Xây dưng Đảng trong hai cuộc kháng chiến - Pdf 72

Chuyên đê 2
XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG HAI CUỘC KHÁNG CHIẾN
CHỐNG THỰC DÂN PHÁP VÀ ĐẾ QUỐC MĨ (1945- 1946)
I. Qúa trình xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong hai cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
1. Yêu cầu khách quan xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong hai cuộc
kháng chiến: 3 ý
- Một là, Xuất phát từ lý luận Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về
thường xuyên xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
+ C.Mác, Ănghen phát hiện ra xứ mệnh lịch sử thế giới của gccn, nhưng
các ông cho rằng: gccn chỉ có thể hoàn thành được xứ mệnh đó khi tổ chức
ra chính đảng, đội tiên phong của giai cấp; Đảng phải được trang bị bởi lý
luận tiên phong; Đảng phải được thường xuyên xây dựng và củng cố: Đảng
phải là một đội ngũ có tổ chức tập trung chặt chẽ, các cơ quan lãnh đạo của
Đảng phải được bầu cử dân chủ, Đảng phải là một khối thống nhất về chính
trị, tư tưởng và tổ chức.
+ Lênin đã kế thừa và sáng tạo ra học thuyết về chính đảng kiểu mới của
gccn, khái quát thành 8 luận điểm cơ bản:
1. Lý luận về chủ nghĩa xã hội là nên tảng, là kim chỉ nam cho mọi hoạt
động của Đảng.
2. ĐCS là đội tiên phong chính trị có tổ chức và là đội ngũ có tổ chức
chặt chẽ nhất, giác ngộ nhất của gccn.
3. Khi co chính quyền, Đảng là lực lượng lãnh đạo hệ thống chính trị và
là một bộ phận của hệ thống đó.
4. Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức, sinh hoạt và
hoạt động của Đảng.
5. Đảng là một khối thống nhất về chính trị, tư tưởng và tổ chức, tự phê
bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng.
6. Đảng gắn bó chặt chẽ với quần chúng, kiên quyết đấu tranh để ngăn
ngừa và khắc phục bệnh quan liêu, xa rời quần chúng.
1

2
là các mầm mống có thể phát sinh, phat triển tư tưởng cục bộ, bản vị địa
phương và chủ nghĩa cá nhân.
+ Đảng mới thành lập được 15 năm, chưa được củng cố thật vững chắc,
chưa có nhiều kinh nghiệm lãnh đạo chiến tranh
- Ba là, Xuất phát từ thực tiễn yêu cầu của cuộc kháng chiến.
+ Kẻ thù của cách mạng nước ta là những đế quốc, có tiềm lực kinh tế,
quân sự lớn gấp nhiều lần ta.
+ Lúc đầu cuộc kháng chiến chúng ta chưa được sự giúp đỡ nhiều của
quốc tế.
+ Vừa giành được chính quyền, chúng ta chưa có nhiều thời gian để củng
cố Đảng, chính quyền, khôi phục kinh tế, ổn định mọi mặt xã hội…
- Xuất phát từ vai trò và yêu cầu lãnh đạo cuộc kháng chiến của Đảng.
+ Đảng xác định được đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo thì cách
mạng thuận lợi, phát triển và ngược lại.
+ Yêu cầu của cuộc kháng chiến đối với sự lãnh đạo của Đảng là rất cao,
rất toàn diện, rất cam go.
+ Đảng chưa có nhiều kinh nghiệm lãnh đạo chiến tranh.
2. Nội dung xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong hai cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
a) Trong kháng chiến chống thực dân Pháp
* Bối cảnh lịch sử sau cách mạng tháng Tám và đường lối kháng chiến
của Đảng
- Bối cảnh lịch sử sau cách mạng tháng Tam năm 1945
+ Thực dân Pháp xâm lược nước ta lần thứ hai
\ Hành động của thực dân Pháp mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương
hòng đặt lại ách thống trị thực dân không phải là việc bất ngờ đối với Đảng
và nhân dân ta. Ngày 23/9/ 1945, Pháp nổ súng tấn công Sài Gòn Chợ Lớn,
sau đó mở rộng ra các tỉnh Nam Bộ
. Ngay tại Hội nghị toàn quốc của Đảng ở Tân Trào, Đảng ta chỉ rõ, đế

hành xâm lược một nước ở xa nước Pháp hàng vạn kilômét.
4
. Mâu thuẫn trong nội bộ nước Pháp ngày càng sâu sắc, phong trào đấu
tranh cho độc lập dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa Pháp đang phát
triển mạnh mẽ.
. Cuộc kháng chiến toàn quốc của nhân dân ta lại diễn ra trong lúc phong
trào độc lập dân tộc, hoà bình, dân chủ và chủ nghĩa xã hội đang dâng lên
mạnh mẽ, nhân dân ta cùng nhân dân hai nước Lào và Campuchia đấu tranh
chống một kẻ thù là thực dân Pháp xâm lược.
- Đường lối kháng chiến do Đảng xác định
+ Đó là đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực
cánh sinh, nhất định thắng lợi.
\ Thể hiện trong Chỉ thịToàn dân kháng chiến của Ban Thường vụ Trung
ương Đảng ngày 12-12-1946.
\ Từ tháng 3-1947, qua thực tiễn những ngày đầu của cuộc chiến đấu,
đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng đã viết một loạt bài làm sáng
tỏ thêm đường lối kháng chiến của Đảng; những bài này sau được xuất bản
thành tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi vào tháng 7/ 1947.
\ Và trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến sáng ngày 19/12/1946 của
Chủ tịch Hồ Chí Minh.
+ Nội dung cơ bản của Đường lối kháng chiến:
Mục tiêu của cuộc kháng chiến là giành độc lập và thống nhất. Cuộc
kháng chiến là sự tiếp tục của cách mạng dân tộc dân chủ bằng hình thức
chiến tranh, cho nên còn có mục tiêu vì dân chủ, tự do, vì hoà bình thế giới.
Đường lối chung của cuộc kháng chiến là toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự
lực cánh sinh.
Về chính trị, đoàn kết toàn dân, thực hiện quân, chính, dân nhất trí, động viên
nhân lực, vật lực, tài lực của cả nước; đoàn kết với hai dân tộc Lào, Campuchia
anh em, với nhân dân Pháp, với các nước châu Á và các dân tộc bị áp bức, các
dân tộc yêu chuộng hoà bình, dân chủ trên thế giới, cô lập kẻ thù, tranh thủ thêm

Tiêu biểu cho cả nước là cuộc chiến đấu ngoan cường của quân và dân
Thủ đô Hà Nội. Trong hai tháng (từ ngày 19-12-1946 đến ngày 17-2-1947)
quân và dân trong nội thành cũng như ngoại thành đã anh dũng chiến đấu,
phục vụ chiến đấu, giành giật với địch ở nhiều nơi. Với nhiều cách đánh
6
sáng tạo, linh hoạt, quân dân Thủ đô đã tiêu diệt, tiêu hao hơn 2.000 tên
giặc, bảo vệ các cơ quan lãnh đạo của ta, tạo điều kiện cho hàng vạn đồng
bào ra khỏi thành phố, di chuyển nhiều máy móc, nguyên liệu ra vùng tự do.
Từ ngày 3 đến ngày 6-4-1947, Ban Chấp hành Trung ương Đảng triệu
tập Hội nghị cán bộ Trung ương, Hội nghị nhận định bốn tháng kháng chiến
chứng tỏ địch không thể khuất phục được nhân dân ta, toàn dân ta hăng hái
kháng chiến làm cho địch mới chỉ chiếm được một số ít thành phố. Hội nghị
nhấn mạnh nhiệm vụ mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất chống thực dân
Pháp, củng cố chính quyền nhân dân ở vùng bị địch chiếm, phát động phong
trào du kích chiến tranh, tổ chức căn cứ địa, đẩy mạnh công tác ngoại giao
và tăng cường công tác xây dựng Đảng.
Để động viên toàn dân tham gia kháng chiến, Đảng và Chính phủ tìm
mọi biện pháp ổn định đời sống nhân dân và xây dựng những cơ sở ban đầu
của nền kinh tế và văn hoá kháng chiến.
Đảng cũng quan tâm lãnh đạo công tác đối ngoại để tranh thủ sự đồng
tình của nhân dân thế giới đối với cuộc kháng chiến, đặt cơ quan đại diện ở
Thái Lan, Miến Điện và cử đoàn đại biểu đi dự các hội nghị quốc tế.
Sau khi chiếm được một số thành phố, thị xã ở Bắc Bộ, quân Pháp tổ
chức tiến công ở Trung Trung Bộ, Tây Bắc, Đông Bắc và đồng bằng Bắc Bộ
hòng mở rộng khu vực chiếm đóng và tạo vành đai giữ các thành thị. Quân
và dân ta chặn đánh địch khắp nơi, tiêu hao sinh lực địch, làm chậm bước
tiến của chúng, giữ gìn và phát triển lực lượng. Ở Nam Bộ, quân và dân ta
tiến công quấy rối, phá hoại, đánh nhiều trận, diệt từng trung đội, đại đội
địch, phá nhiều đoàn tàu quân sự. Bị thiệt hại nhiều mà không tiêu diệt được
quân chủ lực ta, tháng 5-1947 quân Pháp tạm co về thành thị chúng mới

kích, phá tề, trừ gian được đẩy mạnh ở vùng sau lưng địch. Ở Hà Nội và Sài
Gòn, những tên việt gian đầu sỏ bị bắn chết ngay giữa thành phố.
Ngày 22-12-1947, một phần lớn quân Pháp buộc phải rút khỏi Việt Bắc.
Hơn 7.000 tên xâm lược bị chết, bị thương và bị bắt: 18 máy bay bị hạ, 16
tàu chiến và nhiều ca nô bị đánh đắm, hàng trăm xe bị phá và nhiều vũ khí
rơi vào tay quân ta. Chiến lược "đánh nhanh thắng nhanh" của quân Pháp
thất bại. Mặc dù bị bất ngờ, quân và dân ta đã chiến đấu anh dũng kịp thời
chuyển sang phản công thắng lợi. Bộ đội ta trưởng thành một bước về trình
8
độ tác chiến. Đảng ta có thêm kinh nghiệm về chỉ đạo chiến tranh. Nhân dân
ta phấn khởi, tin tưởng ở thắng lợi của cuộc kháng chiến.
Tổng kết năm đầu cuộc kháng chiến toàn quốc, trongLời kêu gọi nhân kỷ
niệm một năm ngày kháng chiến toàn quốc 19-12-1947, Chủ tịch Hồ Chí
Minh nhận định thực dân Pháp muốn đánh nhanh thắng nhanh, nhưng đã
thất bại. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rõ, lực lượng của ta ngày càng thêm
mạnh như suối mới chảy, như lửa mới nhóm, chỉ có tiến không có thoái...
Lực lượng địch như mặt trời vào lúc hoàng hôn, hống hách lắm nhưng đã
gần tắt nghỉ. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở quân ta không được chủ quan,
khinh địch.
+ Đảng chỉ đạo công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng (giảng kỹ, phân tích,
trao đổi cùng người học)
\ Đất nước đã kịp thời chuyển sang thời chiến và bước đầu triển khai thế trận
chiến tranh nhân dân. Các cơ quan Đảng, Chính phủ, Mặt trận... chuyển lên căn
cứ địa Việt Bắc. Các cơ quan dân, chính, đảng địa phương cũng về đóng nơi tạm
thời an toàn. Bộ máy chính quyền các cấp được kiện toàn.
\ Đảng mở đợt sinh hoạt chính trị trong cán bộ, đảng viên về rèn luyện
tu dưỡng, gương mẫu về đạo đức, trau dồi về chuyên môn, nghiệp vụ, một
lòng, một dạ vì dân, chống bệnh chủ quan, quan liêu, mệnh lệnh, địa
phương chủ nghĩa, bè phái, vô kỷ luật.
Trong Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ và Thư gửi các đồng chí Trung Bộ

kinh tế - xã hội và thử thành công bom nguyên tử (9-1949) làm mất thế độc
quyền về vũ khí nguyên tử của Mỹ. Các nước dân chủ nhân dân ở châu Âu
và châu Á xây dựng xã hội mới đạt nhiều thắng lợi. Phong trào giải phóng
dân tộc phát triển ở châu Phi, châu Á và Trung Cận Đông. Mỹ thực hiện kế
hoạch Mácsan nhằm vừa vực dậy các nước Tây Âu, vừa khống chế các nước
này.
Tại Pháp cuộc khủng hoảng chính trị kéo dài: thất bại bước đầu trong
chiến tranh Đông Dương làm cho Pháp khó khăn thêm. Chỉ tính đến đầu
năm 1949, Chính phủ Pháp đã bị đổ tới 8 lần. Phong trào phản chiến của
nhân dân Pháp phát triển.
10
Ở Đông Dương, từ năm 1948 thực dân Pháp phải chuyển từ chiến lược
đánh nhanh thắng nhanh sang chiến lược đánh lâu dài, "lấy chiến tranh nuôi
chiến tranh, dùng người Việt trị người Việt". Chúng bình định vùng chiếm
đóng, mở các cuộc hành quân nhỏ nhằm tiêu diệt cơ sở kháng chiến, mở
rộng nguỵ quân (năm 1948 có 8 vạn nguỵ binh, chiếm gần 30% tổng số quân
địch).
\ Ngày 20-1-1948, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp mở rộng, nhận
định tình hình sau chiến thắng Việt Bắc và đề ra những nhiệm vụ toàn diện
trên các lĩnh vực trong giai đoạn mới.
Về quân sự, mở rộng chiến tranh du kích, nhất là trong vùng địch kiểm
soát, tuỳ điều kiện tập trung đánh vận động tiêu diệt địch, tăng cường công
tác địch vận.
Tháng 11-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra sắc lệnh về nghĩa vụ quân sự.
Chỉ trong một thời gian ngắn, tính từ Liên khu IV trở ra đã có thêm 50 vạn
thanh niên ghi tên tòng quân.
Từ 8 vạn người lúc bắt đầu kháng chiến qua hơn ba năm, quân đội ta đã
có 23 vạn người.
Đầu năm 1950 hai đại đoàn và hai trung đoàn chủ lực thuộc Bộ Tổng
Tư lệnh và 12 trung đoàn chủ lực các liên khu đã ra đời.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status