1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Năng lượng nói chung và năng lượng dầu khí nói riêng là nhân tố
rất quan trọng đóng góp cho sự phát triển bền vững đối với mọi quốc gia.
Ngày nay để đảm bảo cung cầu của bất kỳ một loại hàng hóa nào đó kể cả
năng lượng, hầu hết các quốc gia đều thông qua hoạt động của thị trường.
Vì tính quan trọng và thiết yếu của dầu khí, nên vấn đề cung cầu của nó
luôn được sự quan tâm và chi phối của các chính phủ trên thế giới.
Sau hơn hai thập niên song hành cùng tăng trưởng kinh tế, lượng
dầu khí được sử dụng ở Việt Nam không ngừng tăng nhanh và xu hướng
này được dự báo sẽ tiếp tục trong nhiều năm tới. Từ khi chuyển đổi mô
hình kinh tế vào đầu thập niên 90, Việt Nam luôn giữ được mức tăng
trưởng kinh tế cao, nhưng không mang tính bền vững. Giá dầu thô thế giới
hiện nay luôn có xu hướng tăng cao, theo dự báo của IEA giá dầu thô sẽ
tăng lên 215 USD/ thùng vào năm 2035 (năm 2011 chỉ là 125 USD/ thùng).
Trong khi đó nguồn cung dầu khí thế giới ngày nay thường xuyên bị đe dọa
vì những nguyên nhân sau: tài nguyên này đang dần cạn kiệt; sự độc quyền
của OPEC và các công ty dầu khí đa quốc gia; bất ổn về địa chính trị tại các
nơi có trữ lượng dầu khí cao v.v… Trong bối cảnh hội nhập sâu vào kinh tế
thế giới, thì những khó khăn mang tính toàn cầu sẽ tác động càng mạnh mẽ
đến kinh tế trong nước đặc biệt là ngành dầu khí, lĩnh vực mà hàng năm
Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 2/3 lượng xăng dầu và khí sử dụng (trước
năm 2009 là gần 100%). Việt Nam là một quốc gia có trữ lượng dầu khí
thuộc loại khá, nhưng các mỏ có trữ lượng lớn khai thác mạnh trước đây
nay dần cạn kiệt, trong khi các mỏ mới phát hiện lại khó khai thác vì vấn đề
tranh chấp lãnh hải với Trung Quốc. Trong khi đó việc sử dụng năng lượng
nói chung và dầu khí nói riêng ở Việt Nam còn rất lãng phí và kém hiệu
3
Nhìn chung cho đến nay những nghiên cứu về đề tài năng lượng
của Việt Nam chưa nhiều, đặc biệt là của các tác giả trong nước. So với các
nghiên cứu trước, luận án sẽ có điểm khác biệt cơ bản là về cách tiếp cận,
phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu. Nếu luận án này được bảo
vệ thành công, những đóng góp mới:
Về mặt lý luận, lượng hóa mối quan hệ giữa năng lượng dầu khí sử dụng
và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, theo khung lý thuyết cầu và tăng trưởng
kinh tế. Các kết quả ước lượng hệ số co giãn cầu và cung là cơ sở cho
những nghiên cứu về năng lượng dầu khí ở Việt Nam.
Về mặt thực tiễn, đóng góp của luận án là hỗ trợ cho các nhà hoạch định,
có cơ sở khoa học để xem xét và ban hành các chính sách liên quan đến vấn
đề đảm bảo nhu cầu năng lượng dầu khí ở Việt Nam.
5. Kết cấu của luận án
Mở đầu
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
của đề tài
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về đảm bảo năng lượng dầu khí cho tăng
trưởng kinh tế
Chương 3: Thực trạng đảm bảo nhu cầu năng lượng dầu khí cho sự tăng
trưởng kinh tế của Việt Nam trong thời gian qua.
Chương 4: Giải pháp đảm bảo nhu cầu năng lượng dầu khí cho tăng
trưởng kinh tế ở Việt Nam đến năm 2030.
Kết luận
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và
phương pháp nghiên cứu của đề tài
1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
: phần dư . Mô hình kinh tế lượng nêu trên đã được nhiều
chuyên gia, tiêu biểu là Subhes C. Bhattacharyya và Andon Blake (2009);
Dermot Gately và Hillard G. Huntington (2001); Masayasu Ishiguro và
Takamasa Akiyama (1995) sử dụng để nghiên cứu về cầu dầu khí và các
loại xăng dầu cụ thể tại nhiều quốc gia, trong từng lĩnh vực công nghiệp,
nông nghiệp, giao thông vận tải, hộ gia đình và dịch vụ thương mại. Kế
thừa kinh nghiệm của các chuyên gia, trong luận án tác giả cũng sử dụng
mô hình trên để dự báo nhu cầu năng lượng dầu khí ở Việt Nam.
Công trình nghiên cứu của Tien Minh Do và Deepak Sharma (2011), “
Vietnam’s energy sector: A review of current energy policies and strategies
” dự báo đến năm 2025 nhu cầu về xăng dầu của Việt Nam là 43,7 triệu
tấn (bình quân 877.939 thùng/ngày) khả năng sản xuất trong nước 19,9
triệu tấn (bình quân 399.794 thùng/ngày). Theo dự báo này đến năm 2025,
Việt Nam vẫn tiếp tục phụ thuộc vào nhập khẩu xăng dầu.
5
Tác giả Nguyễn Anh Tuấn (2011) Viện Năng lượng – Bộ Công
Thương Việt Nam trong tài liệu nghiên cứu “ Một số giải pháp về an ninh
năng lượng Việt Nam ” dự báo khả năng sản xuất dầu khí của Việt Nam
vào năm 2020 là 32,486 triệu tấn (bình quân 652.648 thùng/ngày). Để đảm
bảo an ninh năng lượng tác giả Nguyễn Anh Tuấn đã đề xuất 5 giải pháp.
Công trình nghiên cứu của Asia Pacific Energy Research Centre
(2009), “ APEC Energy Demand and Supply ” dự báo trong giai đoạn
2005 – 2030 ở Việt Nam tỉ lệ tăng nhu cầu sử dụng năng lượng bình quân
theo đầu người mỗi năm 3,4%.
Theo công trình nghiên cứu “ Energy Sector Situation in Vietnam ” của
Shinji Omoteyama (2009), thuộc Viện nghiên cứu kinh tế năng lượng của
Nhật Bản, nếu tính quy đổi tương đương và bù trừ giữa lượng xuất khẩu
giả vận dụng trong luận án này chính là lý thuyết phân tích cung cầu và
những tác động của chính phủ đối với thị trường dầu khí, đặc biệt là những
vấn đề ảnh hưởng đến cung và cầu như: kiểm soát giá, trợ cấp và thuế.
Những kinh nghiệm Việt Nam cần học hỏi ở các nước ( Hoa Kỳ,
Nhật, Trung Quốc và Indonesia ) để đảm bảo nhu cầu dầu khí cho tăng
trưởng kinh tế là: (i) sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng nói chung và
dầu khí nói riêng; (ii) nhanh chóng xoá bỏ trợ cấp xăng dầu; (iii) xây dựng
và tạo nguồn cung ổn định dầu thô và các sản phẩm dầu mỏ; (iv) xây dựng
thị trường xăng dầu trong nước cạnh tranh.
Các mô hinh để ước lượng các hệ số co giãn cầu dầu khí ở Việt
Nam và lượng hóa mối quan hệ giữa năng lượng dầu khí sử dụng và tăng
trưởng kinh tế:
1. Mô hình lượng hóa theo cơ sở của lý thuyết cầu
ln( ) ln ln( ) ln( )
cc
t t t t
E a b Y c P e
( I )
mô hình tĩnh
7
1
ln( ) ln ln( ) ln( ) ln( )
c c c
t t t t t
E a b Y c P d E e
( II )
mô hình động
Y theo K, L, E.
3. Mô hình lượng hóa mối quan hệ giữa năng lượng dầu khí sử dụng và
tăng trưởng xanh dầu khí
,
ln( ) ln ln( ) ln( )
cc
t g t t t
E a b Y c P e
( IV )
Y
c
gt
: GDP xanh dầu khí/ người ở Việt Nam tại năm thứ t.
GDP xanh dầu khí = GDP - chi phí tiêu dùng tài nguyên dầu khí và mất
mát về môi trường do sử dụng dầu khí.
Chương 3: Thực trạng đảm bảo nhu cầu năng lượng dầu khí cho sự
tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thời gian qua
3.1 Tình hình sử dụng năng lượng của Việt Nam
Xét cường độ năng lượng theo chỉ số E/Y, hàm lượng năng lượng
trong 1$ (2005) của Việt Nam cao thứ nhì trong các quốc gia so sánh, chỉ
sau Trung Quốc (được ví là một công xưởng của thế giới). Nghĩa là để tạo
ra cùng một giá trị GDP (1$), Việt Nam phải hao tốn năng lượng hơn Thái
Lan 22,0%; Malaysia 44,4%; Singapore 27,3%. Xét cường độ năng lượng
theo chỉ số E/N mức độ trang bị năng lượng cho lao động, Việt Nam ở mức
thấp nhất trong các quốc gia so sánh. Người lao động Việt Nam ít được
trang bị năng lượng so với nhiều quốc gia khác trong khu vực, lao động
8
từ kết quả ước lượng hệ số co giãn cầu dầu khí theo thu nhập (0,613) có
thể dự báo nhu cầu sử dụng dầu khí bình quân theo đầu người ở Việt Nam
sẽ tăng khoảng 3,1%/ năm. Kết quả này cũng phù hợp với tài liệu nghiên
cứu của APEC dự báo nhu cầu sử dụng năng lượng của Việt Nam trong
giai đoạn 2005 – 2030 tăng bình quân khoảng 3,4%/ năm.
Kiểm định và ước lượng các hệ số co giãn của mô hình ( III )
9
ln( ) 13,863 0,685ln( ) 2,015ln( ) 0,232ln( )
t t t t t
Y K L E e
(III)
Theo kết quả kiểm định mô hình (III) trong giai đoạn 1990 – 2012
hệ số co giãn của GDP theo năng lượng dầu khí sử dụng ở Việt Nam có giá
trị âm, nghĩa là ở Việt Nam tỉ lệ sử dụng dầu khí vẫn gia tăng mặc dù có
suy giảm tăng trưởng kinh tế. Từ kết quả này và kết quả so sánh cường độ
năng lượng của Việt Nam và các nước trong khu vực, cho thấy việc sử
dụng năng lượng dầu khí ở Việt Nam rất lãng phí và kém hiệu quả.
Kiểm định và ước lượng các hệ số co giãn của mô hình ( IV )
ln( ) 1,757 0,615ln( ) 0,136ln( )
cc
t t t t
E Y P e
( IV )
Kiểm định mô hình tăng trưởng xanh dầu khí cho thấy, hệ số co
giãn cầu dầu khí của Việt Nam theo thu nhập và giá gần như không đổi so
với khi không tính chi phí sử dụng quá mức tài nguyên và chi phí xử lý ô
2009 nhà máy lọc dầu đầu tiên của Việt Nam, Bình Sơn (Dung Quất –
Quảng Ngãi) bắt đầu sản xuất thử nghiệm và năm 2010 chính thức cung
cấp các sản phẩm xăng dầu cho thị trường trong nước với công suất sản
xuất khoảng 140.000 thùng/ ngày (tương đương 6,5 triệu tấn/ năm). Hiện
nay Việt Nam vẫn chưa có hệ thống kho dầu khí dự trữ chiến lược quốc
gia, dự trữ xăng dầu của Việt Nam chủ yếu là hình thức dự trữ thương mại
(tại kho của các doanh nghiệp nhập khẩu xăng dầu) và cho quốc phòng (tại
các kho của quân đội) với tổng mức dự trữ không cao. Năm 2010 lượng
cung từ sản xuất trong nước đáp ứng khoảng 1/3 nhu cầu sử dụng xăng dầu
và khí, đây là tỉ lệ cao nhất có thể đạt được trong giai đoạn hiện nay. Việt
Nam đang chuẩn bị xây dựng các nhà máy lọc hoá dầu số 2 (Nghi Sơn –
Thanh Hoá) và số 3 (Long Sơn – Bà Rịa, Vũng Tàu), nếu tiến độ xây dựng
vẫn rất chậm chạp như khi xây dựng nhà máy lọc hoá dầu số 1, thì khả
năng cung ứng xăng dầu và khí từ sản xuất trong nước khó được nâng lên,
11
điều này sẽ khiến cho cung xăng dầu và khí của Việt Nam tiếp tục phụ
thuộc nhiều vào nhập khẩu trong hơn một thập niên nữa.
3.3.2 Đánh giá trữ lượng tài nguyên dầu khí của Việt Nam
Theo đánh giá mới nhất của EIA mức trữ lượng của Việt Nam
được nâng lên đáng kể là 4,4 tỉ thùng, đứng hạng 3 trong các quốc gia ở
châu Á – Thái Bình Dương sau Trung Quốc, Ấn Độ. Trữ lượng khí thiên
nhiên của Việt Nam cũng khá dồi dào là 24,7 ngàn tỉ cf
3
, nếu tính quy đổi
tương đương khoảng 4,38 tỉ thùng dầu. Theo kết quả dự báo tỉ lệ tăng hàng
năm nhu cầu sử dụng dầu khí bình quân đầu người ở Việt Nam là 3,1% và
giả sử tỉ lệ tăng dân số 1%/ năm, dự kiến thời gian sử dụng cạn kiệt trữ
trợ cấp giá xăng dầu và thuế phí xăng dầu.
3.5.1 Kiểm soát và điều tiết giá bán lẻ xăng dầu
Sau khi không còn sử dụng ngân sách để trợ cấp giá, Chính phủ
thường áp dụng biện pháp giá trần - giá sàn để lấy lãi thời kỳ sau, bù cho
thời kỳ trước. Hạn chế của chính sách này là khó xác định được mức lãi, lỗ
của các thời kỳ, vì vậy việc bù lỗ khó thực hiện công bằng cho cả người
tiêu dùng và các doanh nghiệp đầu mối, nhưng điều quan trọng là khi áp
dụng chính sách giá trần – giá sàn trong thời gian dài sẽ khiến nền kinh tế
Việt Nam bị thiệt hại nặng. Ngoài mục đích kiểm soát giá, Chính phủ
thường áp dụng chính sách giá trần – giá sàn của xăng dầu, với mong muốn
ổn định kinh tế vĩ mô, nhưng thực tế cho thấy khi thực hiện chính sách này
giá thị trường càng bị bóp méo, dồn nén lâu ngày phải bung ra, tạo cú sốc
lớn khiến cho kinh tế vĩ mô càng bất ổn và dễ tổn thương hơn.
3.5.2 Trợ cấp xăng dầu ở Việt Nam
Trong thập niên 90 và những năm đầu thế kỷ 21 (1991 – 2003)
Chính phủ Việt Nam đã áp dụng chính sách chi trợ cấp cho xăng dầu khá
13
nhiều. Chính phủ Việt Nam bắt đầu giảm dần trợ cấp giá xăng dầu trong
nước từ năm 2004 và đến giữa năm 2008 chính thức tuyên bố ngừng trợ
cấp. Tuy nhiên ảnh hưởng bỡi khủng hoảng kinh tế tài chính và nợ công
của thế giới từ 2008 cho đến nay, kinh tế Việt Nam vẫn bị ảnh hưởng
mạnh, tăng trưởng chậm lại trong khi lạm phát tăng cao nên Chính phủ Việt
Nam trở lại trợ cấp cho xăng dầu (một cách không chính thức) với mức độ
thấp hơn nhiều so với trước đây. Trước đây nguồn tài chính để Chính phủ
Việt Nam thực hiện chính sách trợ giá xăng dầu là từ ngân sách quốc gia
(chủ yếu từ nguồn thu khai thác và xuất khẩu dầu thô), hiện nay để thực
hiện chính sách trợ cấp xăng dầu Chính phủ chủ yếu sử dụng nguồn thu từ
trong nước đến hết năm 2023. Do đó để tiếp tục nâng cao năng lực sản xuất
dầu khí, trong giai đoạn 2020 – 2025 Việt Nam cần sớm xây dựng thêm
một hoặc hai nhà máy có công suất tương đương nhà máy lọc dầu số 2. Khi
đó năng lực sản xuất dầu khí sẽ đạt 750.000 – 950.000 thùng/ngày, Việt
Nam hoàn toàn đáp ứng đầy đủ nhu cầu sử dụng trong nước và xuất khẩu
ra thị trường thế giới trong thập niên 20 và 30 của thế kỷ này. Mặc dù phải
nhanh chóng phát triển ngành sản xuất dầu khí, nhưng Việt Nam cũng cần
có chiến lược phát triển ngành phù hợp, tránh tình trạng quá dư thừa công
suất sản xuất và quan tâm đến các vấn đề về môi trường.
Quan điểm đảm bảo nhu cầu năng lượng dầu khí ở Việt Nam
Thứ nhất, đối với hoạt động khai thác và sản xuất dầu khí
Để chủ động tạo nguồn dự trữ dầu thô đầu vào cho các nhà máy lọc hoá
dầu, Việt Nam cần tích cực hợp tác với các quốc gia trong khối ASEAN để
đẩy mạnh hoạt động tìm kiếm và khai thác ở biển Đông. Ngoài ra Việt Nam
cần sớm thoả thuận và ký kết các hiệp định với các quốc gia có nhiều trữ
lượng dầu khí và quan hệ tốt về chính trị với Việt Nam (Nga,
15
Kazakhstan,Venezuela, các quốc gia Trung Đông, Bắc Phi) để mua dầu thô
hoặc khai thác các mỏ dầu khí ở các quốc gia này. Đối với tài nguyên dầu
khí trong nước, mặc dù phải đẩy mạnh việc tìm kiếm để nâng trữ lượng,
nhưng Việt Nam cũng cần vận dụng lý thuyết Hotelling (lợi nhuận biên của
người sở hữu nguồn tài nguyên sẽ tăng dần theo thời gian), để khai thác
tiết kiệm và hiệu quả, nhằm kéo dài thời gian sử dụng.
Thứ hai, đối với hoạt động phân phối kinh doanh xăng dầu và khí trong
nước
Vấn đề trọng tâm của hoạt động phân phối, chính là thị trường xăng
dầu và khí. Phát triển thị trường xăng dầu và khí trong nước cạnh tranh,
bị sản xuất lạc hậu bằng các công nghệ và thiết bị sản xuất hiện đại, ít hao
tốn năng lượng; (ii) thay đổi cơ cấu nền kinh tế theo hướng tăng cường phát
triển các ngành dịch vụ, viễn thông, ngân hàng và cân đối lại việc phát triển
các ngành công nghiệp tiêu thụ nhiều năng lượng như: xi măng, luyện kim,
gốm sứ, giấy v.v (iii) đẩy mạnh thực hiện chính sách sử dụng năng lượng
tiết kiệm và hiệu quả.
Thứ tư, phát triển các loại nhiên liệu sinh học để thay thế nhiên liệu hóa
thạch
Nhiên liệu sinh học là một dạng năng lượng tái tạo và thân thiện với
môi trường (khi cháy sinh ra ít hàm lượng khí gây hiệu ứng nhà kính). Việt
Nam là một quốc gia có nhiều lợi thế trong việc sản xuất các loại nguyên
liệu (sắn, mía, dầu thực vật, mỡ cá v.v…) để phát triển nhiên liệu sinh học
để thay thế dần nhiên liệu hoá thạch truyền thống.
4.3 Những mục tiêu cần thực hiện để đảm bảo nhu cầu năng lượng
dầu khí cho sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong tiến trình hội
nhập quốc tế
Thứ nhất, mục tiêu phát triển thị trường xăng dầu và khí trong nước
17
Đây là mục tiêu chính yếu để đảm bảo sự ổn định cung cầu xăng dầu và khí
trong nước. Thị trường xăng dầu và khí trong nước phải có tính cạnh tranh
cao, thích ứng linh hoạt với các biến động của thị trường thế giới.
Thứ hai, mục tiêu nâng cao khả năng cung ứng xăng dầu và khí sản xuất
từ trong nước
Đây là mục tiêu cơ bản để đảm bảo nguồn cung trong nước đối với dầu khí.
Ngoài ra, do dầu khí là một trong những ngành kinh tế mạnh, quan trọng và
cung cấp nguyên liệu cho một số ngành khác
Thứ ba, mục tiêu sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả
nhân và nước ngoài, đặc biệt là các công ty xăng dầu lớn của nước ngoài
(có kinh nghiệm, vốn và trình độ quản lý tiên tiến) tham gia.
4.4.1.2 Tăng cường kiểm soát độc quyền trong kinh doanh xăng dầu
Để kiểm soát hành vi tăng, giảm giá bán lẻ của các doanh nghiệp
đầu mối, Chính phủ cần tăng cường kiểm soát việc tuân thủ các quy định về
điều chỉnh giá, lợi nhuận định mức, định mức thù lao đại lý, đồng thời bổ
sung các mức xử phạt tiền thật nặng đối với việc vi phạm. Nếu doanh
nghiệp đầu mối vi phạm nhiều lần việc điều chỉnh giá bán lẻ thì phải chịu
sự giám sát thường xuyên hoặc bị thu hồi giấy phép kinh doanh (có thời
hạn hoặc vĩnh viễn).
4.4.1.3 Hoàn thiện hệ thống pháp luật để tăng cường cạnh tranh và chống
gian lận trong kinh doanh xăng dầu
Việt Nam cần lập một cơ quan quản lý cạnh tranh, có vị trí hoàn
toàn độc lập với các bộ trong chính phủ (hiện nay cơ quan này thuộc Bộ
Công Thương). Để tăng cường khả năng chống độc quyền, Chính phủ cần
có kênh thông tin chính thức để minh bạch thị trường xăng dầu. Chính phủ
cần hỗ trợ cho các tổ chức phi thị trường, phi chính phủ (ví dụ như Hiệp hội
bảo vệ người tiêu dùng) phát triển ở Việt Nam và có năng lực hoạt động để
góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người tiêu dùng.
4.4.1.4 Đẩy mạnh phát triển thị trường kinh doanh khí trong nước
Trong công nghiệp Việt Nam cần đẩy mạnh việc cung cấp khí cho
nhiều nhà máy điện và trong giao thông vận tải, cần có chính sách hỗ trợ
cho các công ty vận tải sử dụng LPG/CNG thay xăng dầu, vì đem lại hiệu
quả kinh tế, đồng thời giảm thiểu các chất độc hại trong khí thải.
19
4.4.1.5 Phát triển các giao dịch phái sinh trong thương mại xăng dầu
Trong tương lai khi Việt Nam không còn trợ cấp giá thì giá bán lẻ
4.4.2.4 Giảm mức thu điều tiết của các nhà máy lọc hóa dầu
Trước đây nhằm thu hút đầu tư, Việt Nam đã cho phép thu điều
tiết, trong thời gian tới Chính phủ cần giảm thời gian thu điều tiết và mức
thu xuống đối với các loại sản phẩm từ các nhà máy lọc dầu. Khi giảm thu,
giá xăng dầu sản xuất trong nước sẽ thấp hơn so với giá nhập khẩu.
4.4.3 Nhóm giải pháp nâng cao khả năng cung ứng xăng dầu, khí từ
trong nước
4.4.3.1 Gia tăng trữ lượng dầu khí
Việt Nam cần hợp tác chặt chẽ với các quốc gia ASEAN cùng chia
sẽ quyền lợi và thống nhất ý kiến với nhau để thoả thuận với Trung Quốc
xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở biển Đông, mở ra những cơ hội hợp tác khai
thác tài nguyên dầu khí ở biển Đông, được dự báo có trữ lượng rất lớn.
Để gia tăng trữ lượng dầu khí cần thực hiện các giải pháp sau: (i)
không ngừng mở rộng khu vực tìm kiếm, thăm dò; (ii) tăng cường hợp tác,
ký hợp đồng liên doanh khai thác dầu khí với các công ty dầu khí của các
quốc gia; (iii) đưa nhanh các mỏ đã phát hiện vào khai thác và áp dụng các
công nghệ tiên tiến để nâng cao sản lượng.
4.4.3.2 Tăng tốc phát triển ngành sản xuất dầu khí.
Để đảm bảo ổn định nhu cầu dầu khí đến năm 2025 tổng công
suất phải đạt mức 750.000 thùng/ngày.
Hiện nay hoạt động khai thác dầu khí còn gặp nhiều khó khăn
hạn chế, để có nguồn dầu thô cho các nhà máy, Việt Nam cần tích
cực đàm phán ký các hiệp định hợp tác đổi lương thực lấy dầu thô
với các quốc gia có trữ lượng dầu khí lớn ở Trung Đông.
21
4.4.3.3 Phát triển hệ thống dự trữ dầu thô và các sản phẩm xăng dầu
Hệ thống dự trữ dầu thô và các sản phẩm xăng dầu bao gồm: dự trữ
4.4.6.3 Phát triển hệ thống giao thông, phương tiện vận chuyển công cộng
4.4.6.4 Phát triển sử dụng các loại năng lượng: gió, sinh khối, mặt trời và
tăng cường nghiên cứu ứng dụng công nghệ than sạch
Để thực hiện tốt các nhóm giải pháp, yếu tố mấu chốt chính là vai
trò của Chính phủ. Vai trò của Chính phủ phải tạo điều kiện thuận lợi và
tăng cường giám sát để đảm bảo các hoạt động từ khai thác, sản xuất đến
phân phối, kinh doanh xăng dầu và khí phải theo cơ chế thị trường. Những
khâu nào mà thị trường thực hiện tốt chức năng của nó, thì Chính phủ cần
tránh can thiệp và chỉ tác động ở những khâu thị trường gặp thất bại.
KẾT LUẬN
Dầu khí là loại năng lượng vô cùng quan trọng đối với mọi quốc
gia trên thế giới, Việt Nam cũng không là ngoại lệ. Trong bối cảnh hội
nhập kinh tế thế giới, để đảm bảo nhu cầu năng lượng dầu khí cho sự tăng
trưởng kinh tế, Việt Nam cần thực hiện thành công các mục tiêu sau: (1)
phát triển thị trường xăng dầu và khí trong nước; (2) nâng cao khả cung
ứng xăng dầu và khí sản xuất từ trong nước; (3) sử dụng năng lượng tiết
kiệm và hiệu quả; (4) phát triển các loại nhiên liệu sinh học; (5) kiểm soát
sự ô nhiễm của quá trình sử dụng dầu khí.
Phát triển thị trường xăng dầu theo hướng cạnh tranh là yếu tố quan
trọng để đảm bảo cung cầu dầu khí cho tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.
23
Trong bối cảnh hội nhập sâu vào kinh tế thế giới, theo xu hướng chung của
các quốc gia Việt Nam cần nhanh chóng mở cửa thị trường xăng dầu trong
nước để hội nhập với thị trường xăng dầu thế giới, nhằm tạo động lực mới
cho các hoạt động cạnh tranh. Ngoài ra để phát triển thị trường, Chính phủ
cần đẩy mạnh việc cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh
xăng dầu kém hiệu quả, đồng thời giảm mạnh và tiến đến xoá bỏ các hình
Việt Nam có trữ lượng tài nguyên dầu khí tương đối khá, nhưng
hoạt động khai thác đang gặp nhiều khó khăn, trong khi nhu cầu sử dụng lại
không ngừng gia tăng. Để tăng khả năng cung ứng dầu khí đáp ứng nhu cầu
tăng trưởng kinh tế, Việt Nam cần đẩy mạnh tiến độ xây dựng các nhà máy
lọc hoá dầu và thực hiện chiến lược đảm bảo nguồn cung nguyên liệu,
thông qua các hiệp định hợp tác chiến lược mua dầu thô hoặc trao đổi gạo,
nông sản (thế mạnh của Việt Nam) với các quốc gia có quan hệ tốt và trữ
lượng dầu khí lớn như: Arab Saudi, Kuwait, Iraq, Nga, Kazakhstan,
Venezuela.
Ngoài ra để đảm bảo hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ
môi trường, Chính phủ phải tăng cường kiểm soát ô nhiễm do sử dụng dầu
khí. Chính phủ cần thúc đẩy việc sản xuất và sử dụng nhiên liệu sinh học,
nhằm góp phần giảm ô nhiễm môi trường và giảm phụ thuộc quá nhiều vào
dầu khí. Điều cuối cùng, Chính phủ cần thực hiện đồng bộ các nhóm giải
pháp và cố gắng hoàn tất với thời gian ngắn nhất, để đảm bảo nhu cầu năng
lượng cho kinh tế Việt Nam tăng trưởng bền vững trong thế kỷ 21 ./.