Một vài biện pháp tích cực rèn kỹ năng so sánh các số có hai chữ số cho học sinh lớp Một - Pdf 72



Một vài biện pháp tích cực rèn kỹ năng so sánh các
số có hai chữ số cho học sinh lớp Một
Đặt vấn đề
Trong những năm học vừa qua, chúng ta đã thực hiện thành công việc áp
dụng “ Đổi mới chương trình sách giáo khoa” và “ Đổi mới phương pháp dạy học” ở tất
cả các trường học trong cả nước. Việc đổi mới toàn diện này đã làm chất lượng giáo dục
của các nhà trường được nâng cao một cách rõ rệt, góp phần nâng cao chất lượng của nền
giáo dục nước nhà.
Là giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp Một trong năm năm học vừa qua, tôi
thấy chương trình “ Toán Tiểu học năm 2000” là một bước đột phá mới cả về nội dung
lẫn hình thức dạy – học. Nó được kế thừa và phát huy những thành tựu về dạy học Toán
lớp Một chương trình cải cách giáo dục. Việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học và
hình thức dạy học trong từng tiết học đã làm cho các em học sinh lớp Một học tập hứng
thú hơn; các em nắm bắt kiến thức một cách nhanh nhạy, tự nhiên hơn; và đặc biệt; các
em đã biết áp dụng kiến thức đã học vào ciệc thực hành luyện tập một cách thành thạo,
vững chắc ở tất cả các môn học, nhất là môn Toán.
ở lớp Một, ngoài việc giáo viên dạy cho các em nghe, nói, đọc, viết Tiếng
Việt; dạy các em nắm được các kiến thức tự nhiên cơ bản ban đầu của các môn học,
chúng ta còn phải dạy các em học Toán và biết làm Toán. Như vậy, môn Toán cũng là
một môn học hết sức quan trọng đối với học sinh lớp Một.
Qua việc học tập môn Toán, các em học sinh lớp Một sẽ biết đọc, viết các số
có đến hai chữ số; các em nắm được một số kiến thức cơ bản, đơn giản về phép đếm, nắm
được thứ tự các số và cấu tạo của các số trong phạm vi 100; các em biết làm tính cộng,
tính trừ trong phạm vi 100 (cộng trừ không nhớ); biết giải Toán có lời văn; nắm được các
kiến thức ban đầu về đo độ dài, hình học… và đặc biệt là các em có kĩ năng so sánh số có
hai chữ số. Trong bài viết này, tôi xin trình bày “ Một vài biện pháp tích cực rèn kỹ

học Đại áng đã tiến bộ một cách rõ rệt: Năm học 2005 – 2006 vừa qua, trường đã có 7
em đạt giải thi “Vở sạch chữ đẹp” cấp huyện trong đó có 2 em dự thi cấp Thành phố.
Ngoài ra trường còn có nhiều em học sinh năng khiếu và học sinh giỏi môn Anh văn cấp
Huyện; có 4 Sáng kiến kinh nghiệm cấp Thành phố, một chiến sĩ thi đua và 4 giáo viên
giỏi cấp Huyện. Đây là kết quả đáng khích lệ của nhà trường.
Năm học 2006 – 2007 này, nhờ sự chỉ đạo đúng đắn của đội ngũ cán bộ trẻ,
khoẻ, đầy nhiệt huyết cùng với sự nỗ lực phấn đấu của tập thể giáo viên và 24 lớp học
sinh, trường Tiểu học Đại áng đã có giáo viên tham gia thi “Giáo viên giỏi cấp Thành
phố” đạt số đIểm tối đa ( 20/20 điểm), có 4 học sinh năng khiếu (trong đó có một em
được giải Nhất); có 5 giáo viên lớp Một và 25 học sinh trong trường tham gia thi “Viết
chữ đẹp cấp huyện” đều đạt giải ( trong đó đều có giải Nhất, Nhì, Ba của giáo viên và học
sinh). Và trong cuộc thi đồ dùng day học tự làm, trường đã có đồ dùng đạt giải Nhì cấp
Huyện, chuẩn bị tham gia thi Đồ dùng dạy học tự làm cấp Thành phố.
Tuy nhiên, với học sinh lớp Một khi học về “so sánh các số có hai chữ số”
thì vẫn còn một số em làm bài trước được tốt: Có em chỉ so sánh các chữ số hàng đơn vị
thôi đã kết luận số lớn, số bé; lại có em chưa tínhkết quả các vế của phép tính, chưa có cơ
sở thực tế đã so sánh và kế luận… Sở dĩ còn có em sai như vậy là vì các em chưa có “ Kỹ
năng so sánh các số có hai chữ số ở lớp Một”
Hiểu được vấn đề này, khi dạy về “So sánh số có hai chữ số ở lớp Một” tôi
yêu cầu học sinh phải làm đúng theo các bước:
1. So sánh các chữ số hàng chục trước. Nếu số nào có chữ số hàng
chục lớn hơn thì số đó lớn hơn. Nếu số nào có chữ số hàng chục bé hơn thì số đó
bé hơn.
2. Nếu các số có hai chữ số đều có các chữ số hàng chục bằng nhau thì
ta so sánh tiếp các chữ số hàng đơn vị: Nếu số nào có chữ số hàng đơn vị lớn hơn
thì số đó lớn hơn, số nào có chữ số hàng đơn vị bé hơn thì số đó bé hơn. 3. Nếu cả chữ số hàng chục và chữ số hàng đơn vị của số đó bằng
nhau, thì các số đó bằng nhau.

hai chữ số, nếu chữ số hàng chục của chúng bằng nhau thì số nào có chữ số hàng đơn vị
lớn hơn thì số đó lớn hơn, số nào có chữ số hàng đơn vị bé hơn thì số đó bé hơn.
Phần II: So sánh chữ số hàng chục với chữ số hàng chục. Cụ thể là so sánh số 63
với số 58.
Để học sinh so sánh được hai số này, giáo viên cũng yêu cầu học sinh thực
hành trên que tính trước và nhận xét:
+ 63 que tính gồm 6 thẻ chục que tính và 3 que tính rời.
+ 58 que tính gồm 5 thẻ chục que tính và 8 que tính rời.
Vì 6 chục que tính nhiều hơn 5 chục que tính nên 63 que tính nhiều hơn 58 que
tính.
Do đó 63 > 58 hay 58 < 63.
Cho học sinh nhận xét:
- 63 gồm mấy chục, mấy đơn vị ? ( 6 chục , 3 đơn vị)
- 58 gồm mấy chục , mấy đơn vị? ( 5 chục , 8 đơn vị) - Số nào có chữ số hàng chục lớn hơn ? ( số 63)
- Số nào có chữ số hàng chục bé hơn ? ( số 58)
 Kết luận: Vì 6 chục lớn hơn 5 chục nên 63 > 58 hay 58 < 63.
Giáo viên yêu cầu học sinh so sánh các cặp số:
- So sánh số 31 với số 25 ( học sinh tự nêu được)
+ Ta thấy 3 chục lớn hơn 2 chục.
+ Nên 31 > 25 hay 25 < 31.
- So sánh số 78 với số 87 ( học sinh tự nêu được)
+ Ta thấy 7 chục bé hơn 8 chục.
+ Nên 78 < 87 hay 87 > 78.
 Qua ví dụ trên, giáo viên cũng giúp học sinh nhận ra được : Trong các số có
hai chữ số, số nào có chữ số hàng chục lớn hơn thì số đó lớn hơn. Số nào có chữ số hàng
chục bé hơn thì số đó bé hơn.
Với trình tự bài dạy như trên của Sách giáo khoa và Sách giáo viên Toán lớp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status