Xây dựng một số bài tập rèn kĩ năng phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa cho học sinh tiểu học - Pdf 30

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

NGUYỄN THỊ TƢƠI

XÂY DỰNG MỘT SỐ BÀI TẬP
RÈN KĨ NĂNG PHÂN BIỆT
TỪ ĐỒNG ÂM, TỪ NHIỀU NGHĨA
CHO HỌC SINH TIỂU HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt

HÀ NỘI – 2015


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

NGUYỄN THỊ TƢƠI

XÂY DỰNG MỘT SỐ BÀI TẬP
RÈN KĨ NĂNG PHÂN BIỆT
TỪ ĐỒNG ÂM, TỪ NHIỀU NGHĨA
CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học

TS. LÊ THỊ LAN ANH

Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Tác giả khoá luận

Nguyễn Thị Tươi


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU

1

1.

Lí do chọn đề tài

1

2.

Lịch sử vấn đề

2

3.

Mục đích nghiên cứu

3



Từ đồng âm

5
5

1.1.1. Khái niệm

5

1.1.2. Đặc điểm của từ đồng âm

5

1.1.3. Giá trị sử dụng từ đồng âm

6

1.2.

Từ nhiều nghĩa

7

1.2.1.

Khái niệm

7


13

2.1.1. Hệ thống những bài sử dụng kiến thức từ đồng âm

13

2.1.2. Hệ thống những bài sử dụng kiến thức từ nhiều nghĩa

14

2.2.

Nhận xét chung

15


2.3.

Thực trạng dạy- học kiểu bài từ đồng âm, từ nhiều nghĩa
ở tiểu học

22

2.3.1. Mục đích điều tra

22

2.3.2. Đối tượng điều tra



Bài tập rèn kĩ năng phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa

37

KẾT LUẬN

42

TÀI LIỆU THAM KHẢO

43

PHỤ LỤC


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp của con người. Mỗi người đều phải học
ngôn ngữ để có thể giao tiếp, trao đổi tình cảm, tư tưởng của mình với mọi
người. Trong hệ thống giáo dục quốc dân, Giáo dục Tiểu học giữ vai trò nền
tảng với mục đích và nhiệm vụ là trang bị những cơ sở ban đầu và cơ bản nhất
của người công dân tương lai. Đó là những con người phát triển toàn diện về
trí thức, thể chất, đạo đức, tích cực và sáng tạo.
Đất nước Việt Nam đang trên đà đổi mới, một trong những đặc điểm
nổi bật nhất của xã hội hiện đại là sự thay đổi nhanh chóng, những biến đổi
mạnh mẽ và không ngừng nghỉ của mọi yếu tố, nhất là khoa học kĩ thuật và
công nghệ. Để tiến kịp với thời đại và phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, ngành Giáo dục và Đào tạo nói chung và trường tiểu học nói riêng
phải đặt ra những mục tiêu, yêu cầu và nhiệm vụ phù hợp. Đặc biệt, trong

biết cách sử dụng hai loại từ này một cách linh hoạt, chúng tôi đã chọn đề tài
Xây dựng một số bài tập rèn kĩ năng phân biệt từ đồng âm và từ nhiều
nghĩa cho học sinh tiểu học.
Đề tài này chắc chắn sẽ có ý nghĩa thiết thực, góp phần nâng cao chất
lượng dạy học kiểu bài từ đồng âm, từ nhiều nghĩa cũng như chất lượng dạy
học tiếng Việt nói chung.
2. Lịch sử vấn đề
Vấn đề về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa đã được các nhà nghiên cứu
đề cập từ rất lâu. Có rất nhiều công trình nghiên cứu về từ vựng nói đến từ
đồng âm, từ nhiều nghĩa. Sau đây, tôi xin sơ lược qua một số tài liệu viết
về vấn đề này.
Hai tác giả Lê Phương Nga,Nguyễn Trí trong giáo trình Phương pháp
dạy học Tiếng Việt 2 - Nxb ĐHSP-2004đã chú ý đến cách nhận diện từ đồng
âm, từ nhiều nghĩa.

2


Trong cuốn Hỏi-Đáp về dạy học Tiếng Việt 5-Nxb Giáo dục Việt Nam
đã trình bày biện pháp chơi chữ và những dấu hiệu để phân biệt từ đồng âm
và từ nhiều nghĩa.
Tuy nhiên, các tài liệu trên chỉ nêu hiện tượng đồng âm, nhiều nghĩa.
Song chưa có tài liệu nào trình bày về việc phân biệt từ đồng âm, từ nhiều
nghĩa. Chính vì vậy, đề tài này của chúng tôi sẽ định hướng một cách cụ thể
cho việc phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa phục vụ cho đông đảo giáo
viên, đặc biệt là giáo viên tiểu học.
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này nhằm xây dựng được một số bài tập rèn kĩ năng
phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa cho học sinh tiểu học góp phần nâng cao
chất lượng dạy học Tiếng Việt nói chung và phân môn Luyện từ và câu nói

chương:
Chương 1. Cơ sở lí luận của việc dạy học từ đồng âm, từ nhiều nghĩa.
Chương 2. Thực trạng việc dạy học kiểu bài từ đồng âm, từ nhiều
nghĩa.
Chương 3.Một số bài tập rèn kĩ năng phân biệt từ đồng âm, từ nhiều
nghĩa cho học sinh tiểu học.

4


NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC DẠY HỌC
TỪ ĐỒNG ÂM,TỪ NHIỀU NGHĨA
1.1. Từ đồng âm
1.1.1. Khái niệm
Theo tác giả Đào Duy Anh trong cuốn Hán Việt từ điển giản yếu thì
“đồng âm là những tiếng giống nhau” [2,tr.208].
Tác giả Hoàng Phê trong cuốn Từ điển tiếng Việt đã giải thích từ đồng
âm là “những từ có vỏ ngữ âm giống nhau nhưng khác nhau về mặt ý nghĩa
[7,tr.432].
Theo Nguyễn Minh Thuyết trong cuốn Hỏi - Đáp Tiếng Việt 5: “Từ
đồng âm là những từ có hình thức ngữ âm giống nhau nhưng có nghĩa hoàn
toàn khác biệt nhau và không hề liên quan với nhau” [8,tr.129].
Qua các ý kiến trên, chúng ta có thể đưa ra định nghĩa về từ đồng âm
như sau: Từ đồng âm là những từ trùng nhau về hình thức ngữ âm nhưng khác
nhau về ý nghĩa.
Ví dụ: Trong tiếng Việt có những nhóm từ đồng âm như: Đồng
Đồng1:là nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn nguyên tố có ký hiệu
Cu và số nguyên tử bằng 29. Đồng là kim loại dẻo có độ dẫn điện và dẫn nhiệt
cao. Đồng nguyên chất mềm và dễ uốn; bề mặt đồng tươi có màu cam đỏ.

mồm bò1,3: là hoạt động của mồm.
mồm bò2: là mồm của con bò.
Hoặc trong câu: Bác bác trứng, tôi tôi vôi. Nghĩa của các từ đồng ậm
như sau:
bác1: là đại từ.
bác2: là động từ.
tôi1: là đại từ.
tôi2: là động từ.
6


Sử dụng từ đồng âm để chơi chữ là một trong những yếu tố thể hiện sự
tài giỏi, hiểu biết của người xưa. Sử dụng từ đồng âm để chơi chữ tạo nên sự
bất ngờ, lí thú, gây cười cho người nghe. Ví dụ trong bài ca dao:
Bà già đi chợ Cầu Đông
Bói xem một quẻ lấy chồng lợi1 chăng?
Thầy bói gieo quẻ nói rằng:
Lợi2 thì có lợi3 nhưng răng không còn.
lợi1: lợi lộc, ý muốn nói lấy chồng có lợi lộc gì không.
lợi2,3: nói đến lợi ở răng.
Sử dụng từ đồng âm lợi (lợi lộc) với lợi (răng lợi) tạo nên sự bất ngờ
thú vị, tạo nên tiếng cười ngộ nghĩnh, hóm hỉnh cho người đọc.
Bên cạnh sử dụng từ đồng âm để chơi chữ thì người ta còn sử dụng từ
đồng âm để giao tiếp trong cuộc sống hằng ngày.
Đêm nay, trời nhiều sao.
Vì sao trời lại có sao?
Bạn làm sao thế?
Sao thuốc là làm thế nào?
Hay:
Đi mua một cân đường mà sao con đi lâu thế, đường đâu có xa?

1.2.2.1. Dùng để gọi tên sự vật, đồ vật
Trong từ nhiều nghĩa, bao giờ chúng ta cũng xác định được nghĩa gốc
của từ. Dựa vào nghĩa gốc này, ta có thể mở rộng vốn từ để gọi tên sự vật, đồ
vật. Chẳng hạn:
Nghĩa của từ đầu:
1. Chỉ bộ phận trên cùng của người hay động vật (đầu người, đầu gà).
2. Chỉ phần đầu tiên, phần trên cùng của một sự vật nào đó (đầu nhà,
đầu làng, đầu nguồn…)
Nghĩa của từ xuân:
Mùa xuân1 là tết trồng cây,
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân2.

8


Xuân1: Mùa đầu tiên trong năm, mùa trăm hoa đua nở, tươi đẹp.
Xuân2: Chỉ sự tươi đẹp.
1.2.2.2. Làm phong phú vốn từ cho người sử dụng
Từ trong tiếng Việt rất phong phú và đa dạng. Nó tạo cho chúng ta sự
lựa chọn khi sử dụng. Một trong những yếu tốt tạo nên sự phong phú của từ
ngữ tiếng Việt chính là từ nhiều nghĩa. Chỉ một từ nhưng nhờ hiện tượng
chuyển nghĩa của từ, từ nghĩa gốc mà tạo ra nhiều nghĩa khác nhau mà vẫn
liên quan đến nghĩa gốc. Chính vì thế, làm phong phú vốn từ cho học sinh, và
hơn nữa giúp học sinh liên tưởng tốt hơn.
1.3.Phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa
1.3.1. Sự giống nhau giữa từ đồng âm và từ nhiều nghĩ
- Từ đồng âm và từ nhiều nghĩa được hình thành từ quy luật tiết kiệm
của ngôn ngữ - dùng ít kí hiệu nhưng biểu đạt được nhiều.
Ví dụ: từ cày có các nghĩa biểu đạt sau:
1. Là danh từ, chỉ một loại đồ vật dùng trong nhà nông, dùng để xới đất

Đầm trong cái đầm đất chỉ vật nặng có cán, dùng để nện đất cho chặt.
Từ đồng âm hình thành do nhiều cơ chế:
 Do trùng hợp ngẫu nhiên (gió bay, bọn bay, cái bay).
 Do chuyển nghĩa quá xa mà thành (lắm kẻ vì [nể], vì lí do gì).
 Do từ vay mượn trùng với từ sẵn có (la mắng, nốt la).
 Do sự rút gọn trùng hợp với từ sẵn có (2 kí, chữ kí).
b, Từ nhiều nghĩalà một từ nhưng có nhiều nghĩa. Đây là các nghĩa khác nhau
của cùng một từ, các nghĩa có mối liên hệ với nhau. Từ nhiều nghĩa được hình
thành do cơ chế chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ hoặc hoán dụ.
Ví dụ:
Mũi trong mũi dọc dừa mang nghĩa gốc (chỉ bộ phận của cơ quan hô
hấp, có dáng nhọn, nhô về phía trước mặt người hoặc động vật).

10


Mũi trong mũi dao, mũi tên, mũi thuyền đều là nghĩa phái sinh được
hình thành do phương thức ẩn dụ rút ra từ điểm tương đồng (giống nhau): vật
có dáng nhọn, nhô về phía trước.
Mũi trong mũi dãi là nghĩa phái sinh, được hình thành theo phương
thức hoán dụ, rút là từ điểm tương cận (gần nhau) giữa hai đối tượng: chất
nhày tiết ra ở mũi.
Như vậy, từ nhiều nghĩa có điểm khác cơ bản so với từ đồng âm là:
Từ đồng âm là nhiều từ nhưng nghĩa của các từ đó trong văn cảnh đều
là nghĩa gốc.
Từ nhiều nghĩa thì chỉ là một từ có nghĩa gốc còn các nghĩa khác là
nghĩa chuyển từ nghĩa gốc.
Ví dụ:
bàn trong cái bàn và bàn trong bàn công việc đều mang nghĩa gốc.
Ví dụ:


nghĩa.

Ví dụ: hòn đá và đá bóng.

Ví dụ: viên đá và nước đá

- Có nghĩa hoàn toàn khác biệt
nhau, không có bất cứ mối liên hệ

Các nghĩa có liên quan với

-

nào.

nhau.
Ví dụ:
Hòn đá: chỉ chất rắn có sẵn

Ví dụ:

trong tự nhiên, thường thành tảng,

Viên đá: chỉ chất rắn có sẵn trong

hòn, rất cứng.

tự nhiên, thường thành tảng, hòn,


văn
và câu

Kể
chuyện

Tập viết

x

1

0

1

0

0

0

1

0

0

2


1

0

0

0

2

1

0

3

1

4
5

2.1.1.2. Nhận xét
Ngay từ lớp 1, học sinh đã được biết thông qua phân môn Học vần. Đó
là các em được đọc những âm mà có cách phát âm giống nhau. Cụ thể:
1. / / có thể viết:

gh (khi đi với i, e, ê)
g khi đi với các nguyên âm còn lại

2. /i/ có thể viết i,y.

1

Tập
đọc
0

Chính
tả
0

Tập
Luyện
làm văn từ và câu
x
x

2

3

1

3

1

2

1


2

2

3

5

2

x

14

Kể
chuyện
0

Tập
viết
0


Tổng số những bài sử dụng từ nhiều nghĩa là 43 bài. Trong đó, tất cả
các phân môn đều sử dụng kiến thức của từ nhiều nghĩa.
2.1.2.2. Nhận xét
Bắt đầu từ lớp 2, lớp 3 học sinh đã được làm quen với những kiến thức
đơn giản nhất về từ nhiều nghĩa. Những bài sử dụng kiến thức của từ nhiều
nghĩa chủ yếu ở các bài thuộc phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu. Các bài sử
dụng kiến thức này được biên soạn kết hợp với các mảng kiến thức khác chứ

đầu tiên của Từ đồng âm cung cấp cho học sinh kiến thức chung về từ đồng
âm. Tiết đầu tiên của Từ nhiều nghĩa dạy cho học sinh khái niệm về từ nhiều
nghĩa, còn hai tiết còn lại dạy cho học sinh Luyện tập về từ nhiều nghĩa.
Các bài luyện tập củng cố lí thuyết về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa cùng
được lựa chọn gắn với thực tiễn sinh động hằng ngày để học sinh nhận diện
cho đúng, cho phù hợp với tình huống giao tiếp.
Tuy nhiên,trong thực tế, học sinh vẫn hay bị nhầm lẫn từ đồng âm và từ
nhiều nghĩa với nhau.
Từ đồng âm và từ nhiều nghĩa đều có đặc điểm hình thức giống nhau
nên học sinh ở trình độ tiểu học rất khó phân biệt. Đó là do:
Một là: Từ đồng âm và từ nhiều nghĩa đều có đặc điểm hình thức giống
nhau, đọc giống nhau và viết cũng giống nhau và khác nhau về nghĩa.
Ví dụ:
- Từ đồng âm bàn1 trong cái bàn và bàn2 trong bàn công việc
Hai từ bàn có hình thức ngữ âm giống nhau nhưng nghĩa hoàn toàn
khác nhau.
Bàn1: là danh từ chỉ một đồ vật có mặt phẳng, chân đứng, dùng để để
đồ đạc hoặc để làm việc.
Bàn2: là động từ, trao đổi ý kiến.
- Từ nhiều nghĩa bàn1 trong cái bàn và bàn2 trong bàn phím.
Hai từ bàn có từ bàn1 là nghĩa gốc, từ bàn2 là nghĩa phái sinh.
Bàn1: là danh từ, chỉ đồ vật có mặt phẳng, có chân, dùng để chứa đồ.
16


Bàn2: là danh từ, là bộ phận có mặt phẳng chứa các phím trong một số
loại đàn hoặc máy tính.
Hai là: Trong chương trình tiếng Việt 5 chưa có dạng bài tập phối hợp
cả hai kiến thức về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa để học sinh rèn kĩ năng phân
biệt. Trong sách giáo khoa Tiếng Việt 5 tập 1 có phân bố dạy từ đồng âm và

b) Một nghề cho chín còn hơn chín nghề.
c) Bác bác trứng, tôi tôi vôi.
d) Con ngựa đá con ngựa đá, con ngựa đá không đá con ngựa.
[14,t1,tr.61]
Hay ví dụ:
Mùa xuân là tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân
[14,t1,tr.82]
- Đặt câu phân biệt từ.
Ví dụ: Đặt câu để phân biệt từ đồng âm:
- Cờ
- Bàn
- Nước
Mẫu: Nhà nhà treo cờ chào mừng ngày Quốc khánh.
Cờ là một môn thể thao nhiều người yêu thích.
[14,t1,tr.82]
Nhận xét: Mỗi bài lí thuyết Luyện từ và câu có cấu trúc chặt chẽ, tạo
điều kiện củng cố cho học sinh kiến thức. Mỗi bài lí thuyết Luyện từ và câu
thường có ba phần rõ ràng: Nhận xét- Ghi nhớ- Luyện tập.
I. Nhận xét
Phần này sách giáo khoa đưa ra các yêu cầu bằng các bài tập để học
sinh phân tích ngữ liệu để từ đó tìm ra dấu hiệu nội dung bài học.

18


Ví dụ:
1. Đọc các câu sau đây:
a) Ông ngồi câu cá.
b) Đoạn văn này có 5 câu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status