Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
CÁC YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH ĐẾN SỰ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT
NAM
I. Tăng trưởng kinh tế Việt Nam qua các thời kỳ.
1. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trước thời kỳ đổi mới.
Sau ngày đất nước thực sự thông nhất thì nền kinh tế nước ta vẫn đầy
rẫy những khó khăn, năm 1978 và 1979 phải chiến đấu bảo vệ tổ quốc ở
biên giới tây nam và biên giới phía bắc nền hai năm đó tăng trưởng kinh tế
chỉ ở mức 0,7% và 0,6% so với năm trước, năm 1980 suy thoái nghiêm
trọng nên GDP giảm 2,9% so với năm 1979; bình quân hàng năm trong 10
năm đầu sau khi thống nhất đất nước giai đoạn 1976 – 1985 kinh tế chỉ tăng
trưởng 3,56%. Ngay sau đó là sự suy thoái tương đối vào năm 1986, chỉ tăng
2,3% so với năm 1985 vì hướng chịu trực tiếp sai lầm của tổng điều chỉnh
giá - lương – tiền và đổi tiền tháng 9/1985. Các năm 1987 – 1988 tư duy
kinh tế mới bắt đầu được đổi mới nhưng hậu quả sai lầm về sử lý giá - lương
– tiền giai đoại trước vẫn còn sâu rộng, ngân sách nhà nước vẫn còn mất cân
đối nghiêm trọng do đó tăng trưởng kinh tế nước ta giai đoạn 1986 – 1990
tăng chậm và đến năm 1990 thì tăng trưởng kinh tế đạt 5,1%. Bình quân
tăng trưởng kinh tế trung bình cho thời kỳ 1986 – 1990 là 3,9% và cho cả
thời kỳ 1976 – 1990 là 3,7%.
Thời kỳ 1975 – 1980: Chúng ta đã bỏ qua thời kỳ khôi phục kinh tế
bắt tay ngay vào việc phát triển kinh tế với quy mô lớn và tốc độ cao, đẩy
nhanh quá trình cải tạo XHCN. Đặc trưng cơ bản của nông nghiệp thời kỳ
này là hợp tác hoá phát triển với mô hình tập thể hoá, tập trung hoá và
chuyên môn hoá cao. Phong trào phát triển nhanh mà không vững mạnh, sản
xuất không ổn định và mất cân đối lớn giữa sản xuất và tiêu dung lương
thực, thực phẩm. Sản lượng lúa năm 1976 đạt 11,827 triệu tấn nhưng trong 4
năm tiếp theo vẫn không duy trì được mức đó nữa, năm 1978 giảm nhiều chỉ
1
SV. TrÇn Anh Dòng Líp: KÕ ho¹ch 42A
1
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Những cải cách tưng tự trong nghành công nghiệp cũng được thực hiện
nhằm phát huy quyền chủ động trong sản xuất kinh doanh và quyền tự chủ
về tài chính trong các doanh nghiệp quốc doanh. Giá trị tổng sản lượng công
nghiệp năm 1985 tăng 54,3% so với năm 1980, cơ cấu nhóm A/ nhóm B
trong công nghiệp năm 1980 là 37,8%/62,2%, năm 1985 chuyển dịnh thành
31,4%/68,6%. Công nghiệp ngoài quốc doanh năm 1981 chiếm 39,8% toàn
ngành, năm 1985 tăng lên mức 43,7%.
Mặc dù tiến hành cải cách trong hai ngành công nghiệp và nông
nghiệp nhưng nhiều chỉ tiêu quan trọng trong giai đoạn 1981 – 1985 vẫn
không thực hiện được: năm 1985 sản lượng lương thực là 18,2 triệu tấn đạt
95,8% kế hoạch đề ra, sản lượng điện đạt 5,5 tỷ chỉ đạt 94,5%, sản xuất than
đạt 67,1%, sản xuất xi măng đạt 75%,…Nét nổi bật và phổ biến trong giai
đoạn năm 1975 – 1985 là luôn xảy ra lạm phát phi mã, giá cả hàng hoá và
dịch vụ tiêu dùng tăng và năm sau tăng hơn năm trước.
Do cả hai kế hoạch năm 1967 – 1980 và 1981 – 1985 về cơ bản được
xây dựng trên nền tảng của cơ chế cũ là kế hoạch hoá tập trung và bệnh hành
chính bao cấp nặng nề, do xuất phát điểm của nền kinh tế quá thấp và cùng
với những vấp váp sai lầm trong các chích sách tổng điều chỉnh giá - tiền –
lương, đặc biệt là thất bại trong việc đổi tiền nên đến năm 1986 nước ta hoàn
toàn rơi vào cuộc khủng khoảng nghiêm trọng.
Thời kỳ năm 1986 – 1990 là thời kỳ đổi mới cơ chế quản lý kinh tế để
thay thế cơ chế quản lý cũ nhà nước đã ban hành hàng loạt các chỉ thị, nghị
quyết nhằm xác lập cơ chế quản lý mới. Đổi mới cơ chế quản trong nông
nghiệp chuyển từ khoán theo khâu sang khoán theo hộ, tự chủ kinh doanh để
khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp. Sản lượng lương thực đã có bước
phát triển đáng kể từ 18 triệu tấn năm 1987 đã tăng lên 21,5 triệu tấn năm
3
SV. TrÇn Anh Dòng Líp: KÕ ho¹ch 42A
3
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Như vậy trong 5 năm mà tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp tăng gấp
đôi. Tốc độ tăng trưởng ngành dịch vụ tăng từ 7,4% vào năm 1991 lên 9,8%
vào năm 1995. Sự tăng trưởng cua rngành công nghiệp thời kỳ 1991 – 1995
càng có ý nghĩa nếu xét về hoàn cảnh lịch sử, cụ thể là sự chuyển đổi cơ chế
quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường. Trong quá trình
chuyển đổi ngành công nghiệp có nhiều sự xáo trộn nhất do trước đây ngành
công nghiệp là ngành được bao cấp lớn nhất và kế hoạch hoá tập trung bao
cấp trong ngành công nghiệp được thực hiện đầy đủ nhất.
Việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và bước đầu hội nhập kinh tế khu
vực và quốc tế đã giúp cho hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu đề ra cho kế hoạch 5
năm 1991 – 1995 hoàn thành và hoàn thành vượt mức. Đây là kế hoạch 5
năm đầu tiên đạt và vượt mục tiêu. Quá trình mở cửa hội nhập với bên ngoài
cũng thu được những kết quả nhất định. Những kết quả đạt được nói chung
đã đưa nước ta thoát khỏi cuộc khủng khoảng kinh tế xã hội, tạo tiền đề
bước vào giai đoạn phát triển mới.
Thời kỳ 1996 – 2000: Do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan,
tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của cả thời kỳ đạt khoảng 6,7% nhỏ
hơn so với chỉ tiêu kế hoạch đề ra là 9 – 10%. Trong thời kỳ này tốc độ tăng
trưởng kinh tế vẫn đạt mức cao trong những năm đầu, cụ thể là: năm 1996
đạt 9,3%, năm 1997 đạt 8,5%. Tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm sút mạnh vào
năm 1998 là năm tiếp theo của năm nổ ra khủng khoảng tài chính tiền tệ khu
vực. Năm 1998 tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm xuống chỉ còn 5,8% và tốc
độ tăng trưởng kinh tế giảm giảm xuống thấp nhất vào năm 1999 chỉ đạt
4,5%. Đây là mức tăng trưởng khá thấp so với kế hoạch đề ra. Nguyên nhân
của tình trạng nói trên là do sự giảm sút của tốc độ tăng trưởng kinh tế trong
các ngành công nghiệp và dịch vụ. So với kế hoạch chỉ có ngành nông
5
SV. TrÇn Anh Dòng Líp: KÕ ho¹ch 42A
5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
có nhiều cố gắng phát huy nội lực và kết hợp với nguồn vốn huy động từ bên
ngoài để tăng nguồn lực phát triển.
Từ năm 2001 đến nay: tăng trưởng kinh tế nước ta tiếp tục tăng từ
6,9% lên 7,04% năm 2002 và đến năm 2003 ước đạt bình quân 7,2% đến
7,3%. Như vậy tốc độ tăng trưởng kinh tế ước đạt bình quân khoảng 7,1%
(trong đó chỉ tiêu kế hoạch 5 năm 2001- 2005 là 7,5%). Trong đó tốc độ tăng
trưởng của các nghành công nghiệp và nông nghiệp vẫn tăng vượt chỉ tiêu kế
hoạch đề ra. Tốc độ tăng trưởng nghành nông ngư nghiệp bình quân là 5%
so với kế hoạch là 4,8%. Tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành nông
nghiệp tăng 14,6% so với chỉ tiêu kế hoạch là 13,1%. Chỉ có các ngành dịch
vụ là chưa đạt được chỉ tiêu kế hoạch đề ra với tốc độ tăng trưởng bình quân
là 7% so với kế hoạch là 7,5%. Nguyên nhân của việc tăng trưởng kinh tế
không đạt được chỉ tiêu kế hoạch đề ra la do tỷ trọng ngành dịch vụ ngày
càng tăng và chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế. Nhìn lại 3 năm qua, tuy
phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức rất gay gắt, với sự nỗ lực phấn
đấu rất cao của các ngành, các cấp, các cơ sở sản xuất kinh doanh. Chúng ta
đã vượt qua nhiều khó khăn thách thức, nền kinh tế tiếp tục phát triển với
nhịp độ tăng trưởng khá cao theo chiều hướng tích cực.
Biểu 1: Tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc nội
giai đoạn 1991 – 2003.
Năm Cả nước
Ngành
Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vụ
1991 6.0 2.2 7.7 7.4
1992 8.6 6.9 12.8 7.6
1993 8.1 3.3 12.6 8.6
1994 8.8 3.4 13.4 9.6
1995 9.5 4.8 13.6 9.8
1996 9.3 4.4 14.5 8.8
thay đổi cơ cấu dân số giữa nông thôn và thành thị. Đến năm 2002 thì dân
8
SV. TrÇn Anh Dòng Líp: KÕ ho¹ch 42A
8
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
số sống ở nông thôn chiếm khoảng 75% và dân số sống ở thành thị chiếm
khoảng 25%(biểu)
Về lực lượng lao động: nhìn chung dân số nước ta là dân số trẻ nên
lực lượng lao động dồi dào. Tỷ lệ tham gia hoạt động kinh tế của dân số từ
đủ 15 tuổi trở lên thay đổi theo độ tuổi: các nhóm tuổi có tỷ lệ tham gia hoạt
động kinh tế cao nhất là 35-39, các nhóm tuổi 20-24 trở xuống và 50-54 tuổi
trở lên thì tỷ lệ tham gia hoạt động kinh tế giảm dần. Số người dủ 15 tuổi trở
lên có việc làm thường xuyên tăng lên liên tục và mỗi năm tăng trung bình
khoảng 740 nghìn người Đến năm 2002 thì cả nước có 40.694.390 người đủ
15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế thường xuyên; so với năm 2001 tăng
1.205.460 người ( bằng 2.99%).
Biểu 2: Dân số trung bình và tỷ lệ tăng dân số trung bình
Năm Dân số
(nghìn người)
Tỷ lệ
tăng(%)
1990 66016.7 1.92
1991 67242.4 1.86
1992 68450.1 1.80
1993 69644.5 1.74
1994 70824.5 1.69
1995 71995.5 1.65
1996 73156.7 1.61
1997 74306.9 1.57
1998 75456.3 1.55
Biểu 3: Số người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm thường
xuyên thời kỳ 1996-2002
(Đơn vị: triệu người)
CÁC CHỈ
TIÊU
1990 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002
Tổng số 30.3 33.978 34.352 34.801 35.679 36.205 37.677 39.286
Nông,lâm,
Ngư nghiệp
21.9 23.431 22.589 23.018 22.861 22.670 22.813 23.835
Xây dựng,
công nghiệp
4.2 3.698 4.170 4.049 4.435 4.744 5.428 5.942
Dịch vụ 4.2 6.849 7.593 7.734 8.382 8.791 8.426 9.509
Nguồn : Số liệu thống kê lao động thương binh và xã hội ở Việt
Nam 1996-2000. Nxb Lao động-xã hội-Hà nội 2001; Báo cáo sơ bộ kết
quả điều tra lao động-việc làm 1/7/2001 Hà Nội tháng 10/2001.
Về thất nghiệp: Mặc dù số người có việc làm tăng hơn năm trước và
tăng hơn số tăng lao động nhưng vẫn còn nhiều người thất nghiệp. Tỷ lệ thất
nghiệp ở khu vực thành thị đã giảm liên tục từ 10% năm 1991 xuống 5.88%
vào năm 1996 và tăng nhanh lên 6.74% năm 1999 do cuộc khủng hoảng
trong khu vực và sau đó giảm dần theo các năm tiếp theo. Năm 2000 tỷ lệ
thất nghiệp của lực lượng lao động ở khu vực thành thị là 6.44%, năm 2001
tỷ lệ này là 6.28%, năm 2002 là 6.01%. Tỷ lệ thời gian sử dụng lao động
trong khu vực nông thôn liên tục tăng từ 72.28% năm 1996 lên 74.26% năm
2001 và lên 75.3% năm 2002. Tuy còn tình hình thất nghiệp và sử dụng thời
gian lao động như trên nhưng nhiều nơi vẫn không tuyển đủ lao động có
chuyên môn kỹ thuật thậm chí ngay cả lao động thông thường là nữ do nhiều
nguyên nhân khác nhau cũng không thể tuyển được.
b) Thị trường lao động ở Việt Nam
12
SV. TrÇn Anh Dòng Líp: KÕ ho¹ch 42A
12
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
nông thôn, giữa khu vực dân doanh và khu vực nhà nước. Tỷ lệ lao động và
mức độ tham gia thị trường lao động đặc biệt ở nông thôn còn rất thấp.
Trong số 33.89 triệu lao động ở nông thôn hầu hết đều là lao động tự do, số
người làm công ăn lương chuyên nghiệp ở nông thôn chỉ chiếm 4.29%
Thị trường lao động Việt Nam là một thị trường đang được hình thành
và chuyển đổi mạnh: số lao động đang làm việc trong khu vực nông nghiệp
còn chiếm khoảng 60% tổng số lao động làm việc trong các ngành kinh tế
quốc dân của cả nước. Trong công nghiệp và xây dựng chiếm gần 17% và
dịch vụ chiếm trên 23%. Cùng với đà chuyển đổi cơ cấu kinh tế thì cơ cấu
lao động trong nông nghiệp ngày càng giảm, lao động trong ngành dịch vụ
và công nghiệp ngày càng tăng. Hiện có xu hướng người tham gia vào thị
trường lao động ngày càng đông mà không trang bị đầy đủ các năng lực cần
thiết. Nhà nước cần có các chính sách thoả đáng để hạn chế các hậu quả xấu
của quá trình biến đổi cơ câú này trong thời gian sắp tới.
Cầu về lao động của các doanh nghiệp: cầu lao động trong các doanh
nghiệp nhà nước có xu hướng giảm xuống do thực hiện lại tổ chức sản xuất,
sắp xếp lại lao động; cổ phần hoá, bán khoán, cho thuê và giảI thể doanh
nghiệp nhà nước. Mức cầu doanh nghiệp nhà nước còn tiếp tục giảm do tiếp
tục nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước và việc giải quyết việc
làm và chính sách trợ cấp lao động dôi dư vẫn là vấn đề đặt ra cho các doanh
nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước.
Cầu lao động trong các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm
hữu hạn, công ty cổ phần có xu hướng ngày càng tăng do sự phát triển của
các loại hình doanh nghiệp này. Từ năm 1990 đến năm 1998 bình quân mỗi
năm có 5.000 DN và công ty tư nhân mới đăng ký và trong 5 năm tạo ra hơn
500 nghìn chỗ làm việc. Cầu lao động của các DN tư nhân có quy mô nhỏ
14
SV. TrÇn Anh Dòng Líp: KÕ ho¹ch 42A
14