú cho tôm lúc nắng nóng
Kỹ thuật nhân giống, gây trồng
Nhân giống:
Ở Việt Nam, dừa nước được trồng từ hạt (quả). Bằng cách ấn trực tiếp các quả nhỏ xuống
bùn, nhưng ở chỗ đất bồi nhanh thì dễ bị bùn lấp mất quả hoặc khi trồng ở các bãi ven sông dễ
bị sóng to gây ra do các tầu, thuyền chạy tốc độ cao kéo đi. Biện pháp bảo đảm nhất là ươm
cây trên luống hoặc trồng trong bầu. Cây 4 tháng tuổi có thể mang đi trồng.
Kinh ngiệm ở Bangladesh (Siddiqui và cộng sự, 1993), có 2 cách nhân giống:
1/ Quả được cắm sâu 5cm trên mặt luống. Luống được tưới nước lợ đều trong 2 tháng, khi
cây con ra nhiều rễ thì mang trồng.
2/ Quả được bảo quản trong các mương, rạch, ngập triều nước lợ; định kỳ sau 2 tháng
đem trồng trên bãi: Tỷ lệ nảy mầm thường đạt 90%, tỷ lệ sống trên 75%. Cần chú ý là cây con
có rất nhiều rễ chùm cắm vào bùn. Do đó, chờ khi nước triều cao hãy khoả nhẹ bùn xung
quanh bộ rễ, sau đó đào cây đi trồng để tránh làm đứt rễ.
Trồng và chăm sóc:
Mật độ trồng 2.500-4.400cây/ha (với khoảng cách 2x2m hoặc 1,5x1,5m).
Khai thác, chế biến và bảo quản
Chưa có qui trình khai thác lá dừa nước, nhưng khi khai thác chỉ nên chặt các lá già và
Giá trị kinh tế, khoa học và bảo tồn
Dừa nước là một loài cây LSNG đa tác dụng, đặc biệt là có giá trị kinh tế cao. Cây cho các
sản phẩm như lá để lợp nhà, thưng vách, cho đường ăn, dấm, cồn, nhưng lại mọc ở những
vùng đất khó sử dụng vào mục đích khác. Vì vậy nên phát triển loài cây này để có đóng góp
cho kinh tế địa phương và xoá đói giảm nghèo.
Trong một số năm gần đây, nhiều dải dừa nước ven sông rạch đã bị chặt bỏ để tạo các ao
nuôi tôm. Kết quả là bờ sông, rạch không có cây bảo vệ nên bị sụt lở mạnh. Ở nhiều địa
phương đã phải trồng lại cây dừa nước hoặc các loài cây gỗ khác ngập mặn, rất tốn kém công
sức và tiền bạc. Vì vậy phải giữ lại các dải dừa nước ở cửa sông lớn và ven kênh rạch để bảo
vệ môi trường và chống sụt lở đất.
Tài liệu tham khảo
1. Phan Nguyên Hồng (chủ biên) (1997). Vai trò của rừng ngập mặn Việt Nam. Kỹ thuật trồng và chăm sóc: 146-149; 2. Flach
M. and Rumawas F. (Editors) (1996). Plants Resources of South - East Asia. Plants yielding non-seed carbohydrates. No 9: 133-
136. PROSEA. Bachkhuys Publishers, Leiden, Netherlands.