skkn xây dựng hệ thống bài tập rèn kỹ năng quan sát tìm ý trong văn miêu tả cho học sinh lớp 2,3 - Pdf 22

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KIM ĐỘNG
TRƯỜNG TIỂU HỌC NGỌC THANH


XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
RÈN KĨ NĂNG QUAN SÁT, TÌM Ý
TRONG VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 2,3.
Lĩnh vực/Môn : Tiếng Việt
Tên tác giả : Hồ Thị Ánh
Chức vụ : Giáo viên
Tài liệu kèm theo : Đĩa CD1
Năm học: 2013 - 2014
A, MỞ ĐẦU
1. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Tiếng Việt ở trường tiểu học được dạy và học thông qua các phân môn khác nhau:
học vần, tập đọc, tập viết, chính tả, luyện từ và câu, kể chuyện, tập làm văn. Phân môn
Tập làm văn có vị trí đặc biệt trong việc dạy và học Tiếng Việt xét trên hai phương
diện:
- Phân môn Tập làm văn tận dụng các hiểu biết và kĩ năng về tiếng Việt do các
phân môn khác rèn luyện hoặc cung cấp đồng thời góp phần hoàn thiện chúng. Để
làm được một bài làm văn nói hoặc viết, người làm phải hoàn thiện cả bốn kĩ năng:
đọc, nghe, nói, viết, phải vận dụng các kiến thức về Tiếng Việt. Trong quá trình vận
dụng này, các kĩ năng và kiến thức đó được hoàn thiện và nâng cao dần .
- Phân môn tập làm văn rèn luyện cho học sinh các kĩ năng sản sinh văn bản
(nói, viết). Nhờ vậy tiếng Việt không chỉ là một hệ thống cấu trúc được xem xét từng
phần, từng mặt qua từng phân môn mà trở thành một công cụ sinh động trong quá
trình giao tiếp, tư duy, học tập. Nói cách khác, phân môn Tập làm văn đã góp phần
hiện thực hóa mục tiêu quan trọng bậc nhất của việc dạy và học Tiếng Việt là dạy học

được luyện tập để lên lớp 4-5 các em có thể học tập những kiến thức và kĩ năng làm
văn miêu tả một cách thuận lợi. Mặt khác, giáo viên dạy lớp 2-3 chỉ chú ý dạy theo
các tiết Tập làm văn định sẵn trong Tiếng Việt của lớp 2-3 mà vô tình không hay biết
mình đang dạy văn miêu tả cho học sinh nên không chú ý đến rèn phương pháp, kĩ
năng quan sát tìm ý cho học sinh. Đó là một kĩ năng vô cùng quan trọng trong quá
trình viết văn miêu tả sau này của học sinh.
Chính vì những lí do trên mà tôi mạnh dạn nghiên cứu: “Xây dựng hệ thống bài
tập rèn kĩ năng quan sát, tìm ý trong văn miêu tả cho học sinh lớp 2-3”
2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.
2.1. Mục đích nghiên cứu.
Đưa ra hệ thống bài tập rèn kĩ năng quan sát, tìm ý trong văn miêu tả cho học
sinh lớp 2-3.
3
Hệ thống bài tập phải đúng đắn, hợp lý về tính khoa học, sư phạm, phù hợp với
mục tiêu dạy học văn miêu tả ở tiểu học, bổ trợ đắc lực cho các bài tập dạy văn miêu
tả trong sách giáo khoa lớp 2-3, có tính khả thi, đạt hiệu quả cao.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Tìm hiểu những vấn đề lí luận và thực tiễn làm cơ sở để xây dựng bài tập giúp
học sinh lớp 2-3 có kỹ năng quan sát, tìm ý.
- Tìm hiểu và đánh giá những bài tập có nội dung dạy văn miêu tả (mức độ sơ
giản) ở lớp 2-3 trong quan hệ với nhiệm vụ chuẩn bị cho sự tiếp nối kiến thức và kĩ
năng trong nội dung dạy văn miêu tả ở các lớp 4-5.
- Xây dựng hệ thống bài tập giúp cho học sinh lớp 2-3 rèn kĩ năng quan sát, tìm
ý.
- Tổ chức dạy thực nghiệm các bài tập làm văn làm rèn kĩ năng quan sát tìm ý
trong văn miêu tả cho học sinh lớp 2,3 nhằm kiểm tra tính khả thi của bài tập đưa ra.
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
- Sách giáo khoa và sách giáo viên Tiếng Việt ở Tiểu học, trọng tâm là phân môn
Tập làm văn.
- Thực tế dạy và học các bài tập ở sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2-3 có liên

thể.
Việc giải bài tập tiếng Việt là một hình thức rèn luyện các kĩ năng ngôn ngữ cho
học sinh. Nó đòi hỏi các em phải biết áp dụng những kiến thức đã học vào vấn đề cụ
thể, vào thực tế (bởi các bài tập Tiếng Việt thường là các tình huống trong thực tiễn).
Việc giải bài tập của học sinh là một phương tiện kiểm tra rất tốt. Qua việc làm
bài tập, học sinh có thể tự kiểm tra xem mình đã nắm vững lí thuyết chưa. Cũng qua
5
việc làm bài tập của học sinh, giáo viên sẽ nhận được tín hiệu phản hồi về việc lĩnh
hội của học sinh, từ đó điều chỉnh phương pháp giảng dạy của mình.
Việc giải bài tập đòi hỏi học sinh làm việc độc lập, phát huy tính sáng tạo, phát
triển tư duy, đồng thời rèn luyện ở các em tính cẩn thận, chu đáo, bền bỉ…
Để học sinh lớp 2-3 bước đầu có những ý niệm, những kĩ năng sơ giản về văn
miêu tả, học sinh phải được làm các loại bài tập cùng kiểu, cùng mục đích làm quen
với văn miêu tả. Việc thực hiện các bài tập đó được lặp đi lặp lại tới chừng mực nào
đó thì kĩ năng mới dần hình thành.
Mặt khác, phương pháp dạy học mới là hướng tới xác lập một quá trình dạy học
để tổ chức, điều khiển và kiểm soát quá trình dạy học. Điều này có nghĩa là trong giờ
học, cách dạy học thầy giảng, trò ghi phải chuyển thành thầy tổ chức việc làm, trò
thực hiện thi công. Do vậy, hệ thống bài tập hiện nay không chỉ là thực hành mà đó
còn là con đường, là cách thức mà thông qua đó, học sinh sẽ tự tìm kiếm tri thức, hình
thành kĩ năng. Chẳng hạn chỉ có thể tổ chức cho học sinh quan sát tìm ý và kiểm soát,
điều chỉnh kết quả quan sát tìm ý của các em thông qua các câu hỏi, bài tập hướng dẫn
quan sát. Chẳng hạn, để học sinh bước đầu có thói quen quan sát cảnh từ bao quát đến
cụ thể, giáo viên phải có câu hỏi, bài tập định hướng.
Ví dụ: Bài Quan sát tranh – trả lời câu hỏi.
a) Tranh vẽ cảnh gì?
b) Sóng biển như thế nào?
c) Trên mặt biển có những gì?
d) Trên bầu trời có những gì?
(Tiếng Việt 2, tập một, trang 67)

- Bài tập đọc đoạn văn và trả lời câu hỏi
- Bài tập sắp xếp lại thứ tự các câu văn cho trước
- Lập dàn ý theo đề bài
- Nói hoặc viết đoạn văn dựa vào các câu hỏi gợi ý
v.v…
c) Xét theo kĩ năng làm văn được rèn luyện (kĩ năng sản sinh văn bản), hệ thống bài
tập được chia thành:
- Bài tập rèn kĩ năng xác định yêu cầu của đề bài.
- Bài tập rèn kĩ năng quan sát, tìm ý.
- Bài tập rèn kĩ năng sắp xếp ý (lập dàn ý)
- Bài tập rèn kĩ năng sửa chữa, hoàn chỉnh đoạn văn, bài văn
d) Xét theo dạng lời nói được rèn luyện, có thể chia thành:
7
- Bài tập rèn kĩ năng nói
- Bài tập rèn kĩ năng viết
v.v…
Ở bài viết này, tôi chỉ xem xét các bài tập giúp học sinh quan sát –tìm ý văn
miêu tả trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2-3 và xây dựng một số bài tập bổ trợ
theo mạch các kĩ năng quan sát, tìm ý làm văn miêu tả cần được rèn luyện cho học
sinh.
1.2. Đặc điểm nhận thức, khả năng ghi nhớ và đặc điểm tư duy của học sinh lớp
2-3 và kỹ năng quan sát, tìm ý khi làm văn miêu tả.
1.2.1. Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 2-3.
Như bất kì một hệ thống bài tập nào khác, bài tập giúp học sinh lớp 2-3 làm quen
với quan sát, tìm ý trong văn miêu tả cũng phải dựa vào đặc điểm hoạt động nhận thức
của học sinh tiểu học.
Hoạt động nhận thức của trẻ em ở lứa tuổi Tiểu học thường mang tính trực quan,
cụ thể, cảm tính. Ở mỗi lứa tuổi học sinh lại có đặc điểm và khả năng nhận thức nhất
định. Nếu như các em học sinh ở lứa tuổi lớp 4-5 đã biết dựa trên các dấu hiệu bản
chất, những dấu hiệu chung của sự vật hiện tượng để khái quát thành khái niệm, ít đi

- Tả ngắn về một con vật gần gũi như con chim, con gà, con chó, con mèo.
- Tả cảnh (theo tranh) qua các câu hỏi.
Lên lớp 3, kĩ năng miêu tả mà học sinh cần đạt ở mức độ cao hơn. Học sinh phải
viết được một đoạn văn (5-7 câu), nhiều nhất là 10 câu tả ngắn về người thân trong
gia đình, trường lớp, quê hương, lễ hội, hoạt động thể thao – văn nghệ. Yêu cầu kĩ
năng làm văn miêu tả ở lớp 2-3 ở mức đơn giản nhằm chuẩn bị cho lớp 4-5 các em sẽ
được trang bị và rèn luyện các kĩ năng làm văn miêu tả một cách đầy đủ.
Nhiệm vụ dạy học văn miêu tả cho học sinh tiểu học được chương trình đề ra
theo hai mức độ lớp 2-3 và lớp 4-5 với những yêu cầu cụ thể. Lớp 2-3 chuẩn bị các kĩ
năng bộ phận và ở mức độ đơn giản, làm tiền đề cho lớp 4-5. Lớp 4-5 học sinh sẽ học
kiến thức, được rèn luyện kĩ năng làm văn miêu tả một cách có hệ thống và bài bản.
Tuy nhiên, để học sinh lớp 2-3 được chuẩn bị tốt về kĩ năng làm văn miêu tả, các
em phải thường xuyên thực hành luyện tập. Chính vì vậy, xây dựng các bài tập bổ trợ
giúp học sinh lớp 2-3 làm quen với văn miêu tả là việc làm cần thiết.
2.2. Các bài tập giúp học sinh làm quen với văn miêu tả trong sách giáo khoa
Tiếng Việt lớp 2-3.
9
a. Bài tập rèn kĩ năng quan sát, tìm ý.
a
1)
Bài tập quan sát tranh – trả lời câu hỏi:
a
2)
Bài tập đọc văn bản – trả lời câu hỏi.
b. Bài tập rèn kĩ năng sắp xếp ý, trình tự tả.
b
1)
Bài tập sắp xếp ý
b
2)

(2) Việc sử dụng các giác quan như thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc
giác là yêu cầu cần thiết trong quan sát miêu tả. Nhờ những giác quan này, học sinh
mới phát hiện ra màu sắc, hình dáng, kích thước… đặc điểm của đối tượng. Thế
nhưng trong SGK, bài tập rèn các giác quan được sử dụng trong quan sát chưa được
chú ý (cả hai lớp 2 và 3 chỉ có một bài).
(3) Việc sắp xếp các bài tập rèn kỹ năng quan sát, tìm ý cũng chưa thể hiện rõ
được tính hệ thống. Ví dụ như trước khi tổ chức cho học sinh làm bài tập quan sát
tranh – trả lời câu hỏi, cần tổ chức cho học sinh làm bài tập nhận diện các giác quan
được sử dụng trong quan sát. Bởi lẽ việc tìm ý và lựa chọn ý bao giờ cũng được hình
thành từ các thao tác nhìn, nghe, xem tranh…
(4) Một số bài tập có câu hỏi chưa thật phù hợp với trình tự quan sát.
Ví dụ như: Bài tập trang 67, SGKTV2, tập một:
(5) Sách giáo khoa lớp 2 và 3 đều chưa có những bài tập quan sát vật thật.
Tuy hệ thống bài tập cho các kĩ năng tập rèn kĩ năng quan sát, tìm ý trong văn
miêu tả ở sách giáo khoa lớp 2-3 còn một số hạn chế nhưng ta cũng không thể phủ
nhận rằng bài tập này đều có giá trị cả về mặt khoa học và sư phạm, đảm bảo cho việc
thực hiện mục tiêu giáo dục. Còn có những điểm chưa thật hoàn chỉnh trong hệ thống
bài tập rèn kĩ năng quan sát, tìm ý trong văn miêu tả ở sách giáo khoa lớp 2-3 của
phân môn Tập làm văn, qua thực tế dạy học, tôi nghiên cứu xây dựng hệ thống bài tập
bổ trợ giúp học sinh lớp 2 và 3 rèn kĩ năng quan sát, tìm ý trong văn miêu tả được
trình bày ở chương II.
CHƯƠNG II. XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN KĨ NĂNG QUAN SÁT,
TÌM Ý TRONG VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 2-3.
1. Cơ sở xây dựng bài tập.
Các nhà tâm lí học cho rằng quan sát không chỉ là nhìn phải được hiểu là tổng
thể hoạt động của các giác quan bao gồm: nhìn thấy, nghe thấy, ngửi thấy… “Quan
sát là hình thức cao nhất của tri giác”.
11
Đối với học sinh tiểu học, vốn sống, vốn hiểu biết của các em còn nghèo nàn,
các em đang trong quá trình khám phá, ưa quan sát, thích nhận xét, tìm hiểu thế giới

d) Trên mặt bàn vẽ hình cậu bé.
Bài 2. Quan sát tranh và trả lời câu hỏi
a) Tranh vẽ quả gì?
b) Quả có hình gì?
c) Màu sắc của quả ra sao?
d) Cuống nó như thế nào?
e) Khi bổ ra, ruột của nó có màu gì?
* Đáp án tham khảo.
a) Tranh vẽ quả cam.
b) Quả cam có hình tròn.
c) Quả cam khi chín có màu vàng.
d) Cuống của quả cam nhỏ và màu xanh đậm.
e) Khi bổ quả cam ra ta thấy ruột nó màu vàng nhạt.
13
Bài 3. Quan sát tranh và trả lời câu
hỏi:
a) Tranh vẽ hoa gì?
b) Bông hoa có hình dáng và màu sắc
như thế nào?
c) Cánh hoa màu gì?
d) Nhụy hoa có màu gì?
* Đáp án tham khảo
a) Tranh vẽ hoa cúc.
b) Hoa cúc có hình tròn và màu vàng đậm.
c) Cánh hoa mỏng xếp xen kẽ nhau.
d) Nhụy hoa màu đen.
Bài 4. Quan sát tranh và trả lời câu hỏi:
a) Tranh vẽ cây gì?
b) Hãy kể tên các bộ phận của cây?
c) Lá cây có màu gì? Hình thù ra sao?

c) Mào gà đỏ chót, sần sùi, giống bông hoa mào gà.
d) Gà thường gáy vào mỗi buổi sáng sớm.
Bài 7. Quan sát tranh và trả lời câu hỏi:
15
a) Tranh vẽ ai?
b) Người đó thường làm ở đâu?
c) Dáng chú thế nào?
d) Trên đầu chú đội mũ màu gì?
e) Chú mặc quần áo màu gì?
g)Vai chú đeo đồ vật gì?
h) Hãy kể tên công việc mà chú
thường làm?
* Đáp án tham khảo.
a) Tranh vẽ chú bộ đội.
b) Chú thường làm việc ở nơi biên giới, hải đảo …của Tổ quốc.
c) Chú có dáng người dong dỏng cao.
d)Trên đầu chú đội mũ màu xanh.
e) Chú mặc bộ quần áo bộ đội màu xanh.
g) Vai chú đeo ba lô.
h) Các công việc mà chú thường làm là: canh gác, bảo vệ Tổ quốc…
Bài 8. Quan sát em bé nhà em
(hoặc em bé nhà hàng xóm) trả lời các
câu hỏi sau:
a) Em bé khoảng mấy tuổi?
b) Thân hình bé thế nào?
c) Trên gương mặt bé có những nét
gì đáng yêu?
(Nước da? Đôi mắt? )
d) Khi muốn ăn, bé có thái độ, cử
chỉ đáng yêu nào?

17
a) Các từ ngữ chỉ đặc điểm từng bộ phận của chuồn chuồn nước:
- Đôi mắt: long lanh
- Bốn cánh: mỏng như giấy bóng.
- Cái đầu: tròn.
- Thân chú: nhỏ và thon vàng.
b) Tác giả đã sử dụng mắt (thị giác) để phát hiện ra đặc điểm từng bộ phận của
chuồn chuồn nước.
Bài 2. Đọc đoạn văn sau:
Cái cặp của em lại có quai chắc để em xách cho đỡ mỏi tay. Thích nhất là nó có
hai ổ khóa bằng sắt mạ kền sáng loáng để đóng vào, mở ra. Mặt khóa lấp lánh như
gương. Mỗi lần em đóng cặp, khóa kêu tanh tách nghe rất vui tai.
(Theo Trần Mạnh Hưởng)
a) Tìm những từ ngữ chỉ đặc điểm của cái cặp.
b) Viết tên các giác quan mà người viết đã dùng để quan sát vào chỗ chấm trong
mỗi câu sau:
Để nhìn thấy ổ khóa của cặp được làm bằng sắt mạ kền sáng loáng, người viết đã
quan sát bằng………………………………………………………….
- Để nhìn thấy ổ khóa mới, mặt khóa sáng lấp lánh, người viết đã quan sát bằng
…………………… ………………………………
- Để nghe thấy tiếng kêu “tanh tách” của khóa khi mở ra mở vào, người viết đã
lắng nghe bằng…………………………………………………………
 Đáp án tham khảo
a) Từ ngữ chỉ đặc điểm của cái cặp: ổ khóa: sáng loáng; mặt khóa: lấp lánh;
tiếng khóa kêu: tanh tách.
b) Để nhìn thấy ổ khóa của cặp được làm bằng sắt mạ kền sáng loáng, người viết
đã quan sát bằng mắt (thị giác).
- Để nhìn thấy ổ kháo mới, mặt khóa sáng lấp lánh, người viết đã quan sát bằng
mắt (thị giác).
- Để nghe thấy tiếng kêu “tanh tách” của khóa khi mở ra mở vào, người viết đã

Để nhận ra màu vỏ chuối tác giả
quan sát bằng:………….
Để biết chuối có vị ngọt tác giả
quan sát bằng: ……….
M: bầu trời Trong xanh
b) Tác giả phát hiện ra đặc điểm của sự vật bằng giác quan nào?

Đáp án tham khảo:
a) Từ chỉ sự vật và đặc điểm của từng sự vật được tác giả miêu tả khi mùa xuân
đến là:
- Hoa mận: tàn
- Bầu trời: thêm xanh
- Nắng: vàng rực rỡ
- Cây: đâm chồi, nảy lộc
- Vườn cây: đầy tiếng chim và bóng chim bay nhảy
- Hoa bưởi: nồng nàn
- Hoa nhãn: ngọt
- Hoa cau: thoảng qua
- Chim chích chòe: nhanh nhảu
- Khướu: lắm điều
- Chim cu: gáy trầm ngâm
b) Tác giả sử dụng các giác quan:
Mắt (thị giác) để phát hiện ra hoa mận: tàn; trời: thêm xanh; nắng: vàng rực rỡ;
cây: đâm chồi, nảy lộc; vườn cây: đầy tiếng chim và bóng chim bay nhảy; chích chòe:
nhanh nhảu; chào mào: đỏm dáng. Tai (thính giác) lắng nghe thấy: khướu: lắm điều;
chim cu: gáy trầm ngâm. Xúc giác (mũi) hoa bưởi: nồng nàn; Vị giác (lưỡi): hoa
nhãn: ngọt.
Bài 5. Đọc đoạn văn sau:
20
Ánh nắng ban mai trải xuống cánh đồng vàng óng, xua tan dần hơi lạnh mùa

Gáy ò…ó…o
Vàng óng
Đêm về khuya lặng gió. Sương phủ trắng mặt sông. Những bầy cá nhao lên đớp
sương tom tóp, lúc đầu còn loáng thoáng, dần dần tiếng tũng toãng xôn xao quanh
mạn thuyền. (Lê Lựu)
a) Đoạn văn tả cảnh gì?
b) Tác giả chọn tả những sự vật nào trong cảnh đó?
c) Để thấy được đặc điểm của từng sự vật, tác giả đã sử dụng giác quan nào để
quan sát?
* Đáp án tham khảo:
a) Đoạn văn tả cảnh đêm khuya.
b) Trong cảnh đêm khuya tác giả tả gió, sương, bầy cá dưới ao.
c) Để thấy được đặc điểm từng sự vật, tác giả dùng mắt (thị giác): thấy sương
đêm, thấy bầy cá dưới ao. Ngoài ra, tác giả dùng tai (thính giác): nghe thấy tiếng gió:
im lặng, tiếng cá đớp mồi: tom tóp, tũng tẵng, xôn xao.
Bài 8. Em chọn câu trả lời nào dưới đây:
Để phát hiện ra đặc điểm từng sự vật, ta thường sử dụng:
a) Mắt ( thị giác)
b) Tai (thính giác)
c) Mũi ( khứu giác)
d) Lưỡi ( vị giác)
e) Kết hợp tất cả các giác quan trên
- Câu trả lời em chọn: ……………………………………………………
* Đáp án tham khảo
Để phát hiện ra đặc điểm sự vật, ta thường kết hợp nhiều giác quan để quan sát.
Bài tập vận dụng
Bài 1. Em hãy sử dụng thị giác (mắt) để quan sát một số đồ vật trong ở nhà hoặc
ở lớp và ghi các đặc điểm nổi bật của chúng vào các cột phù hợp trong bảng dưới đây.
STT Tên đồ vật Hình dáng Chất liệu Màu sắc
Công dụng

dụng các từ chỉ đặc điểm, màu sắc).
* Đáp án tham khảo:
- Đầu: tròn
- Ria mép: cứng
- Bộ lông: đen tuyền/ vàng nhạt/ màu xám tro
- Mũi: ươn ướt, đỏ hồng
- Lúc bắt được chuột, mèo kêu: gừ gừ
- Lúc được ăn mèo kêu: meo meo
Bài 3. Em hãy sử dụng vị giác (lưỡi), thị giác (mắt), xúc giác (mũi) để quan sát một
loại quả trái cây mà mình yêu thích và ghi kết quả quan sát theo gợi ý sau:
23
Đầu:……………………
Ria…………………………
…………… mép:………………
Tiếng kêu:…… ………
Bộ lông :……… ………
Mũi:……………………
Lúc bắt chuột:
………………
Lúc được ăn:
………………
QUẢ
Màu sắc:……………………….
Mùi vị:…………………………
Hương thơm:…………………
* Đáp án tham khảo
Ví dụ: Quả xoài
- Màu: vàng
- Mùi vị: ngọt
- Hương thơm mát

- Thời tiết: se se lạnh
- Cây cối: đâm chồi nảy lộc
- Chim chóc: hót ríu rít
- Bầu trời: Trong xanh
- Cây cối: Đâm chồi, nảy lộc
- Chim chóc: hót ríu rít
- Con người: vui vẻ, tươi tắn
v.v…
Trên đây là hệ thống bài tập tôi xây dựng để giúp học sinh làm quen với miêu tả.
Với một tổ hợp bài tập như trên, tôi hi vọng sẽ đáp ứng nhu cầu nhận thức của học
sinh lớp 2-3, đồng thời kích thích được sự say mê, hứng thú của các em trong quá
trình học tập để nâng cao hơn nữa chất lượng dạy học Tập làm văn nói chung và văn
miêu tả nói riêng. Từ đó, các em sẽ có những kiến thức vững chắc về ngôn ngữ và sử
dụng chúng như một công cụ đắc lực trong quá trình học tập.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status