-Bộ Nông nghiệp và PTNT Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trờng Đại học Lâm nghiệp
*****. Nguyễn Văn Hạnh
Nghiên cứu các giải pháp quản lý côn trùng trong khu bảo tồn thiên
nhiên rừng sến tam qui hà trung thanh hoá Tóm tắt luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp
các lĩnh vực có liên quan đến nông nghiệp để chia sẽ cùng tất cả mọi người. Nếu tài liệu
bạn cần không tìm thấy trong website xin vui lòng gửi yêu cầu về ban biên tập website để
chúng tôi cố gắng bổ sung trong thời gian sớm nhất.
»Chúng tôi xin chân thành cám ơn các bạn thành viên đã g
ửi tài liệu về cho chúng tôi.
Thay lời cám ơn đến tác giả bằng cách chia sẽ lại những tài liệu mà bạn đang có cùng
mọi người. Bạn có thể trực tiếp gửi tài liệu của bạn lên website hoặc gửi về cho chúng tôi
theo địa chỉ email
Lưu ý:
Mọi tài liệu, hình ảnh bạn download từ website đều thuộc bản quyền của tác giả,
do đó chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất kỳ khía cạnh nào có liên quan đến nội
dung của tập tài liệu này. Xin vui lòng ghi rỏ nguồn gốc “Agriviet.Com” nếu bạn phát
hành lại thông tin từ website để tránh những rắc rối về sau.
Một số tài liệu do thành viên gửi về cho chúng tôi không ghi rỏ nguồn gốc tác giả,
một số tài liệu có thể
có nội dung không chính xác so với bản tài liệu gốc, vì vậy nếu bạn
là tác giả của tập tài liệu này hãy liên hệ ngay với chúng tôi nếu có một trong các yêu cầu
sau :
• Xóa bỏ tất cả tài liệu của bạn tại website Agriviet.com.
• Thêm thông tin về tác giả vào tài liệu
• Cập nhật mới nội dung tài liệu
www.agriviet.com
1
Lời nói đầu
35%. Sự thu hẹp về diện tích và suy giảm về chất lợng của rừng đã và đang là hiểm
hoạ đe doạ trực tiếp đến cuộc sống của con ngời.
Mất rừng tự nhiên đã đe doạ trực tiếp đến tính đa dạng sinh học (ĐDSH) của
rừng Việt Nam, mất rừng đồng nghĩa với việc thu hẹp nơi c trú của động vật, nguồn
thức ăn bị cạn kiệt buộc chúng phải di c đi nơi khác hoặc co cụm lại, nhiều loại
thực vật quý trớc kia phát triển tơng đối phổ biến nay trở nên hiếm, thậm chí có
những loài bị tuyệt chủng. Theo báo cáo của WWF tại Việt Nam năm 2000 thì tốc
độ suy giảm ĐDSH của nớc ta nhanh hơn nhiều so với một số nớc khác trong khu
vực.
Trớc thực trạng đó, Đảng và Nhà nớc đã có những chủ trơng, những quyết
sách để tăng độ che phủ của rừng, bảo vệ và nâng cao tính đa dạng sinh học, nhiều
văn bản pháp quy đợc ban hành: Pháp lệnh bảo vệ rừng 1972, Luật bảo vệ và phát
triển rừng 1991, Luật môi trờng 1993, đặc biệt Việt Nam đã tham gia ký nhiều
công ớc quốc tế nh Công ớc đa dạng sinh học 1993, Công ớc về đất ngập nớc
Ramsar năm 1998, Công ớc buôn bán quốc tế các loài động thực vật nguy cấp
CITES - 1994. Một loạt các chơng trình lớn nh chơng trình 327; 773 về trồng
rừng, đặc biệt trong dự án trồng mới 5 triệu ha rừng và chiến lợc phát triển lâm
nghiệp Việt Nam 2000 - 2010 đã rất chú trọng đến công tác bảo tồn và phát triển
các loài cây bản địa quý hiếm, xây dựng hệ thống khu bảo tồn. Những chủ trơng,
quyết sách của Đảng và Nhà n
ớc đã và đang đợc triển khai thực hiện trên phạm vi
cả nớc.
Rừng Sến mật Tam Quy là khu rừng Sến tự nhiên tập trung duy nhất còn tồn
tại ở Việt Nam. Đây là khu rừng Sến hầu nh thuần loài đồng tuổi. Do quý hiếm nên
3
khu rừng Sến đã đợc quy hoạch là khu bảo tồn nguồn gen Sến mật theo quyết định
số 194/QĐ-HĐBT ngày 9 tháng 8 năm 1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trởng.
Loài cây Sến mật (Madhuca pasquiery H. J. Lam.) là cây bản địa đa tác
dụng, có giá trị kinh tế cao. ở nớc ta, ngoài gỗ để xây dựng nhà cửa, làm các đồ
đờng tuần tra, hàng rào xanh; Nghiên cứu kỹ thuật tạo cây con từ hạt và tạo cây
con theo phơng pháp chiết cành; Một vài mô hình của chơng trình phục hồi sinh
thái. Hầu hết các giải pháp này đều rất chú trọng tới khâu kỹ thuật lâm sinh. Đơng
nhiên để thực hiện đợc mục tiêu của dự án không thể chỉ chú ý tới mặt kỹ thuật mà
cần tạo ra môi trờng thuận lợi để rừng Sến có thể phát triển bền vững. Côn trùng là
một thành phần không thể thiếu đợc của hệ sinh thái rừng với các mặt tích cực nh
góp phần thụ phấn cho nhiều loài cây, cung cấp dinh dỡng cho các loài động, thực
vật, thúc đẩy tuần hoàn vật chất, kìm hãm các sinh vật gây hại, góp phần tạo nên cân
bằng sinh thái. Côn trùng cũng có thể tạo ra những ảnh hởng tiêu cực khi chúng có
cơ hội phá hại, nhất là khi cây đợc tái sinh nhân tạo hoặc phải sống trong một môi
trờng đặc biệt sau khi rừng đợc xử lý bằng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh nh tỉa
tha, luỗng phát, trồng xen.... Chính vì vậy nên quản lý tốt các loài côn trùng sẽ góp
phần tích cực vào công tác bảo tồn loài. Tuy nhiên cho đến nay các nghiên cứu về
côn trùng ở KBTTN rừng Sến Tam Quy còn rất hạn chế.
Để có thể bổ sung một số giải pháp cho dự án, góp phần vào việc bảo tồn
nguồn gen, bảo vệ tính đa dạng sinh học của KBTTN rừng Sến Tam Quy, chúng tôi
tiến hành thực hiện đề tài: Nghiên cứu các giải pháp quản lý côn trùng trong
Khu bảo tồn thiên nhiên rừng Sến Tam Quy - Hà Trung - Thanh Hoá.
5
Chơng 2
Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
2.1. Trên thế giới
Trên thế giới những nghiên cứu về sâu bệnh hại nói chung, sâu bệnh hại cây
lâm nghiệp nói riêng rất phong phú. Đó là các nghiên cứu cơ bản về sinh học, sinh
thái học của các loài sâu, bệnh hại và các biện pháp phòng trừ trong đó có những
nghiên cứu về côn trùng có ích, nấm có ích, biện pháp sử dụng côn trùng và vi sinh
vật có ích theo hớng quản lý sâu bệnh hại tổng hợp.
Các nghiên cứu đáng chú ý về côn trùng trong khu vực là các công trình
nghiên cứu của Trung Quốc. Năm 1987, Thái Bàng Hoa và Cao Thu Lâm [46] đã
công bố công trình phân loài côn trùng rừng Vân Nam. Tài liệu tham khảo quan
trọng để phân loại các loài bớm ngày là sách chuyên khảo của Cố Mậu Bình, Trần
Phợng Trân (1997) [34]. Các nghiên cứu cơ bản về hình thái, tập tính của các loài
sâu hại cây lâm nghiệp có thể tìm thấy trong tài liệu Côn trùng rừng Trung Quốc,
Xiao Gangrou, 1991 [51], của các loài côn trùng thiên địch trong Sổ tay côn trùng
thiên địch [47], Tạp chí bọ rùa Vân Nam, Tào Thành Nhất [45]. Năm 1989,
Coulson, Sauders, Loh, Oliveria, Barry Drummond và Swain [35] đã có những
chuyên đề và chơng trình nghiên cứu về quản lý côn trùng hại rừng. Thông qua các
chơng trình, từng bớc hoàn thiện IPM. Các chơng trình đã gắn sự hiểu biết về
môi trờng với sự trợ giúp của kỹ thuật vi tính để IPM giải quyết những vấn đề tồn
tại và đa ra quyết định thực hiện phù hợp với việc quản lý sâu hại lâm nghiệp và có
thể cho cả nông nghiệp.
Năm 1991, Goyer [38] trong Phòng trừ sâu bệnh hại tổng hợp cho loài sâu ăn
lá thuộc miền Nam nớc Mỹ cho rằng: Điều tra thờng xuyên thực trạng sâu ăn lá
rừng là rất quan trọng cho chiến lợc sử dụng IPM. Ông chỉ ra việc sử dụng
Pheromone để bẫy bắt mẫu vật để từ đó tính ra mật độ loài là rất quan trọng, ông
cũng đã phê phán việc sử dụng thuốc hoá học truyền thống đã gây ảnh hởng lớn
7
đến kinh tế và môi trờng, đồng thời làm giảm đa dạng sinh học của hệ động vật
rừng.
Raske, Wickman [43] trong Hớng quản lý sâu bệnh hại tổng hợp ở rừng
rụng lá đã khẳng định:
- Hiện nay IPM ở các nớc khác nhau là khác nhau với từng vật gây hại cụ thể.
- Sự đóng góp của IPM có ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tế.
- Các vấn đề kinh tế, xã hội (bao gồm cả chiến lợc của các chính phủ) là rất
quan trọng đối với IPM.
Năm 1994, Evans, Fielding [37] trong chơng trình phòng chống loài
trình phòng trừ ong ăn lá mỡ phục vụ thiết thực cho nhu cầu sản xuất gỗ nguyên liệu
cho ngành công nghiệp giấy sợi và công nghiệp chế biến gỗ [3].
Gần đây, do yêu cầu của thực tiễn sản xuất và sinh thái môi trờng, nghiên cứu
côn trùng đã đợc chú ý hơn. Hệ thống các khu bảo tồn đã đợc nghiên cứu cơ bản
về tài nguyên côn trùng.
- Dr.Mike, Dan Hallam và Jonathan Bradley (6/1997): Muong Nhe nature
reserve (Frontier Vietnam Forest Reserach Programe) [36].
- VRTC-WWF (1999) Results of the complex Zoological botanical expedition
to the Kebang area [48].
- Le Hong Trai, Jonatan, C.Eanus, Dr Andrey, N.Kuzntsov, Dr Nguyen Van
Sang, Bui Xuan Phuong and Dr Alexander L. Monasyrskii (8/2001): PARC BaBe/
Nahang (Vietnam PARC project VIE/95/G31) [40].
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đều là tài liệu phân loài côn trùng
của một vài khu bảo tồn, Vờn quốc gia. Hầu nh cha có nghiên cứu nào về các
giải pháp quản lý và sử dụng tài nguyên côn trùng cho từng khu vực cụ thể và cho
hệ thống các khu bảo tồn, các Vờn Quốc gia trong cả nớc. Đây là một vấn đề lớn
đặt ra cho khâu quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên quốc gia của
9
Chính phủ trong đó có nguồn tài nguyên côn trùng nói chung và tài nguyên côn
trùng rừng nói riêng.
- Từ năm 1987, các Trung tâm kỹ thuật bảo vệ rừng số I (Quảng Ninh) [27]. Số
II (Thanh Hoá) đã tiến hành nghiên cứu các loài sâu hại, phát hiện một số loài côn
trùng ký sinh, côn trùng ăn thịt của Sâu róm thông nh các loài Bọ ngựa, các loài Bọ
xít, Kiến, các loài ruồi, Ong ký sinh.... [10]. Nghiên cứu sản xuất một số chế phẩm
sinh học nh nấm Bạch cơng, Lục cơng (Beauveria bassiana và Metazhizium)
phục vụ cho việc phòng trừ Sâu róm thông từ Thừa Thiên Huế đến Quảng Ninh [10].
- Trần Công Loanh (1989) [13] trong cuốn Côn trùng lâm nghiệp đã viết rất
kỹ về đặc điểm hình thái, đặc tính sinh vật học, sinh thái học và phân loài côn trùng
lâm nghiệp, đồng thời nêu ra một số phơng pháp dự tính, dự báo sâu hại và các
trong sản xuất kinh doanh lâm nghiệp của nớc ta.
Theo Trần Văn Mão (2002) [15] trong quản lý côn trùng quản lý dịch hại tổng
hợp có ý nghĩa rất lớn trong đó ngời ta nhấn mạnh vai trò của phân tích hệ thống.
Từ những nguyên lý sinh thái và động thái quần thể côn trùng rừng, chúng ta có thể
tìm hiểu sự phát sinh quần thể sâu hại, các loại dịch sâu hại rừng, các loại ảnh hởng
của côn trùng đến sinh thái, kinh tế và xã hội và cuối cùng đa ra quyết sách quản lý
thích hợp.
Tại khu vực nghiên cứu năm 2000 Phạm Quang Vinh [29] đã xác định đợc
19 loài côn trùng và bớc đầu đa ra một số biện pháp quản lý. Nghiên cứu của
Nguyễn Văn Trung (2003) [26] cho thấy sâu hại Sến nguy hiểm nhất hiện nay là
loài Rệp và Xén tóc vân hình sao (Anoplophora chinensis Forster).
11
Chơng 3
Mục tiêu - đối tợng - phạm vi
nội dung v phơng pháp nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng cơ sở khoa học cho các giải pháp quản lý côn trùng ở KBTTN rừng
Sến Tam Quy - Hà Trung -Thanh Hoá góp phần bảo tồn rừng Sến và phát triển Lâm
nghiệp bền vững.
3.2. Đối tợng v phạm vi nghiên cứu
1.
Đối tợng nghiên cứu:
Các loài côn trùng trong KBTTN rừng Sến Tam Quy.
2.
Phạm vi nghiên cứu:
Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và phân khu phục hồi
sinh thái của KBTTN rừng Sến Tam Quy - Hà Trung - Thanh Hoá.
- Thời gian thực hiện từ tháng 3 đến tháng 9 năm 2003.
3.3. Nội dung nghiên cứu
chỉnh; Tính khoa học; Tính thích ứng môi trờng. Thứ đến là phải phân tích, xác
định đợc nhiều mục tiêu cụ thể để đạt đợc mục đích.
Mô hình hoá hệ thống là vấn đề mấu chốt của phân tích hệ thống, mô hình hệ
thống cũng cần tuỳ theo mục đích phân tích mà thực hiện các phơng pháp khác
nhau. Khống chế hệ thống là thông qua thay đổi điều chỉnh đầu vào, đầu ra của hệ
thống mà nhận đợc trạng thái mong muốn. Thiết kế hệ thống thờng bao gồm sự
thêm, bớt các thành phần hoặc sửa đổi các thành phần hệ thống hiện có.
Trong quản lý sâu hại tổng hợp, kỹ thuật khống chế thờng đợc dùng nhiều
nhất. Trong thiết kế hệ thống ngời ta coi trọng sử dụng thiên địch và chọn cây
chống chịu. Đánh giá hệ thống trong hệ thống quản lý sâu hại là rất quan trọng, nó
là cơ sở để hiệu chỉnh và kiểm nghiệm mô hình hệ thống.
13
Có rất nhiều loại mô hình hệ thống: Mô hình nghiên cứu, mô hình quản lý, mô
hình kiểu ngẫu nhiên, kiểu xác định, mô hình chỉnh thể, mô hình tĩnh, mô hình
động, mô hình ma trận, mô hình tham số, mô hình tuyến tính và phi tuyến tính, mô
hình hộp đen, mô hình tự khống chế, mô hình không tự khống chế.
Rừng Sến Tam Quy là một chỉnh thể hữu cơ, nó là một hệ sinh thái rừng. Xét
về quan điểm bảo vệ rừng và quan điểm hệ thống có một hệ sinh thái sinh vật gây
hại rừng trong lòng rừng Sến. Tổ thành của hệ sinh thái sinh vật gây hại thông
thờng có 4 hệ thống con: Hệ thống rừng, hệ thống các sinh vật gây hại, hệ thống
thiên địch và hệ thống môi trờng.
- Hệ thống rừng đợc tổ thành bởi các cây xanh, nhờ quang hợp mà tổng hợp
chất hữu cơ, nhờ hoạt động sống tự dỡng mà cung cấp năng lợng cho vật tiêu thụ
và vật phân giải nên chúng cần sự bảo vệ của con ngời.
- Hệ thống sinh vật gây hại bao gồm sâu bệnh, chuột, cỏ dại ... trong đó sâu
bệnh ... là những vật tiêu thụ, chúng uy hiếp rất lớn đến sản xuất lâm nghiệp nên cần
phải có giải pháp để khống chế.
- Hệ thống thiên địch là các sinh vật bắt mồi, vật ký sinh và vi sinh vật gây
bệnh cho các loài gây hại. Chúng có tác động quan trọng trong việc khống chế và
Hình 3-1: Sơ đồ quá trình nghiên cứu
Xác định mục tiêu
nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu
Xác định hiện trạng tài
nguyên côn trùng
Điều tra điều kiện tự
nhiên - xã hội
Đề xuất các giải
pháp quản lý
Phơng pháp nghiên cứu
Kế thừa
Điều tra CT Nuôi sâu
Phân tích thực trạng
Tổng hợp, phân tích kết quả nghiên cứu
Đề xuất các giải pháp quản lý côn trùng
15
3.4.2. Phơng pháp kế thừa
Đề tài đã kế thừa một số dữ liệu của các nguồn sau đây:
a. Sử dụng thành quả của công trình xây dựng dự án "KBTTN rừng Sến Tam Quy -
Hà Trung - Thanh Hoá đợc Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn thẩm định
theo văn bản số 1445 ngày 23/5/2001 và Quyết định phê duyệt dự án số1766/QĐ-
UB ngày13/7/2001 của chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá [28].
điều tra tỷ mỷ. Biểu mẫu dùng cho điều tra sơ bộ đợc trình bày trong Phụ lục 01.
sau khi điều tra sơ bộ có thể rút ra các nhóm loài côn trùng cần chú ý, thời gian
xuất hiện của các pha, ấn định kế hoạch điều tra tỷ mỷ.
- Bớc điều tra tỷ mỷ:
Điều tra tỷ mỷ đợc tiến hành trên các ô tiêu chuẩn. Ô tiêu chuẩn có diện tích
1.000m
2
, đại diện cho khu vực điều tra. Trong khu vực nghiên cứu chúng tôi bố trí
12 ô tiêu chuẩn, ranh giới ô tiêu chuẩn đợc đánh dấu bằng sơn đỏ. Đặc điểm của
các ô tiêu chuẩn đợc mô tả ở Phụ lục 02. Các thông số trong phụ lục 02 đợc xác
định trên cơ sở kế thừa số liệu của Lâm trờng Hà Ttrung kết hợp với đo đếm trực
tiếp theo phơng pháp thông thờng đối với các trị số D
1,3
, H
VN
. Ngoài các ô tiêu
chuẩn nằm trong khu vực có Sến chúng tôi còn điều tra côn trùng trong các khu vực
đặc biệt của KBTTN nh trảng cỏ, cây bụi, khu vực trồng tre làm hàng rào, khu vực
trồng Thông nhựa, Keo...
Để xác định thành phần loài côn trùng cần thu thập mẫu vật bằng cách: Vợt
bắt, điều tra côn trùng trên cây, điều tra côn trùng trong đất, trong các gốc chặt, cây
đổ, bẫy đèn bắt bớm.
Để điều tra côn trùng sống trên cây, tiến hành chọn 10% tổng số cây trong ô
tiêu chuẩn rồi tiến hành điều tra theo phơng pháp đợc mô tả trong giáo trình của
đại học Lâm nghiệp [17].
Điều tra côn trùng trong đất tiến hành điều tra trong 5 ô dạng bản ở mỗi ô tiêu
chuẩn, ô dạng bản có kích thớc 1 x 1 m.
17
Dùng bẫy đèn cực tím để thu bắt côn trùng có tính xu quang đặt tại trạm kiểm
n
S
M
n
1i
i
=
=
(3-2)
Trong đó: M là mật độ của ô tiêu chuẩn
18
S
i
là tổng số lợng sâu cần tính (, -, +, 0) của cây điều tra hoặc ô
dạng bản thứ i
n là tổng số cây hoặc ô dạng bản của ô tiêu chuẩn
Mật độ của sâu là các giá trị trung bình cộng nên ngời ta thờng tính sai tiêu
chuẩn và hệ số biến động để có cơ sở phân tích kết quả điều tra:
- Sai tiêu chuẩn:
()
()
1
1
1
2
1
2
là phơng sai
S% là hệ số biến động
n là số cây hoặc số ô dạng bản ...
S
i
là số lợng sâu của cây hoặc ô dạng bản điều tra thứ i (i=1-n)
S là số lợng sâu bình quân của ô tiêu chuẩn.
Xác định loài côn trùng chủ yếu
Vấn đề xác định các loài côn trùng chủ yếu là cần thiết vì công tác quản lý cần
đợc thực hiện có trọng tâm, đúng đối tợng. Có 2 nhóm chính cần quan tâm là sâu
hại và sâu có ích.
Để tìm ra loài chủ yếu ngoài sự chú ý tới ảnh hởng hoặc vai trò của loài đối
với hệ sinh thái cần căn cứ vào một số chỉ tiêu định lợng nh mật độ, tỷ lệ cây hoặc
ô dạng bản có loài, đối với nhóm sâu hại thì mức độ gây hại của chúng là chỉ tiêu
quan trọng, đối với sâu có ích nh thiên địch cần đánh giá đợc khả năng tiêu diệt
sâu hại. Trong khu vực nghiên cứu ngoài cây Sến còn có các đối tợng cây khác
19
nh Lim xanh, Thông nhựa, Keo, Tre... vì thế đối với mỗi đối tợng này cũng cần
xác định các loài chủ yếu.
3.4.4. Phơng pháp nuôi sâu
Đối với một số loài côn trùng chủ yếu, nhất là những loài cha có thông tin cơ
bản cần tiến hành nuôi để nghiên cứu các đặc điểm sinh học của chúng. Nuôi sâu
đợc thực hiện dựa theo phơng pháp của tài liệu [17].
Dụng cụ nuôi sâu: Có thể nuôi sâu trong lồng hoặc lọ nhựa.
Hàng ngày theo dõi đo đếm các chỉ tiêu nh sự thay đổi hình thái, tập tính di
chuyển, lấy thức ăn, nhu cầu thức ăn, thời gian phát triển, quá trình lột xác, hóa
nhộng, vũ hóa...
Thuộc địa phận 3 xã Hà Lĩnh, Hà Tân, Hà Đông, huyện Hà Trung.
- Ranh giới phía Bắc đợc định bởi con đờng đất từ đập Cầu (thôn Thọ Lộc xã
Hà Lĩnh) đi ra đờng quốc lộ 1A, qua làng Lâm nghiệp Tam Quy (thuộc xã Hà
Tân).
- Ranh giới phía Nam từ đập Ngang (Thọ Lộc, Hà Lĩnh) đi theo khe suối lên
đỉnh 300m, đến ngã ba ranh giới ba xã Hà Tân, Hà Ninh và Hà Đông).
- Ranh giới phía Đông nằm trùng với ranh giới giữa hai xã Hà Tân và Hà Ninh.
- Ranh giới phía Tây giáp làng Thọ Lộc xã Hà Lĩnh.
Trung tâm KBTTN rừng Sến Tam Quy cách đờng quốc lộ 1A và thị trấn Hà
Trung 5 km về phía Tây.
4.2. Địa hình địa thế
Rừng Sến Tam Quy thuộc kiểu địa hình đồi bóc mòn. Đồi có độ cao tuyệt đối
là 325m. Độ cao tơng đối so với mặt nớc hồ (cách mặt nớc hồ) là 315m. Nh vậy
cốt đất nền của khu rừng Sến trong khoảng 10m so với mặt nớc biển. Độ chia cắt
địa hình vào loại trung bình. Hình thái đồi mang những đặc trng sau. Đỉnh hơi
bằng, sờn phẳng, đôi chỗ lồi. Các rãnh khe đều hẹp và nông. Độ dốc giảm dần từ
sờn trên qua sờn giữa xuống sờn dới và chân đồi. Đó là đặc trng hình thái của
kiểu đồi trầm tích hình thành bởi đá phấn sa đến cát kết.
Địa thế bằng (<7
0
) chiếm 12,0% diện tích.
Download ằ
21
Địa thế sờn thoải (8 - 15
0
) chiếm 31,0%.
Địa thế sờn dốc (16 - 35
0
) chiếm 27,0%.
0
C.
Từ tháng 12 đến tháng 3 ( 4 tháng) nhiệt độ trung bình là 20
0
C. Từ tháng 4 đến
tháng 9 (5 tháng) nhiệt độ trung bình là 25
0
C.
- Chế độ ma:
Tổng lợng ma năm là 1.500 - 1.900 mm. Mùa ma kéo dài 5 tháng (từ tháng
5 đến tháng 9), tháng 9 có lợng ma lớn nhất 400 mm. Tháng 12, tháng 1, tháng 2
có lợng ma ít nhất < 20 mm.
- Độ ẩm không khí: Trung bình năm đạt từ 85 - 86%. Lợng bốc hơi năm từ
600 - 800 mm.
Download ằ
22
- Gió: Tốc độc gió đạt bình quân 1,5 - 1,8m/s. Loại gió: Bắc, Đông Bắc. Đông,
Đông Nam và gió Tây khô nóng. Ngoài ra còn một số yếu tố thời tiết đặc biệt là
bão, dông tố, nồm, sơng mù, ma phùn, ma đá, áp thấp nhiệt đới.
4.4. Đá mẹ v mẫu chất
Đá phấn sa (alơrôlít) là đá mẹ tạo đất chính rừng Sến Tam Quy.
Mẫu chất tạo đất rừng Sến thuộc nhóm vỏ phong hoá tại chỗ feralit là thành
phần ôxit sắt và ôxit nhôm tơng đơng nhau. Đặc điểm phụ của mẫu chất phong
hoá tại chỗ từ đá phấn sa là: còn giữ nguyên đợc tơng đối rõ cấu tạo đá mẹ ban
đầu. Bản chất của mẫu chất phong hoá tại chỗ có một quá trình tích luỹ sắt, nhôm
khá mạnh, cho nên xu thế chuyển hoá khoáng sét là điều tất yếu.
4.5. Đặc tính đất rừng Sến
Hình thái phẫu diện đất.
tổng số đạt ít đến trung bình.
4.6. Rừng v thảm thực vật
a) Diễn biến rừng Sến
Rừng Sến Tam Quy là rừng tự nhiện đã có từ lâu đời. Những dấu ấn mang tính
chất lịch sử là những trụ cột đình cột chùa làm bằng gỗ Sến to một ngời ôm không
hết ở địa phơng trong vùng. Do biến động của xã hội và do nhu cầu gỗ củi và lâm
sản của con ngời mà diện tích rừng Sến bị thu hẹp dần. Cách đây bảy tám mơi
năm (khoảng 1920 - 1930) rừng Sến còn phủ kín khu bảo tồn. Sau đó khoảng thời
gian 1930 - 1945 rừng Sến bị khai thác nặng nề hoặc bị tàn lụi (Trần Ngũ Phơng -
1970) [28]. Từ đó lại hình thành một rừng Sến tái sinh hạt cho đến ngày nay. Sở dĩ
rừng Sến tồn tại và phát triển bởi rừng cung cấp hạt Sến ép dầu, là nguồn thực phẩm
và là nguyên liệu thắp sáng khi dầu hoả, dầu lạc còn ít và hạn chế. Nh vậy rừng Sến
Tam Quy ớc chừng 55-70 tuổi. Trớc kia rừng Sến vẫn còn những cây mẹ to để
gieo giống. Nhng do nhu cầu gỗ lớn, những cây mẹ đã dần dần bị khai thác. Những
cây Sến to gieo giống đã vắng bóng trong rừng hơn 2 thập niên qua. Vì thế mà rừng
Sến Tam Quy chỉ còn lại những cây gần nh đồng tuổi.
Năm 1986 rừng Sến Tam Quy có diện tích là 350 ha. Đến năm 1992 diện tích
rừng Sến còn lại là: 308ha. Năm 1995 - 1996 diện tích rừng còn 292ha. Cho đến
tháng 10 năm, 2000 diện tích rừng Sến chỉ còn 272ha.
b) Đặc điểm rừng Sến:
Rừng Sến Tam Quy mang những đặc điểm sau:
Download ằ