NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN
XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN IN
HÀNG KHÔNG
I.NHẬN XÉT VỀ CÔNG TÁC TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ
THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN IN HÀNG KHÔNG
Công ty Cổ Phần In Hàng không trước đây chỉ là một đơn vị sản xuất theochỉ
tiêu ngành giao. Hiện nay nền kinh tế đã chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa sang cơ
chế thị trường, mở rộng mặt hàng kinh doanh của mình.Cơ chế thị trường vừa
tạo ra đà phát triển cho Công ty vừa đặt Công ty trước vấn đề sản phẩm của
Công ty sản xuất ra thị trường có được khách hàng chấp nhận hay không. Khả
năng cạnh tranh để đứng vững trên thị trường như thế nào. Đó là vấn đề quan
trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của Công ty.
Vì vậy bên cạnh việc tích cực triển khai các hoạt động tìm kiếm khách hàng,
tìm nguồn nguyên vật liệu, đảm bảo tiến độ sản xuất, giao hàng theo đúng hợp
đồng cho khách hàng thì công tác quản lí chi phí sản xuất ở Công ty cũng được
coi trọng đúng mức để từ đó công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất đúng đắn
dẫn tới việc xác định được giá thành và giá bán hợp lí. Bằng hiệu quả sản xuất
với sản phẩm in có chất lượng cao, giá thành hợp lí hiện nay Công ty tạo được
uy tín tốt với khách hàng. Không những duy trì được những bạn hàng truyền
thống mà Công ty ngày càng có thêm nhiều bạn hàng mới, giá trị sản lượng
hàng hóa tiêu thụ ngày càng cao, đời sống cán bộ công nhân viên ngày càng cải
thiện. Đó là nhờ sự cố gắng của Ban Giám đốc cùng toàn thể công nhân viên
trong Công ty cũng như sự linh hoạt nhạy bén trong công tác quản lí kinh tế,
quản lí sản xuất và công tác kế toán nói chung và công tác tập hợp chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm của Công ty cổ phần In Hàng không nói riêng.
1.Những ưu điểm
Về tổ chức bộ máy quản lý: Rất gọn nhẹ, hợp lí, các phòng ban chức năng
phục vụ có hiệu quả, cung cấp kịp thời, chính xác các thông tin cần thiết cho
lãnh đạo Công ty trong việc quản lý sản xuất phù hợp với yêu cầu quản lý và
đặc điểm sản xuất kinh doanh của Công ty.Từ đó tạo điều kiện cho Công ty chủ
động trong sản xuất kinh doanh và ngày càng có uy tín trên thị trường cạnh
thành theo đơn đặt hàng là phù hợp với đặc điểm quy trình sản xuất, công nghệ
sản xuất của Công ty. Phương pháp này có đặc điểm là toàn bộ chi phí phát sinh
đều được tập hợp theo đơn đặt hàng, nó được phản ánh đầy đủ chính xác các chi
phí phát sinh trong giá thành sản phẩm.
Hình thức trả lương theo sản phẩm cho công nhân trực tiếp sản xuất đã khuyến
khích người lao động nâng cao năng suất lao động, gắn trách nhiệm của người
công nhân với sản phẩm mà họ sản xuất ra, đảm bảo chất lượng sản phẩm.Việc
trả lương theo sản phẩm đem lại công bằng cho người lao động, tiền lương trả
cho người lao động đảm bảo nguyên tắc phân phối theo lao động, đấy cũng là
cố gắng của ban lãnh đạo và bộ máy kế toán của Công ty.
2.Những hạn chế
Đối với khoản mục nguyên vật liệu chính là giấy: Do Công ty sản xuất theo
từng đơn đặt hàng, kích thước, quy cách sản phẩm khác nhau do vậy trước khi
in phải xén giấy từ giấy khổ thành giấy khổ in. Khi xuất giấy cho máy xén thuộc
phân xưởng Sách thì Công ty coi như toàn bộ số giấy đó đã được đưa vào sản
xuất và được tính hết cho khoản mục nguyên vật liệu chính cho từng hợp đồng
nhưng thực chất khi xén giấy từ nguyên khổ ra khổ in vẫn còn có các băng thừa
vẫn có thể tận dụng in các sản phẩm khác phù hợp được mà không cần xuất giấy
mới hoặc những băng nhỏ không in được thì làm giấy phế liệu (giấy lề)vẫn thu
hồi được. Khi Công ty bán phế liệu giấy thì lại hạch toán giảm chi phí quản lý
doanh nghiệp, tức là ghi:
Nợ TK111- Tiền mặt
Có TK642- Chi phí quản lý doanh nghiệp
Điều này cho thấy việc hạch toán này đã không phản ánh thực chất số chi phí về
giấy đã tiêu hao trong sản phẩm đó.
Đối với những vật liệu không xác định được số lượng cụ thể cho từng hợp
đồng như mực, ghim, băng dính…Phân xưởng sử dụng hết lại viết phiếu cấp vật
tư mặc dù những vật liệu này chiếm tỷ trọng rất nhỏ so với chính như: giấy và
bản kẽm, Công ty không có định mức tiêu hao cụ thể mà phân bổ theo trị giá
nguyên vật liệu chính là giấy đã xuất ra. Điều này đã làm cho công tác kế toán
điều kiện phải tiến hành phân bổ từng khoản mục chi phí cho từng hợp đồng
như vậy thì công việc kế toán trở nên phức tạp và cồng kềnh.
- Nếu xét cho từng hợp đồng thì ở Công ty cổ phần In Hàng không có sản
phẩm dở dang nhưng nếu xét trên phương diện thời gian là cuối tháng thì cũng
có những sản phẩm còn đang nằm trên dây chuyền sản xuất. Do vậy, để phản
ánh chính xác giá thành sản phẩm Công ty cần xác định giá trị sản phẩm dở
dang cuối kỳ.
- Đối với công tác tính giá thành sản phẩm, Công ty đã xác định đối tượng
tính giá thành là từng đơn đặt hàng nhưng do đặc thù sản xuất của Công ty, các
hợp đồng diễn ra trong thời gian rất ngắn, trong tháng Công ty sản xuất rất
nhiều hợp đồng. Do vậy, mặc dù tính giá thành sản phẩm cho từng hợp đồng rất
chính xác nhưng làm cho công việc kế toán quá cồng kềnh và phức tạp. Theo
em, Công ty cần nghiên cứu xem xét lại đối tượng tính giá thành cho phù hợp
vẫn đảm bảo công tác kế toán của Công ty, đồng thời đảm bảo công tác kế toán
gọn nhẹ, dễ hiểu.
Việc tập hợp chi phí nguyên vật liệu dùng trong tháng:
Ở Công ty cổ phần In Hàng không tất cả các nguyên vật liệu sử dụng đều
coi là xuất kho sản xuất và tập hợp vào TK621“chi phí nguyên vật liệu trực
tiếp”. Kế toán trong Công ty sử dụng TK621, TK622, TK627 nhưng lại không
mở chi tiết đến tài khoản cấp hai. Việc hạch toán như vậy sẽ không phản ánh
đúng thực tế từng khoản mục chi phí nằm trong giá thành sản phẩm.Chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp quá mức thực tế bỏ ra còn chi phí sản xuất chung lại ít
hơn.Từ đó sẽ không thuận lợi cho việc phấn đấu tiết kiệm chi phí hạ giá thành
sản phẩm của Công ty.
II.MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI
PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ
PHẦN IN HÀNG KHÔNG
Là sinh viên thực tập tốt nghiệp, trên cơ sở những kiến thức được học trong
trường và tình hình thực tế của công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm của Công ty ngày một hoàn thiện, em xin mạnh dạn đưa ra
(chi tiết cho hợp đồng EN02IHK01/07N:280.000
PP02IHK01/21N:84.000
………………………….)
2.Ý kiến thứ hai:Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp
Công ty đã hạch toán tiền lương thời gian của công nhân trực tiếp sản xuất
vào chi phí nhân viên quản lý phân xưởng đã làm cho chi phí nhân công trực
tiếp trong giá thành sản phẩm không phản ánh chính xác khoản mục này.Vì vậy,
tiền lương thời gian của công nhân trực tiếp sản xuất cũng phải được tập hợp
vào chi phí công nhân trực tiếp để phân bổ cho từng hợp đồng.
3. Ý kiến thứba: Hạch toán chi phí sản xuất chung
Về chi phí tiền điện: Hàng tháng khi phát sinh các khoản chi phí tiền điện, kế
toán ghi:
Nợ TK 642
Nợ TK133
Có TK 331,111,112
Thực tế khoản chi phí tiền điện này phát sinh ở cả khu vực sản xuất và khu
vực quản lí. Nếu hạch toán như trên, giá thành sản phẩm của Công ty chưa phản
ánh đủ chi phí đồng thời dễ gây tình trạng sử dụng lãng phí .Vì vậy, Công ty cần
lắp riêng đồng hồ sử dụng điện cho từng khu vực, đầu mối, để biết được tiền
điện sử dụng trong sản xuất là bao nhiêu, số tiền điện dùng trong quản lý là bao
nhiêu. Sau đó phân bổ tiền điện dùng trong sản xuất cho từng hợp đồng theo số
giờ máy chạy và công suất máy.
4.Ý kiến thứ tư: Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ
Do đặc điểm của ngành in, các sản phẩm có những quy cách, phẩm chất đa
dạng, phong phú, sản xuất theo đơn đặt hàng hàng loạt. Nếu cuối tháng, đơn đặt
hàng nào chưa hoàn thành thì mức độ hoàn thành của các sản phẩm là như
nhau.Vì vậy, kế toán chỉ cần theo dõi và xác định về mặt lượng các đơn đặt
hàng chưa hoàn thành để xác định sản phẩm dở dang cuối tháng.
Để tính toán được sản lượng sản phẩm hoàn thành trong tháng và sản lượng
sản phẩm dở dang cuối tháng một cách tương đối chính xác và đơn giản, phù
phân bổ gián tiếp theo nhiều tiêu thức, có những loại chi phí còn phải phân bổ
qua nhiều tiêu thức. Do vậy, đã làm tăng thêm công việc tính toán và giảm đi
tính chính xác của chi phí. Hơn nữa, hàng tháng Công ty sản xuất rất nhiều đơn
đặt hàng, có những đơn đặt hàng chỉ diễn ra trong thời gian rất ngắn và thường
xuyên đan xen nhau…nên việc tập hợp chi phí sản xuất theo từng đơn đặt hàng
để tính giá thành sản phẩm là rất khó khăn và phức tạp.Vì vậy, kế toán có thể
tính giá thành theo trang in tiêu chuẩn là13x19cm, sau đó tính số lượng trang in
tiêu chuẩn quy đổi của từng đơn đặt hàng.
Khi đó, giá thành của đơn đặt hàng được xác định:
Tổng giá Giá thành Số lượng trang in
thành của đơn = của trang in x tiêu chuẩn quy đổi
đặt hàng tiêu chuẩn của hợp đồng
Trong đó:
Giá thành Tổng giá thành
của trang in = ––––––––––––––––––––
tiêu chuẩn Tổng trang in tiêu chuẩn
Hay:
Z
z = ––
Q
Tổng Chi phí sản Chi phí sản xuất Chi phí sản
giá = xuất dở dang + phát sinh trong - xuất dở dang
thành đầu tháng tháng cuối tháng
Hay: Z = Dđk + C – Dck
Như vậy, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là toàn bộ quy trình công
nghệ, đối tượng tính giá thành là từng trang in tiêu chuẩn, kỳ tính giá thành là
hàng tháng và vào cuối tháng phù hợp với kỳ báo cáo.
Trong tháng 6/2005, Công ty đã hoàn thành 8.210.214 trang in tiêu chuẩn
còn lại 435.692 trang in tiêu chuẩn còn dở dang cuối tháng. Chi phí sản xuất dở
dang cuối tháng xác định được là 101.783.084đ.
Quy trình sản xuất sản phẩm của Công ty cổ phần In Hàng không chủ yếu
dựa trên hệ thống máy móc cụ thể là các máy in, máy cắt…Do vậy, Công ty cần
phải trích trước một khoản chi phí sửa chữa TSCĐ.Việc trích trước các khoản
chi phí này là hoàn toàn hợp lý để tránh những biến động lớn của các tài khoản
chi phí làm ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm.Việc trích trước này được tiến
hành thường xuyên.Chi phí trích trước sửa chữa lớn TSCĐ được tính
bằng(29%)số khấu hao cơ bản của từng đối tượng.Căn cứ vào kế hoạch sửa
chữa TSCĐ trong một năm để tính toán sửa chữa TSCĐ trong một tháng.
Số trích trước sửa chữa TSCĐ = 29% x KHTSCĐ cho từng đơn đặt
hàng
Căn cứ vào tài liệu tính toán về số trích trước sửa chữa lớn TSCĐ, kế toán
vào sổ chi tiết TK335 đồng thời phản ánh vào sổ chi tiết TK627chi tiết cho từng
đơn đặt hàng(Sơ đồ10).
7.Ý kiến thứ bảy: Về hình thức kế toán
Công ty nên sử dụng hình thức Nhật ký chung thay cho hình thức Nhật ký -
Sổ cái.
Hiện nay ở Công ty, công tác kế toán được thực hiện chủ yếu trên máy vi
tính.Do vậy, thay vì việc áp dụng kế toán“Nhật ký- Sổ cái”kế toán công ty có
thể áp dụng hình thức kế toán“Nhật ký chung”.Vì hình thức kế toán này có mẫu
sổ đơn giản, dễ hiểu, dễ ghi chép, phù hợp cho việc ứng dụng máy vi tính vào
công tác kế toán nói chung và công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
nói riêng.
Hình thức Nhật ký chung trong kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sử
dụng các mẫu sổ như: sổ Nhật ký chung; sổ cái tài khoản 621,622,627; sổ thẻ kế
toán chi tiết.
Trên đây là những đề xuất của em nhằm hoàn thiện công tác kế toán tập hợp
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần In Hàng không.
Đây chưa phải là những giải pháp tối ưu nhất song chúng cũng góp phần làm
cho công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của
Công ty được hợp lý và khoa học hơn, nhằm tính đúng, tính đủ chi phí vào giá
Sinh viên
Đồng Thị Phương
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Kế toán doanh nghiệp(theo luật kế toán mới)
Trường Đại học Quản lý và Kinh doanh Hà nội.
NXB Lao động – Xã hội
2. L ý thuyết và thực hành Kế toán Tài chính
PGS.TS Nguyễn Văn Công
NXB Tài chính
3. Kế toán quản trị doanh nghiệp
PGS.TS.Đặng Văn Thanh
TS.Đào Xuân Tiên
NXB Tài chính
4. Tài liệu về Công ty
- Tài liệu về lịch sử hình thành và phát triển công ty
- Báo cáo tài chính , báo cáo kết quả kinh doanh của công ty giai đoạn
2004-2005.
PHỤ LỤC
Biểu số 1:
Tổng Công ty Hàng không Việt Nam
Công ty cổ phần In Hàng không
…………………
PHIẾU XUẤT