SỰ CẦN THIẾT PHẢI CÓ MỘT CƠ CẤU SINH VIÊN ĐẠI HỌC PHÙ HỢP VỚI YÊU CẦU PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ KINH TẾ - Pdf 73

SỰ CẦN THIẾT PHẢI CÓ MỘT CƠ CẤU SINH VIÊN ĐẠI HỌC PHÙ HỢP
VỚI YÊU CẦU PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC CHÍNH
SÁCH HỖ TRỢ KINH TẾ
I - CƠ CẤU SINH VIÊN HỢP LÝ VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI :
1. Khái niệm và phân loại cơ cấu sinh viên :
1.1. Khái niệm cơ cấu sinh viên.
Trong thời đại ngày nay, thời đại mà trí tuệ con người là tài sản quý giá nhất
của các dân tộc thì “đi lên bằng giáo dục” là chân lý của sự phát triển. Mặt bằng
dân trí càng cao cùng với những đỉnh cao về trí tuệ là điều kiện tiên quyết quyết
định sự thắng lợi của mỗi quốc gia trong qúa trình hội nhập và phát triển về kinh
tế, tiến bộ khoa học kỹ thuật mang tính toàn cầu hiện nay.
Giáo dục luôn theo sát với sự vận động, phát triển của mỗi giai đoạn lịch sử,
đáp ứng một phần yêu cầu về nguồn nhân lực được đào tạo cho các lĩnh vực kinh
tế của xã hội đó. Đồng thời,hoạt động giáo dục là công cụ phục vụ mục tiêu chính
trị của mỗi giai cấp thống trị. Giáo dục đào tạo những con người có phong cách
đạo đức, lối sống và tư tưởng chính trị theo đường lối của giai cấp thống trị. Theo
quy luật đó, nền giáo dục Việt Nam phải là công cụ phục vụ mục tiêu chính trị của
Đảng Cộng sản Việt Nam với giai cấp lãnh đạo là giai cấp công nhân. Trong gia
đoạn hiện nay, mục tiêu chính của Đảng và Nhà nước ta là tiến hành công nghiệp
hoá - hiện đại hoá (CNH - HĐH) đất nước, rút ngắn khoảng cách của sự phát triển
giữa nước ta với các nước khác trên thế giới và trong khu vực. Vì thế, việc xây
dựng và đổi mới hệ thống giáo dục tạo ra nguồn nhân lực có trình độ kỹ thuật,
quản lý cao và nâng cao mặt bằng dân trí nhân tài cho đất nước...v.v là vấn đề
mang tính thiết yếu.
Hệ thống giáo dục Đại học là nhân tố cấu thành quan trọng của hệ thống
giáo dục. Nó đóng vai trò là cung cấp nguồn đầu vào lực lượng lao động có trình
độ kỹ thuật, quản lý cao cho nền kinh tế. Với vai trò đó, việc đổi mới hệ thống giáo
dục Đại học là vấn đề thiết yếu cần được chú trọng công cuộc đổi mới hệ thống
giáo dục, nhằm tạo ra sự thích ứng với nền kinh tế và mục tiêu của Đảng và Nhà
nước.
Đổi mới hệ thống giáo dục bậc Đại học là đổi mới cơ cấu khối lượng, cơ cấu

Cơ cấu sinh viên phân theo vùng kinh tế là trạng thái số lượng sinh viên cấu
thành cơ cấu sinh viên đào tạo bậc Đại học dựa trên tiêu thức phân định địa giới
vùng kinh tế của mỗi quốc gia.
1.2.2.2. Cơ cấu sinh viên phân theo khu vực thành thị - nông thôn.
Cơ cấu sinh viên phân theo khu vực thành thị - nông thôn là trạng thái số
lượng sinh viên bậc Đại học thuộc khu vực đó, dựa trên sự phân định tiềm thức
thành thị- nông thôn của mỗi quốc gia.
1.3. Tiêu thức đánh giá tính hợp lý của cơ cấu sinh viên :
Như trên đã phân tích, sự phát triển nền kinh tế đặt ra yêu cầu về sự phù hợp
của nguồn nhân lực có trình độ kỹ thuật, quản lý cao đối với hệ thống giáo dục bậc
Đại học, có nghĩa là phải có một cơ cấu sinh viên hợp lý.
Hiện nay còn có nhiều quan niệm khác nhau về tính hợp lý của cơ cấu sinh
viên. Trên khía cạnh nền kinh tế, cơ cấu sinh viên hợp lý là sự phù hợp với yêu cầu
sử dụng nguồn nhân lực có trình độ cao. Tính hợp lý này của cơ cấu sinh viên đào
tạo bậc Đại học được đánh giá trên một số tiêu thức sau.
* Sự cân đối giữa số lượng đào tạo của hệ thống giáo dục bậc Đại học và sử
dụng của thị trường lao động nhằm đảm bảo đào tạo đến đâu sử dụng với hiệu suất
tối đa đến đó. Tránh tình trạng thất nghiệp và chờ việc không tự nguyện của nguồn
nhân lực có trình độ ở mức cao.
* Cơ cấu sinh viên đó phải phù hợp yêu cầu của nền kinh tế với việc phát
triển các ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước trong từng thời kỳ, để tạo ra sự phát
triển đầu tiên của ngành kinh tế mũi nhọn đó. Cơ cấu phải đáp ứng được về số
lượng chất lượng của nguồn nhân lực đó.
* Cơ cấu sinh viên đó phải phù hợp với cơ cấu giai tầng xã hội. Cụ thể là
giữa khu vực thành thị và nông thôn, vùng kinh tế trọng điểm và không trọng điểm,
đảm bảo sự công bằng trong phát triển kinh tế xã hội.
* Tỷ trọng của số lượng sinh viên đào tạo trong các nhóm ngành đào tạo
phải có sự cân đối với yêu cầu của ngành đó trong từng giai đoạn phát triển của
nền kinh tế. Số lượng sinh viên phục vụ đúng chuyên ngành đào tạo phải cao.
2. Mối quan hệ giữa cơ cấu sinh viên :

của hệ thống giáo dục bậc Đại học là 4 - 5 năm do đó cơ cấu sản phẩm đó có một
độ trễ tương đương với khoảng thời gian đó. Khoảng thời gian này đối với các sản
phẩm hàng hoá thông thường thì nó vừa đủ khép kín một vòng đời sản phẩm và
bước sang giai đoạn. Với sản phẩm giáo dục bậc Đại học thì đó chỉ là khoảng thời
gian trang bị kiến thức nhằm hoàn thiện sản phẩm. Nhân tố độ trễ tạo ra khoảng
cách giữa đào tạo hiện tại với nhu cầu trong thời gian tới là 4 - 5 năm, do đó những
gì mà cơ cấu sinh viên căn cứ để hình thành cơ cấu có hiện nay có thể sau khi ra
trường không đúng nữa. Nguyên nhân về độ trễ làm cho chúng ta phải có những dự
báo dựa trên định hướng phát triển kinh tế trong khoảng thời gian từ 4 - 5 năm
hoặc dài hơn là từ 5 - 10 năm cho cơ cấu sinh viên.
* Đặc điểm không tuân thủ một cách khách quan theo thị trường lao động đó
chính là yếu tố đạo đức, lối sống, thuần phong mỹ tục của người sinh viên trong cơ
cấu đào tạo. Những nhân tố đạo đức, lối sống v.v là nhân tố không định hình trong
sinh viên, nó luôn được chú trọng và xây dựng trong mỗi cá nhân ngày càng tốt
hơn và không có giới hạn nào cho mình. Do đó, thị trường lao động không thể nêu
ra mức cầu là bao nhiêu với nhân tố đạo đức, lối sống v.v khi yêu cầu với nguồn
lao động có trình độ kỹ thuật, quản lý cao, và càng không thể tác động nhằm xây
dựng một định chuẩn về đạo đức, lối sống v.v gắn với cơ cấu nhân lực có trình độ
bậc Đại học. Nhân tố không định hình về đạo đức, lối sống v.v luôn thể hiện trong
những hoạt động của đời sống thường ngày, tác động đến sự phát triển trong đời
sống văn hoá - tinh thần của xã hội.
Bên cạnh những đặc điểm về sự hình thành mang tính khách quan, độ trễ,
hay sự không định hình của đạo đức, lối sống của cơ cấu sinh viên, thì cơ cấu sinh
viên còn có những đặc điểm về giai tầng, trình độ nhận thức, độ tuổi v.v. Những
đặc điểm đó tạo cho cơ cấu sinh viên có đặc điểm giống đặc điểm của sản phẩm
thông thường và cũng có sự khác biệt với các sản phẩm thông thường trong thị
trường.
2.2. Vai trò của cơ cấu sinh viên hợp lý với sự phát triển kinh tế.
Vai trò của giáo dục với sự phát triển ngày càng thể hiện rõ thông qua các
dấu ấn trực tiếp của sản phẩm giáo dục trong bất kỳ một sản phẩm nào dưới dạng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status