THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP
PHƯỜNG
Hệ thống chính quyền ở nước ta được tổ chức theo 4 cấp : cấp trung ương, cấp
tỉnh ( thành phố trực thuộc trung ương ), cấp huyện ( quận, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh ) và cấp cơ sở ( xã, phường, thị trấn ). Đặc điểm cơ bản của chính quyền cấp
cơ sở là cấp gần dân nhất, trực tiếp quan hệ với nhân dân, phạm vi công tác quản lý
rộng, bao quát nhiều lĩnh vực hoạt động : chính trị, hành chính, kinh tế, an ninh,
văn hoá, xã hội trên địa bàn.
Bất cứ một cơ quan, một cấp quản lý nào thuộc hệ thống hành chính nhà nước
cũng phải lấy hiệu lực, hiệu quả quản lý làm mục tiêu hoạt động, làm tiêu chí đánh
giá năng lực về mặt tổ chức, thể chế, cán bộ công chức, kiểm soát điều
hành....trong nội bộ từng cơ quan, cấp quản lý của mình và trong cả hệ thống.
Hoạt động quản lý của chính quyền cấp phường là hoạt động tổng hợp các yếu
tố của công tác lãnh đạo và điều hành. Việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và
quyền hạn của cấp phường là quá trình hoạt động đan xen của nhiều cơ quan, tổ
chức, đoàn thể và cá nhân trong việc cụ thể hoá các chủ trương, biện pháp, vạch ra
các kế hoạch và huy động lực lượng để thực thi. Là cấp quản lý ở cơ sở, chính
quyền cấp phường quản lý hầu hết các lĩnh vực kinh tế chính trị xã hội trên quy mô
nhỏ. Tính công vụ hàng ngày mà cấp phường thực hiện là rất lớn về số lượng và rất
phong phú, phức tạp về nội dung, loại hình. Chính quyền phường phải thường
xuyên nắm bắt xử lý các thông tin phản hồi từ phía nhân dân, thực thi có hiệu quả
những hoạt động quản lý. Nhiệm vụ quản lý nhà nước mà chính quyền cấp phường
phải đảm nhận bao gồm tất cả các lĩnh vực hoạt động của các tổ chức và công dân
cư trú trên địa bàn phường, chủ yếu tập trung vào một số lĩnh vực sau :
1. Quản lý kinh tế
Đối với chính quyền phường thì việc tổ chức và quản lý kinh tế trên địa bàn là
sử dụng quyền lực nhà nước để đảm bảo và khuyến khích các đơn vị, các tổ chức
sản xuất, kinh doanh dịch vụ của tất cả các thành phần kinh tế phát triển đúng
chính sách và pháp luật. Chính quyền phường không can thiệp vào hoạt động kinh
doanh, bảo đảm quyền tự chủ của các đơn vị sản xuất kinh doanh miễn là họ không
làm trái pháp luật.
ít sai sót.
Bảng 4 : Tình hình thu, chi ngân sách phường thuộc quận Ba Đình từ năm
1996 - 2000
( Đơn vị tính : nghìn đồng )
STT Tiêu
chí
Năm
1996 1997 1998 1999 2000
1 Thu 12.388.157 13.060.255 10.747.480 14.813.491 13.703.871
2 Chi 11.392.333 10.816.325 7.460.591 10.895.594 12.568.392
3 Dư 995.824 2.243.939 3.286.889 3.917.897 1.135.479
( Nguồn : Tổng hợp từ Báo cáo thu chi ngân sách các phường thuộc quận Ba Đình
giai đoạn 1996 – 2000 )
Bảng 4 cho thấy tình hình thu chi ngân sách nói chung của các phường trên địa
bàn quận Ba Đình là tương đối cân đối. Từ năm 1996 đến năm 2000 không có năm
nào chi vượt thu. Tuy nhiên, ta cũng có thể thấy rằng trong 5 năm mà hầu như ngân
sách của các phường không có sự thay đổi lớn. Thậm chí có những năm ngân sách
còn thâm hụt so với năm trước như năm 1998 và 2000. Ngân sách là một trong
những tiêu chí cơ bản nói lên tốc độ phát triển của địa phương, không có ngân sách
thì không thể nói đến chuyện tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội. Trong bối cảnh
thành phố và cả nước đang phát triển từng ngày, trong thời đại của công nghiệp hoá
và hiện đại hoá mà trong suốt một khoảng thời gian dài là 5 năm ngân sách của các
phường trong quận Ba Đình - một quận trung tâm của thủ đô - lại không có sự tăng
trưởng đáng kể là một dấu hiệu không mấy khả quan cho tình hình phát triển của
quận.
Trên địa bàn quận Ba Đình hiện có 5338 đơn vị kinh tế đang hoạt động, trong
đó số hợp tác xã là 30, số doanh nghiệp nhà nước là 148, doanh nghiệp tư nhân là
214, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 14 và kinh tế gia đình là 4932 hộ.
Tuy nhiên, như đã trình bày, vai trò của chính quyền phường trong việc quản lý đối
với các đơn vị kinh tế này chỉ tồn tại trong một phạm vi rất hạn hẹp. Cụ thể, chính
5112 4969 4832 4785 5060
2 Số lao động được
giải quyết việc
làm
3672 3459 3561 3597 2952
( Nguồn : Tổng hợp từ Báo cáo tình hình lao động và giải quyết việc làm các
phường thuộc quận Ba Đình giai đoạn 1996 – 2000 )
Nhìn vào bảng trên chúng ta thấy rằng số lao động không có việc làm trên địa
bàn các phường của quận Ba Đình đã có những thay đổi nhất định trong các năm
từ 1996 đến 2000. Trong 4 năm đầu số lượng lao động không có việc làm tại các
phường đã giảm dần. Đó là một dấu hiệu đáng mừng. Tuy nhiên, đến năm 2000 số
lượng này lại tăng đáng kể, đạt gần bằng con số cũ của năm 1996, điều này thể
hiện một sự sa sút của chính quyền cấp phường trong hoạt động quản lý lĩnh vực
này.
Đối với số lao động được giải quyết việc làm, tình hình cũng diễn ra gần tương
tự. Trong hai năm 1998, 1999 số lao động được giải quyết việc làm của các
phường đã tăng hơn những năm trước. Nhưng năm 1997 con số này lại nhỏ hơn
năm 1996 và năm 2000 lại nhỏ hơn tất cả các năm trước. Rõ ràng đây cũng là một
dấu hiệu nói lên sự thụt lùi của chính quyền cấp phường trong hiệu quả quản lý
trên lĩnh vực lao động và việc làm.
Tỷ lệ thất nghiệp ở nước ta hiện nay còn đang ở mức cao, đặc biệt là ở đô thị
với tỷ lệ là trên 6 %, đô thị lớn như Hà Nội có thể lên tới 7 - 8 % . Do vậy, vai trò
của chính quyền cơ sở ở đô thị trong lĩnh vực giải quyết việc làm cho người lao
động là rất cần được phát huy, tuy nhiên, như chúng ta thấy qua những số liệu nêu
trên, hiệu quả hoạt động của chính quyền phường trong lĩnh vực này hiện nay còn
rất hạn chế và chưa có dấu hiệu tiến triển tốt.
Bảng 6 : Tình hình lao động công ích của các phường thuộc quận Ba Đình từ
năm 1996 - 2000
( Đơn vị tính : ngày công )
Năm
1996 1997 1998 1999 2000
1 Ngọc Khánh 07 16 14 18 15
2 Kim Mã 05 17 16 04 03
3 Giảng Võ 04 13 15 10 06
4 Thành Công 08 21 32 48 09
5 Điện Biên 03 14 16 23 07
6 N. Trung Trực 06 15 27 33 12
7 Phúc Xá 07 19 18 16 04
8 Trúc Bạch 04 11 12 54 05
9 Ngọc Hà 05 12 40 57 17
10 Quán Thánh 04 10 29 26 16
11 Đội Cấn 06 15 34 40 16
12 Cống Vị 09 21 61 52 42
Tổng cộng 68 184 341 381 152
( Nguồn : Tổng hợp từ Báo cáo tình hình công tác xoá đói giảm nghèo của các
phường thuộc quận Ba Đình giai đoạn 1996 – 2000 )