PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM TRONG
QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP VÀO AFTA
2.1-/ THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ.
2.1.1-/ Thực trạng xuất khẩu của Việt Nam trước năm 1986.
Những năm trước thời kỳ đổi mới, trên tư duy kinh tế , chính trị của ta đã
nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển mạnh các hoạt động kinh tế đối
ngoại trong đó có việc thực hiện một chiến lược ngoại thương đúng đắn, năng
động, phù hợp với thực tiễn đất nước và bối cảnh quốc tế sẽ luôn luôn là động lực
trực tiếp cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng. Xong do nhiều nguyên nhân
lịch sử ( trong nước và trên thế giới) cộng với sự nóng vội mong đốt cháy giai đoạn
để đi nhanh đến chủ nghĩa xã hội, chúng ta đã nhận thức và hành động sai lầm về
con đường phát triển kinh tế nói chung và phát triển kinh tế đối ngoại và ngoại
thương nói riêng. Đó là xây dựng quan điểm duy ý chí, tự lực cách sinh, biệt lập
khép kín cùng với việc duy trì cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan
liêu bao cấp. Điều này trở thành vật cản, làm triệt tiêu các động lực, kìm hãm tốc
độ phát triển kinh tế. Riêng trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại, mặc dù ngay từ năm
1960 đã có hơn bốn mươi nước ký kết quan hệ ngoại thương với Việt Nam (miền
Bắc), nhưng thực tế cả một thời gian dài trước năm 1975, các hoạt động thương
mại của Việt Nam với thế giới bên ngoài mới chỉ tiến hành với các nước khu vực I
(khu vực XHCN). Xuất khẩu sang các nước này thường xuyên chiếm trên 70%
tổng kim ngạch xuất khẩu (KNXK).
Từ năm 1976, với chủ trương không ngừng mở rộng phân công lao động quốc
tế trên lĩnh vực kinh tế khoa học, kỹ thuật và đẩy mạnh thương mại quốc tế. Hoạt
động kinh doanh xuất khẩu đã mang tính chất của một hoạt động kinh tế vì mục
tiêu lợi nhuận. Thời kỳ này mọi hoạt động kinh doanh xuất khẩu đều do nhà nước
đặt kế hoạch bằng các chỉ tiêu, pháp lệnh. Các đơn vị kinh doanh xuất khẩu hoàn
toàn chỉ do các công ty và tổng công ty quốc doanh chuyên doanh xuất khẩu thuộc
Bộ ngoại thương đảm nhận.
Bước vào những năm đầu của thập kỷ 80, trước những đòi hỏi của thực tế và
sức ép từ cơ sở, cơ chế quản lý thương mại quốc tế và chính sách kinh tế đối ngoại
Việt Nam bắt đầu có sự thay đổi. Ngày 7/2/1980 chính phủ ra nghị điịnh 40CP quy
tăng %
1976
1977
1978
1979
1980
1981
1982
1983
1984
1985
1986
132,9
211,2
246,7
235,0
225,0
235,0
337,1
381,3
407,9
425,8
438,9
66,4
11,5
-4,7
-4,3
4,4
43,4
13,1
526,6
616,5
640,6
698,5
823
44,7
1,4
-1,9
5,4
18,6
31,4
17,1
5,4
7,5
17,8
Nguồn: Niên giám thống kê - Nhà xuât bản Thống kê Hà Nội
Qua bảng số liệu trên cũng có thể thấy được hoạt động xuất khẩu trong thời
kỳ1976-1986 là không ổn định, tốc độ tăng không đều giữa các năm. Đặc biệt có
những năm, tốc độ tăng trưởng xuât khẩu giảm. Điều này chứng tỏ mặt hàng xuất
khẩu của chúng ta thời kỳ này chưa có chỗ đứng vững chắn trên các thị trường.
Chưa có nhiều thị trường mang tính ổn định lâu dài. Những số liệu này cũng phản
ánh đúng với thực trạng xuất khẩu của thời kỳ này là chủ yếu xuất khẩu theo nghị
định thư cho nên chưa ký kết được hiệp định thư thì không thể xuất khẩu. Trong
các năm 1979, 1980, mặc dù xuất khẩu sang khu vực II tăng lên nên tổng giá trị
kim ngạch xuất khẩu vẫn được tăng. Từ năm 1980 đến 1986, giá trị xuất khẩu liên
tỵuc tăng cả về giá trị và tốc độ. Tuy tốc độ tăng có không đều giữa các năm, tốc
độ tăng bình quân là 14,7% là một dấu hiệu đáng mừng cho hoạt động xuất khẩu
củat Việt Nam. Đáng chú ý nhất là năm 1986, xuất khẩu sang khu vực I và cả sang
khu vực II đạt giá trị cao nhất trong những năm trước đó, riêng khu vực II, giá trị
xuất khẩu tăng 40,8% so với năm trước đó.
từ 1982- 1985 là 15,6%, thì dù trong hai năm 1986-1987đã đạt tới mức 27%. Riêng
năm 1989 so với năm 1988, tăng 75,3% (gần bằng mức tăng của cả 15 năm từ
1960-1975). Năm 1993, lần đầu tiên kim ngạch xuất khẩu đã vượt mức 2 tỷ USD,
tăng 21,6% so với năm 1989 và gấp hai lần so với năm 1988. Khoảng cách chênh
lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu đã rút ngắn lại từ tỷ lệ 1,7 giai đoạn 1960-1975
xuống tỷ lệ đáng kể 1/1,3. Trong những năm này (1986-1993), ngoài việc tiếp tục
duy trì quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước khu vực I, quan hệ thương
mại giữa Việt Nam với các nước khu vưch II ngày càng được mở rộng . Xuất khẩu
sang khu vực II của 5 năm (1986-1993) đã đạt được 3,5 tỷ USD, gấp
BẢNG 3 - XUẤT NHẬP KHẨU THEO KHU VỰC II THỜI KỲ (1981-1993)
Năm
Xuất khẩu
(triệu USD)
Nhập khẩu
(triệu USD)
Cán cân
ngoại thương
1981-1985
1986-1993
1989-1993
1104,7
3506,3
2308,3
2166,6
3807,6
2081,7
-1061,9
-301,2
226,6
Nguồn: Bộ thương mại -1995
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1944,2
3309,3
3795,1
4511,8
5156,4
4425,2
5121,4
6909,2
8600,0
12800,0
789,1
854,2
1038,4
1946,0
2404,0
2087,1
2580,7
2985,2
3600,0
5300,0
350,1
3633,2
87,4
1138,2
1994 là năm đầu tiên Việt Nam có kim ngạch xuất khẩu vượt hơn 2 tỷ USD. Qua
đó mới thấy được những cố gắng lớn của ngoại thương Việt Nam trong công cuộc
đổi mới. Từ năm 1995 trở đi liên tục kim ngạch xuất khẩu của năm sau cao hơn
năm trước với tốc độ tăng trưởng khá mạnh và đều vượt kế hoạch dự kiến ban đầu.
Hơn nữa tỷ trọng xuất khẩu trong tổng kim ngạch xuất khẩu có chiều hướng tăng
dần lên theo các năm. Năm 1986, xuất khẩu mới chiếm 26,8% trong tổng kim
ngạch thì đến năm 1989, đạt được 43,1% và liên tục từ năm 1989 trở đi, giá trị xuất
khẩu chiếm hơn 40% trong tổng kim ngạch xuất khẩu, và đặc biệt năm 1995, xuất
khẩu đã chiếm hơn 50% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu. Điều này chứng tỏ, xuất
khẩu đã đáp ứng được một phần ngoại tệ cho hoạt động nhập khẩu của đất nước.
Năm 1995, kim ngạch xuất khẩu đạt 2,58 tỷ R-USD , tăng 23,7% so với năm
1994. Năm 1996, kim ngạch xuất khẩu đạt 2,98% tỷ R-USD, tăng 15,7% so với
năm 1995. Năm 1997 kim ngạch xuất khẩu đạt 3,6% tỷ R-USD, tăng 20,6% so với
năm 1996, Năm 1998 kim ngạch xuất khẩu đạt 5,3% tỷ R-USD, tăng 47,2% so với
năm 1997. Tính chung cả kế hoạch 5 năm (1994-1998) tổng kim ngạch xuất khẩu
đạt gần 16,5 tỷ USD, vượt 10% so với chỉ tiêu kế hoạch đã được Quốc hội đề ra
12-15 tỷ USD, bình quân hàng năm tăng khoảng 18,7% (nếu không tính sự sụt
giảm xuất khẩu của năm 1994 thì tăng khoảng 21%). So với giai đoạn 1986-1993,
kim ngạch xuất nhập khẩu giai đoạn 1994-1998 tăng gấp hai lần, trong đó xuất
khẩu tăng hơn 2,3 lần. Số liệu phân tích trên có thể thấy rằng tốc độ tăng trưởng
ngoại thương của nước ta trong giai đoạn này là khá nhanh và cao hơn tốc độ tăng
trưởng kinh tế (8%) là phù hợp với xu thế phát triển kinh tế đã trở thành quy luật
chung của thế giới, đặc biệt là các nước có nền kinh tế mới bắt đầu đi lên đang
trong giai đoạn thực thi chính sách mở của nền kinh tế. Những kết quả , thành tựu
phát triển khả quan đó đã chứng tỏ ngoại thương Việt Nam đã từng bước trở thành
động lực trực tiếp cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa nền kinh tế và phần
quan trọng cho sự tăng trưởng và phát triển đất nước.
Cùng với tiến triển trên đây, cơ cấu giá trị các nhóm hàng xuất khẩu trong kim
ngạch xuất khẩu cũng đã có sự biến đổi phù hợp theo sự chuển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng công nghiệp hoá: tỷ trọng hàng công nghiệp tăng lên tương đối và tỷ
Đông Nam Á
ASEAN
NIC
Nhật Bản
Hàn Quốc
Trung Quốc
Châu Âu
Đông Âu
Tây Âu
Châu Mỹ
Châu Phi
Châu Úc
Không phân biệt
xuất xứ
43,3
15,0
13,0
21,0
14,0
1,1
0,3
51,0
45,0
6,0
0,7
0,2
0,3
4,7
77,0
25,0
32,0
4,6
5,0
14,0
6,0
8,0
1,4
2,0
2,2
9,4
75,0
22,9
21,7
26,0
30,0
2,2
7,6
14,5
3,0
10,9
3,4
1,2
1,2
5,4
Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư -2000
Phân tích kỹ hơn cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam trong thời kỳ này
cho thấy: Nhật Bản và các nước công nghiệp hoá ở châu á là bạn hàng chính chiếm
gần 805 tổng kim ngạch buôn bán của Việt Nam. Tron đó kim ngạch xuất khẩu của
Việt Nam sang các nước ASEAN chiếm từ 25 đến 30% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Tổng mức lưu chuyển ngoại thương giữa Việt Nam với các nước ASEAN đã tăng
trường này có tăng lên chút ít, chiếm 33% kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Trong tổng kim ngạch xuất khẩu năm 1999 phải kể đến đóng góp của khu vực
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 786 triệu USD, chiếm 10,8% trong tổng
kim ngạch xuất khẩu: Phân tích bảng số liệu cơ cấu xuất khẩu năm 1999-2000 sau:
BẢNG 6 - CƠ CẤU XUẤT KHẨU NĂM 1999-2000
Tổng kim ngạch xuất
khẩu
Đơn vị 1999 2000
Năm 2000
so với
1999
Trong đó doanh nghiệp có Triệu USD 7255,8 8850,0 122,0
vốn đầu tư nước ngoài Triệu USD 786,0 1500 190,8
Mặt hàng chủ yếu
Lạc nhân 1000 tấn 127 84 66,1
Cao su 1000 tấn 194 197 101,5
Cà phê 1000 tấn 283 404 142,8
Chè 1000 tấn 20,755 31,5 151,8
Gạo 1000 tấn 3003 3550 118,2
Dầu thô 1000 tấn 8750 9650 110,9
Than đá 1000 tấn 3647 3500 96,0
Hàng hải sản Triệu USD 651 760 116,7
Hàng dệt may Triệu USD 1150 1300 113,0
Giày dép các loại Triệu USD 530 955 180,2
Nguồn: Số liệu Bộ thương mại.
Năm 2000 là năm diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ nghiêm trọng
của các nước trong khu vực. Tham gia khối ASEAN, Việt Nam mặc dù không bị
ảnh hưởng lớn nhưng nó đã khiến cho Việt Nam phải đứng trước những khó khăn
thử thách mới. Do tác động của cuộc khủng hoảng đã làm cho hàng hoá xuất nhập
khẩu của các nước như Thái Lan, Singapo, Philipin. . lại trở lên có cạnh tranh về