Xây dựng hệ thống bài tập rèn kỹ năng đọc hiểu cho học sinh lớp 2 - 3 - Pdf 29

- 1 -

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1. Trong giai đoạn hiện nay Giáo dục nước nhà đang đứng trước những
thuận lợi của công cuộc đổi mới đất nước, xu thế toàn cầu hoá, hội nhập quốc
tế đang ảnh hưởng mạnh mẽ đến Giáo dục. Hơn bao giờ hết những người làm
công tác giáo dục phải nhận rõ vấn đề này, để vận dụng nó cho phù hợp với
thực tiễn của địa phương.
Quá trình dạy học là quá trình lâu dài, lịch sử dạy và học có từ rất sớm,
song yêu cầu thực tế luôn đòi hỏi phải đổi mới cập nhật thực tế và phát triển.
Nhằm tìm kiếm một giải pháp tiên tiến, xây dựng một phương pháp hiện đại
cho Giáo dục thế kỉ XXI, nghị quyết Trung ương IV khoá VII đã chỉ rõ: “phải
xác định lại mục tiêu, thiết kế lại chương trình, nội dung, phương pháp giáo
dục và đào tạo áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng
cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề.” Trước yêu
cầu thực tiễn đó Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tiến hành soạn thảo chương trình
Tiểu học mới cho những năm 2000.
2. Ngày nay giáo dục Tiểu học được coi là nền tảng của hệ thống giáo
dục quốc dân, là bậc học đặt nền móng vững chắc cho cấp học tiếp theo. Học
sinh tiểu học trong thời kì công nghiệp hoá - hiện đại hoá, khả năng phát triển
tư duy của các em là vô cùng to lớn. Do vậy muốn tích cực hoá hoạt động học
tập, đem lại cho học sinh khả năng tự phát hiện, tự giải quyết vấn đề, hình
thành cho các em kĩ năng, kĩ xảo cần thiết cụ thể, thiết thực sâu sắc, khả năng
sáng tạo khi giải quyết các vấn đề là yếu tố quan trọng bậc nhất để nâng cao
chất lượng học tập của học sinh.
3. Trong chương trình Tiếng Việt của tiểu học, phân môn Tập đọc chiếm
thời lượng chủ yếu của bậc học. Nó góp phần quan trọng trong việc thực hiện
mục tiêu giáo dục tiểu học, phải đảm bảo cho học sinh có kĩ năng cơ bản về
nghe, nói, đọc, viết. Muốn nói hay viết giỏi thì trước tiên phải đọc thành thạo.
- 2 -


để đầu tư sâu bài giảng, nên phần nào làm giảm sút sự yêu thích của các em
đối với phân môn Tập đọc, mà phân môn Tập đọc là môn học nhằm hình
thành và rèn cho học sinh những kĩ năng cơ bản của người học đó là: nghe
,đọc, nói, viết. Từ đó bồi dưỡng cho học sinh tình yêu Tiếng Việt và góp phần
hình thành nhân cách con người Việt Nam mới.
Chính vì những lí do thiết thực nêu trên, nên tôi đã chọn cho mình đề tài
“Xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng đọc hiểu cho học sinh lớp 2,3” để
tìm hiểu và nghiên cứu trong luận văn của mình.
Thời gian gần đây đã có nhiều tác giả quan tâm đến phân môn Tập đọc
đặc biệt là vấn đề rèn kĩ năng đọc hiểu cho học sinh Tiểu học.
Trong cuốn “Dạy học đọc hiểu ở Tiểu học” xuất bản năm 2002 tác giả
Nguyễn Thị Hạnh đã khẳng định việc dạy đọc hiểu cho học sinh Tiểu học có
vai trò quan trọng trong quá trình học tập của học sinh. Theo tác giả có kĩ
năng đọc hiểu học sinh sẽ từng bước thành thạo các thao tác tư duy, từ đó
cùng với các môn học khác góp phần hình thành năng lực giải quyết vấn đề ở
các em.
Năm 2003 tác giả Lê Phương Nga xuất bản cuốn sách “Dạy tập đọc ở
Tiểu học”. Đây là tài liệu bổ trợ giúp cho học sinh, sinh viên và những ai quan
tâm đến việc dạy học Tập đọc ở Tiểu học có cái nhìn sâu hơn về cách dạy
phân môn này.
Năm 2004, các tác giả Nguyễn Trí, Nguyễn Trọng Hoàn, Giang Khắc
Bình đã tuyển chọn các bài văn, bài thơ hay trong chương trình Tiếng việt ở
Tiểu học, tiến hành phân tích để tìm ra vẻ đẹp của các tác phẩm đó trong hai
cuốn sách: “Tìm hiểu vẻ đẹp bài thơ ở Tiểu học” và “Tìm hiểu vẻ đẹp bài văn
ở Tiểu học”.
Qua việc nghiên cứu các công trình trên, chúng tôi thấy rõ sự cần thiết
của việc xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng đọc hiểu cho học sinh. Tiếp
- 4 -


PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ DẠY ĐỌC HIỂU
VÀ BÀI TẬP RÈN KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU CHO HỌC SINH
TRONG MÔN TẬP ĐỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC

1.1. Cơ sở lí luận của hoạt động đọc hiểu
Môn tiếng Việt góp phần đắc lực vào thực hiện mục tiêu đào tạo thế hệ
trẻ ở tiểu học theo đặc trưng bộ môn. Việc dạy tiếng Việt trong nhà trường tạo
cho học sinh năng lực sử dụng tiếng Việt văn hoá để suy nghĩ, giao tiếp và
học tập. Thông qua việc học tiếng Việt nhà trường rèn cho các em năng lực tư
duy, phương pháp suy nghĩ, giáo dục cho các em những tư tưởng, tình cảm
lành mạnh, trong sáng. Phải tác động nhiều tới cảm xúc và tình cảm của các
em để phát triển dần ý thức và lí trí của các em.
Cuối bậc tiểu học, yêu cầu tối thiểu học sinh phải đạt được là đọc
thông, viết thạo mặt chữ, sử dụng được ngôn ngữ nói và viết trong học tập và
giao tiếp.
Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong
sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt
Nam mới.
Hệ thống bài tập rèn kĩ năng đọc hiểu cho học sinh là giải pháp dạy học
tích cực trong dạy học phân môn tập đọc. Đọc- hiểu giúp trẻ em chiếm lĩnh
được ngôn ngữ dùng trong giao tiếp và học tập, vì vậy việc đọc hiểu thực sự
quan trọng đối với học sinh nói chung và học sinh tiểu học nói riêng.
1.1.1. Nhiệm vụ của giờ tập đọc ở tiểu học
Tập đọc là phân môn thực hành. Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là
hình thành năng lực đọc cho học sinh. Năng lực đọc được tạo nên từ bốn kĩ
năng cũng là bốn yêu cầu về chất lượng “đọc” : đọc đúng, đọc nhanh đọc lưu
- 6 -

loát trôi chảy, đọc hiểu (thông hiểu được nội dung những điều mình đọc) hay

đọc (2 bài ).
Để có cách đánh giá về hoạt động dạy và học phân môn tập đọc của
thầy trò ở Tiểu học chúng ta cần nắm được quy trình giảng dạy tập đọc lớp
2,3.
1. Kiểm tra bài cũ
Học sinh đọc bài tập đọc, học thuộc lòng bài thơ, đoạn văn hoặc kể lại nội
dung câu chuyện đã học ở tiết trước. Giáo viên nhận xét và có thể hỏi thêm về
nội dung đoạn, bài đã đọc để củng cố kĩ năng đọc hiểu.
2. Dạy bài mới
a) Giới thiệu bài
b) Luyện đọc
Nội dung và trình tự thực hiện các hoạt động là:
- GV đọc diễn cảm toàn bài.
- GV hướng dẫn học sinh đọc kết hợp giải nghĩa từ.
+ Đọc từng câu
HS nối tiếp nhau đọc từng câu (một hoặc hai lượt). GV sửa lỗi phát âm
(nếu có) cho HS.
+ Đọc từng đoạn trước lớp
Một vài HS tiếp nối nhau đọc từng đoạn trong bài (một, hai lượt). GV
giúp HS đọc đúng.
GV giúp HS nắm nghĩa các từ mới.
+ Đọc từng đoạn trong nhóm
Từng cặp HS đọc và góp ý cho nhau về cách đọc. GV theo dõi, hướng
dẫn các nhóm đọc đúng.
- 8 -

+ Cả lớp đọc đồng thanh một đoạn hoặc cả bài. (Việc đọc đồng thanh
không áp dụng đối với một số văn bản có nội dung buồn và một số văn bản
thông thường)
c) Hướng dẫn tìm hiểu bài

câu trong những tuần này cũng hướng về mở rộng vốn từ tổ quốc.
Mặt khác các văn bản tập đọc phải đáp ứng yêu cầu về tư tưởng, tính
nghệ thuật và phù hợp với trình độ nhận thức của các em. Các bài tập đọc của
các tác giả trong nước như Tô Hoài, Trần Đăng Khoa, Phạm Hổ, hay những
câu truyện thần thoại Hi Lạp, truyện ngụ ngôn La Phông ten, được trải dài
trong suốt 5 năm tiểu học. Đó đều là những áng văn giàu hình tượng, cảm
xúc, có cách diễn đạt trong sáng, chuẩn mực, phù hợp với các em và có ý
nghĩa giáo dục sâu sắc.
Các văn bản tập đọc còn đảm bảo yêu cầu tích hợp theo chiều ngang và
chiều dọc. Theo chiều ngang, mỗi văn bản tập đọc ngoài rèn kĩ năng đọc và
trang bị kiến thức về chủ điểm thì văn bản còn làm vật liệu mẫu để mở rộng
vốn từ, rèn kĩ năng viết văn hay chính tả. Theo chiều dọc, mỗi văn bản tập
đọc là sự kế thừa kiến thức và kĩ năng ở lớp dưới để chuẩn bị cho kiến thức và
kĩ năng mới xuất hiện. Ví dụ bài Vẽ về cuộc sống an toàn thuộc chủ điểm Vẻ
đẹp muôn màu tuần 24, lớp 4 là sự kế thừa và phát triển chủ điểm Nghệ thuật
ở lớp 3.
Ngoài ra các văn bản tập đọc còn đảm bảo sự cân đối giữa văn học dân
gian và văn học hiện đại, văn học Việt Nam và văn học nước ngoài.
Các văn bản được tuyển chọn trong phân môn Tập đọc ở Tiểu học đều
phù hợp với tâm lí lứa tuổi các em và được nâng dần theo từng khối lớp. Ví
dụ ở lớp 1 là những bài đọc thú vị, bổ ích, gần gũi với thế giới hồn nhiên, tươi
- 10 -

tắn của trẻ. Ở lớp 2 và lớp 3 thì xuất hiện nhiều hơn các văn bản văn học nước
ngoài, văn bản báo chí, hành chính, cung cấp cho các em một số kiến thức
và kĩ năng cần thiêt trong đời sống, phản ánh các mối quan hệ như gia đình,
nhà trường, quê hương. Lên lớp 4, lớp 5 thì xuất hiện nhiều thể loại văn bản
hơn nhất là văn bản nghệ thuật như kịch, truyện, thơ Nội dung các văn bản
phản ánh những vấn đề lớn đang đặt ra trước thực tế cuộc sống nhân dân ta
cũng như toàn nhân loại. Ngoài ra các văn bản còn sắp xếp theo chiều tăng

người mới biết đọc và người đọc thành thạo. Càng có khả năng tổng hợp các
mặt trên bao nhiêu thì việc đọc càng hoàn thiện, chính xác và biểu cảm bấy
nhiêu.
Dễ dàng nhận thấy rằng thuật ngữ đọc được sử dụng trong nhiều nghĩa
: Theo nghĩa hẹp, việc hình thành kĩ năng đọc trùng với nắm kĩ năng đọc tức
là việc chuyển dạng thức chữ viết của từ thành âm; theo nghĩa rộng, đọc được
hiểu là kĩ thuật đọc cộng với sự thông hiểu điều được đọc không chỉ hiểu
nghĩa của những từ riêng lẻ mà cả câu, cả bài. Ý nghĩa hai mặt của thuật ngữ
đọc được ghi nhận trong các tài liệu tâm lí học và phương pháp dạy học. Từ
đây chúng ta sẽ hiểu đọc với nghĩa thứ hai - đọc được xem như là một hoạt
động lời nói trong đó có các thành tố: 1.tiếp nhận dạng thức chữ viết của từ;
2. chuyển dạng thức chữ viết thành âm thanh, nghĩa là phát âm các từ theo
từng chữ cái đánh vần hay là đọc trơn từng tiếng tuỳ thuộc vào trình độ nắm
bắt kĩ thuật đọc; 3. thông hiểu những gì được đọc từ, cụm từ, câu, bài.
Dạy đọc là dạy một kĩ năng
Kĩ năng đọc là một kĩ năng phức tạp, đòi hỏi một quá trình luyện tập
lâu dài. Trong cuốn sách Dạy đọc và học đọc - Nhà xuất bản Giáo dục. Hà
Nội. 1982 của Lê Hữu Tỉnh - Trần Mạnh Hưởng đã chia việc hình thành kĩ
năng này ra làm ba giai đoạn: phân tích, tổng hợp còn gọi là giai đoạn phát
- 12 -

sinh, hình thành một cấu trúc chỉnh thể của hành động và giai đoạn tự động
hoá.
Giai đoạn dạy học vần là sự phân tích các chữ cái và đọc từng tiếng
theo các âm. Giai đoạn tổng hợp thì đọc thành cả từ trọn vẹn, trong đó sự tiếp
nhận “từ” bằng thị giác và phát âm hầu như trùng với nhận thức ý nghĩa. Tiếp
theo sự thông hiểu ý nghĩa của từ trong cụm từ hoặc câu đi trước sự phát âm,
tức là đọc được thực hiện trong sự đoán nghĩa. Bước sang lớp 2, lớp 3 thì học
sinh bắt đầu đọc tổng hợp. Trong những năm cuối cấp, đọc ngày càng tự động
hoá, nghĩa là người đọc ngày càng ít quan tâm đến quá trình đọc mà chú ý

một chiều duy nhất về phía trước mà thỉnh thoảng quay lại những dòng chữ
đã lướt qua để nhận biết thêm những điều còn bỏ sót. Mỗi lần quay trở lại là
một bước quy hồi. Rèn kĩ năng đọc là hướng tới mở rộng trường nhìn và giảm
bước quy hồi cho học sinh.
Quá trình đọc hiểu văn bản bao gồm các bước sau: 1. hiểu nghĩa các từ,
các ngữ; 2. hiểu các câu; 3. hiểu nghĩa các đoạn; 4. hiểu được cả bài. Đây
chính là cơ sở cho việc xây dựng các bài tập đọc hiểu ở các dạng khác nhau
để giúp học sinh hiểu nghĩa từ như: có các bài tập tái hiện chi tiết, hình ảnh để
giải thích cho từ chốt, từ trung tâm giúp học sinh hiểu ý các câu, đoạn và có
các bài tập phân tích, suy luận, tìm hiểu ý, đoạn giúp học sinh hiểu nội dung,
ý nghĩa bài.
Học sinh tiểu học không phải bao giờ cũng dễ dàng hiểu được những
điều mình đọc. Ở lớp 1, 2 hầu như toàn bộ sức chú ý đều tập trung nhận ra
mặt chữ, đánh vần để phát thành âm. Mặc dù đến lớp 4, 5 học sinh đã đọc
thông thạo, có khả năng đọc nhanh, lưu loát nhưng khả năng tìm hiểu nghĩa
còn yếu vì học sinh chưa có đủ thời gian và năng lực nhận biết. Mặt khác, do
- 14 -

vốn từ còn ít, năng lực liên kết câu thành ý còn hạn chế nên việc hiểu và nhớ
nội dung còn khó khăn. Đây là cơ sở để đề xuất các biện pháp hình thành
năng lực đọc hiểu cho học sinh Tiểu học.
Lí thuyết hoạt động cho biết “Mỗi con người là thực thể tự nhiên làm ra
mình bằng hoạt động của chính mình.” Mỗi một học sinh muốn có kĩ năng
hay tri thức gì đều phải tự mình làm ra. Hoạt động đọc, từ đọc đến hiểu học
sinh cũng phải tự làm lấy. Trong dạy học mỗi một người học phải tự mình tìm
ra kiến thức cho mình chứ không thể truyền kiến thức từ người này sang
người khác. Quan điểm dạy học thầy rót kiến thức cho học trò như rót nước
vào bình cho đầy đã lạc hậu, thay thế nó là một loạt các phương pháp và hình
thức dạy học mới nhằm tích cực hoá hoạt động của học sinh. Đó chính là dạy
học lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên là người tổ chức điều khiển, học

đọc, tốc độ đọc các kiểu câu, cách lên giọng ở cuối câu hỏi hay xuống giọng ở
cuối câu kể, giúp ích rất nhiều cho việc đọc hiểu văn bản, nhất là văn bản
nghệ thuật. Thực tế, học sinh khó có thể đọc đúng, đọc diễn cảm, đọc hiểu
được, nên giáo viên phải là người làm nhiệm vụ hướng dẫn, làm mẫu, gợi ý
cho học sinh.
Nghiên cứu ngữ nghĩa của lời, các tác giả ngữ pháp đặc biệt quan tâm
đến mối quan hệ giữa các câu và hoàn cảnh phát ngôn. Để hướng dẫn học
sinh đọc hiểu văn bản, trước hết phải giúp học sinh nắm được văn bản đó
thuộc loại văn bản nào? Các tầng nghĩa tường minh, nghĩa hàm ẩn của câu,
của văn bản.
Cơ sở ngữ âm học
Trong nhà trường Tiểu học việc phát âm đúng tiếng Việt là một yêu cầu
cấp thiết hàng đầu. Điều này có liên quan và ảnh hưởng lớn đến việc dạy tập
đọc. Một vấn đề đặt ra là chữ viết phân biệt trong hệ thống chuẩn, nhưng cách
- 16 -

đọc của học sinh lại thể hiện ngữ âm của phương ngữ. Điều đó gây ra nhiều
khó khăn trong việc dạy phân môn Tập đọc.
Vấn đề chuẩn mực phát âm tiếng Việt là vấn đề thời sự và đang có
nhiều ý kiến khác nhau. Giải quyết như thế nào những nét khác biệt trên bình
diện ngữ âm giữa các phương ngữ - một hiện tượng khách quan có liên quan
trực tiếp đến việc xác định chuẩn chính âm để giúp học sinh đọc đúng. Ví dụ
phải đọc đúng các từ : luôn luôn, lạnh lẽo, chứ không phải đọc là: luông
luông, lạnh lẻo, Ngoài ra đọc đúng còn có ý nghĩa là đọc đúng ngữ điệu,
bao gồm lên giọng, xuống giọng, nhấn giọng, ngắt hơi, cường độ, cao độ,
Để giúp học sinh đọc tốt thì phải hướng dẫn học sinh tìm hiểu thật tốt văn
bản, chữ nghĩa, nội dung văn bản và “lắng nghe” xem văn bản đã gây cảm
xúc gì về âm thanh, ngữ điệu. Vì vậy ngữ điệu rất quan trọng trong việc đọc
diễn cảm và trong việc đọc hiểu văn bản.
1.1.5. Nhiệm vụ đọc hiểu trong giờ tập đọc lớp 2, 3

trong phân môn Tập đọc mà còn với tất cả các môn học khác nữa. Đọc hiểu
giúp cho học sinh tiếp thu bài học một cách dễ dàng và nhanh chóng, không
những thế còn giúp học sinh biết sắp xếp kiến thức thành một hệ thống lô gíc,
khoa học.
1.2. Quan điểm dạy học tích cực và các phương pháp dạy học tích cực
1.2.1. Định hướng của Bộ Giáo dục về đổi mới phương pháp dạy học môn
Tiếng Việt
Nghị quyết Trung ương IV khoá VII nêu rõ: “phải xác định lại mục tiêu,
thiết kế lại chương trình, kế hoạch, nội dung, phương pháp dạy và học ở tất cả
các bậc học cấp học áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi
dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề” và
đến đại hội IX, Đảng chỉ rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào
- 18 -

tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của
người học. Từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến, hiện đại vào quá trình
dạy học”. Trước những yêu cầu thực tiễn đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tiến
hành soạn thảo chương trình Tiểu học mới cho những năm 2000.
Chương trình đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo thẩm định năm 1998 và
thực hiện trong phạm vi cả nước từ năm học 2002 - 2003 chương trình Tiểu
học mới đối với lớp 1. Năm học 2003 - 2004 đối với lớp 2. Năm 2004 - 2005
đối với lớp 3, năm 2005 - 2006 đối với lớp 4, năm 2006 - 2007 đối với lớp 5.
Những định hướng chính trong đổi mới phương pháp dạy học
Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy cao độ tính tích
cực chủ động sáng tạo của HS trong quá trình lĩnh hội tri thức
Tính tích cực là một đặc điểm vốn có của con người. Con người không
chỉ là khách thể mà còn là chủ thể của các quan hệ xã hội, thể hiện ở chỗ tích
cực tiếp thu có chọn lọc tất cả những tác động bên ngoài để sáng tạo và xây
dựng nhân cách riêng của mình. Nguồn gốc của tích cực là nhu cầu. Con
người sinh ra với một loạt nhu cầu bẩm sinh khác nhau, thí dụ nhu cầu ăn,

vào người sử dụng biết phát triển và thích nghi nó đến mức độ nào. Nếu các
PPDH được bổ sung cho nhau thì cách dạy học ấy sẽ phù hợp được với đối
tượng học đa dạng, chống sự nhàm chán tạo ra sự năng động trong cách nghĩ
cách làm của HS.
Đổi mới PPDH theo hướng phát triển khả năng tự học của học sinh
Cần hình thành cho học sinh phương pháp tự học, tăng cường các hoạt
động tự tìm kiếm tri thức hay ứng dụng tri thức vào cuộc sống.
Nguồn gốc của tính tích cực là nhu cầu. Khi đứa trẻ có nhu cầu thì nó
sẽ tự giác tìm kiếm tri thức. Khi phát hiện tình huống mâu thuẫn của lí thuyết
- 20 -

hay thực tế mà bằng kiến thức cũ không giải quyết được, học sinh buộc phải
tìm con đường khám phá mới.
Khả năng tự học là năng lực rất quan trọng cho sự thành đạt của mỗi cá
nhân. Muốn vậy, người giáo viên cần hướng dẫn HS phương pháp tự học sao
cho hiệu quả, thí dụ như hướng dẫn HS tự lực suy nghĩ giải quyết vấn đề,
cách ghi nhớ, tâm thế thi đua vượt thử thách như vậy, khả năng tự học được
rèn luyện ngay cả khi học trên lớp và học ở nhà
Đổi mới PPDH theo hướng kết hợp hoạt động cá nhân với hoạt động
nhóm và phát huy khả năng của cá nhân
Tập thể HS được sử dụng như môi trường và phương tiện để tổ chức
quá trình học tập tích cực nhất cho từng cá nhân. Lợi thế của dạy tập thể cho
mỗi cá nhân là:
- Tạo ra sự đua tranh.
- Tạo ra nhiều cách nghĩ, nhiều phương án hành động.
- HS có thể hỗ trợ nhau, cùng nhau tìm kiếm, hình thành kiến thức bằng
trí tuệ chung.
- HS sẽ có kĩ năng hoạt động tập thể và khẳng định được mình thông
qua tập thể.
Đổi mới PPDH theo hướng tăng cường kĩ năng thực hành

Giúp HS chiếm lĩnh tri thức khoa học và kĩ năng thực hành.
Dạy và học phương pháp nhận thức để tìm ra tri thức.
Dạy và học thái độ học tập, hình thành nhân cách người học toàn diện.
Với những yêu cầu mới đặt ra cho giáo dục tiểu học những nhiệm vụ
mới: xem xét lại mục tiêu, nội dung chương trình giáo dục. Bậc tiểu học là
bậc học nền tảng nên sự đổi mới lại càng cần thiết và quan trọng. Chính vì
vậy đã từ nhiều năm nay, giáo dục tiểu học đã có sự thay đổi mạnh mẽ.
- 22 -

*Về mục tiêu
Trong đổi mới chương trình tiểu học, mục tiêu đã được cụ thể hoá bằng
kế hoạch hành động sư phạm bao gồm:
- Những nội dung kiến thức và phẩm chất năng lực cần đạt ở HS
- Các phương pháp và phương tiện dạy học, các hoạt động dạy học cụ
thể.
- Các cách thức đánh giá kết quả học tập của HS.
*Về nội dung
Nội dung chương trình Tiểu học được soạn thảo hiện đại, tinh giảm,
thiết thực và cập nhật sự phát triển của khoa học - công nghệ, kinh tế - xã hội,
tăng cường thực hành vận dụng, gắn bó với thực tiễn Việt Nam. Hơn nữa nội
dung chương trình và sách giáo khoa có tính thống nhất cao, phù hợp với
trình độ phát triển chung của số đông HS, tạo cơ hội và điều kiện học tập cho
mọi HS, phát triển năng lực của từng đối tượng HS, góp phần phát hiện và bồi
dưỡng những HS có năng lực đặc biệt. Cụ thể là:
- Tập trung vào các kĩ năng cơ bản: nghe, đọc, nói, viết và tính toán.
Xác định Tiếng Việt và Toán là các môn học chủ chốt, chuẩn bị công cụ (kĩ
năng và phương pháp tư duy) để học tập các môn học khác và để phát triển
năng lực cá nhân.
- Coi trọng đúng mức các kĩ năng sống trong cộng đồng, thích ứng với
những đổi mới diễn ra hàng ngày

quan trọng tạo nên hiệu quả dạy học.
Các kiến thức về ngôn ngữ, văn học, tự nhiên và xã hội, học sinh tiếp
thu qua lời giảng và chỉ khi các em hành động có ý thức thì học sinh mới làm
chủ được tri thức. Bằng rèn luyện thực tế mà những tư tưởng, tình cảm, nhân
- 24 -

cách tốt đẹp của học sinh được hình thành vững chắc.Với các hình thức luyện
tập trong sách giáo khoa Tiếng Việt giáo viên và học sinh thực hiện tích cực
hoá hoạt động dạy và học. Trong đó giáo viên đóng vai trò là người tổ chức
hoạt động cho học sinh, mỗi học sinh đều được hoạt động, bộc lộ mình và
phát triển.
Thực hiện quan điểm tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh, sách
giáo khoa Tiếng Việt không dạy kiến thức lí thuyết như là cái có sẵn mà tổ
chức hoạt động để học sinh nắm được kiến thức sơ giản và có kĩ năng sử dụng
Tiếng Việt tốt, chính vì vậy đã tạo ra những chuyển biến rõ rệt trong nhà
trường tiểu học ở Việt Nam
Theo quan điểm dạy học tích cực thì nguyên tắc dạy học một lớp học
mới rất đơn giản. Nó giống như nguyên tắc tập luyện của một đội bóng, trong
đó giáo viên là huấn luyện viên, đóng vai trò tổ chức cho học sinh thực hiện
các nhiệm vụ nêu trong sách giáo khoa để tự chiếm lĩnh kiến thức, phát triển
kĩ năng thực hành; còn về phía học sinh, nếu không tự mình thực hiện đủ các
bài luyện tập thì không có được thể lực, kĩ năng và kiến thức cần thiết đối với
một cầu thủ.
1.2.3. Phương pháp dạy học tích cực
Phương pháp dạy học tích cực là những phương pháp dạy học theo
hướng phát huy tính chủ động, độc lập và sáng tạo, hướng tới việc hoạt động
hoá, tích cực hoá hoạt động nhận thức của người học. Phương pháp dạy học
tích cực có đặc trưng cơ bản là :
- Người học: tập trung cao độ trong học tập, chủ động tìm tòi khám phá
nội dung học tập, chủ động giải quyết các vấn đề phù hợp với khả năng hiểu

đổi, thảo luận để giải quyết nhiệm vụ, HS được đóng vai, được tham gia vào


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status