THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
I. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của Hà Nội ảnh hưởng đến công tác
quản lý nhà nước về đất đai.
1. Điều kiện tự nhiên:
Vị trí địa lý:
Hà Nội nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc bộ, trong khoảng toạ độ địa lý từ 20độ
54' đến 21độ 22' vĩ độ Bắc, từ 105 độ 4' đến 106 độ kinh đông. Phía Bắc giáp tỉnh
Bắc Giang, phía đông giáp tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, phía Tây giáp tỉnh Hà Tây,
Vĩnh Phúc. Vị trí này rất thuận lợi do ở giữa đồng bằng đông dân trù phú, có các
đầu mối giao thông quan trọng, là nơi qui tụ và toả rộng của mạng luới giao thông
Khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa chủ yếu là mùa nóng và mùa lạnh, nhiệt
độ trung bình hàng năm là 23,9
0
Hà Nội có hệ thống sông ngòi khá dày đặc với các con sông lớn như sông Hồng,
sông Kim Ngưu, Tô Lịch...,có nhiều đầm hồ tự nhiên với tổng diện tích hiên nay là
3620ha với các hồ đầm lớn như hồ Tây, hồ Bảy Mẫu, Hoàn Kiếm, Linh Đàm..
Các nguồn tài nguyên :
Hà Nội có nguồn tài nguyên đất phong phú với 8 loại đất chính. Trong đó đất phù
sa là 36769ha phân bố tập trung ở nhiều huyện Thanh Trì, Từ Liêm, Gia Lâm. Đất
bạc màu là 16819ha tập trung ở hai huyện Sóc Sơn và Đông Anh.
Về tài nguyên rừng: Có 6128ha đất lâm nghiệp chủ yếu phân bố ở huyện Sóc Sơn.
Về tài nguyên khoáng sản: Nhóm nhiên liệu than bùn ở Đông Anh, Sóc Sơn với trữ
luợng 65,661tấn, có vàng sa khoáng ở Minh Trí huyện Sóc Sơn phân bố kéo dài
500m, bề rộng từ 30 đến 50m.
Về môi trường: Hà Nôi chưa phải là thành phố ô nhiễm nhưng đang tồn tại những
thực tế đáng lo ngại. Mật độ dân số cao 2919 người/km
2
và 16995 người/km
2
ở khu
- Dịch vụ NN - 29.216 30.313
2.Thuỷ sản 51.298 58.068 59.343
3.Lâm nghiệp 12171 11828 10752
Nguồn : Niên giám thống kê 2000-2001
Nhìn chung sản xuất nông ngiệp phát triển tốc độ chậm, chuyển dịch cơ cấu
chưa mạnh thêm vào đó diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm do quá trình đô
thị hoá, nhân khẩu ngày càng tăng. Dự kiến đến năm 2010 diện tích đất nông
nghiệp sẽ giảm 2,3% một năm
+ Ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp:
Năm 2001, Hà Nội có 290 doanh nghiệp nhà nước, 180 doanh nghiệp công
nghiệp trung ương và 120 doanh nghiệp địa phương, 15030 doanh nghiệp ngoài
quốc doanh, 250 đơn vị hợp tác xã, 580 công ty trách nhiệm hữu hạn cổ phần, 70
doanh ngiệp tư nhân và 14230 đơn vị kinh tế hộ gia đình, cá thể... nên nhu cầu sử
dụng đất đai của các tổ chức đơn vị này là rất lớn để thực hiện phát triển công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của thành phố.
3. Điều kiện xã hội:
Quá trình đô thị hoá với việc gia tăng dân số cơ học đang gây áp lực lớn về nhu
cầu sử dụng đất ở cho số dân phát sinh. Dân số thành phố Hà Nội năm 1995 là 2431
nghìn người, trong đó dân số nông thôn là 1156,1 nghìn người, đô thị là 1274,9
nghìn người. Năm 1998 là 2621 nghìn người, trong đó khu vực nông thôn là 1125,1
nghìn người, khu vực đô thị là 1496,4 nghìn người. Năm 2000 là 2739,2 nghìn
người, trong đó khu vực nông thôn là 1152,7 nghìn người, khu vực đô thị là 1586,5
nghìn người. Năm 2001 là 2841,7 nghìn người, trong đó khu vực nông thôn là
1198,1 nghìn người, khu vực đô thị là 1643,6 nghìn người. Có sự phân bố chênh
lệch rất lớn giữa các khu dân cư, giữa các quận nội thành với các huyện ngoại
thành. Mật độ dân số cao nhất là ở quận Đống Đa 33404 người/km
2
và
thấp nhất là
dự án phát triển kinh tế xã hội. Để xứng đáng với vai trò là Thủ đô và trở thành
một thành phố hiện đại, là trung tâm chính trị- văn hoá- kinh tế xã hội của cả nước,
Hà Nội đã tiến hành mở rộng và xây dựng mới nhiều công trình, cơ sở hạ tầng như
hệ thống thông tin liên lạc, đường sá giao thông, bệnh viện trường học và đặc biệt
là những công trình trọng điểm của quốc gia như xây dựng sân vận động, nhà thi
đấu để phục vụ cho SEAGAMES 22 tới đây hay việc mở rộng sân bay Nội Bài, xây
dựng làng quốc tế Thăng Long... Việc dành đất cho các nhu cầu này là tất yếu, tuy
vậy sự phát triển này không tránh khỏi việc mất đi một diện tích đất nông nghiệp
màu mỡ. Trong những năm gần đây Hà Nội đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế
cao. Tốc độ đô thị hoá nhanh kéo theo sự gia tăng dân số kèm theo các nhu cầu của
đời sống và sản xuất gây sức ép mạnh mẽ lên hệ thống kết cấu hạ tầng của thành
phố đặc biệt là giao thông, điện, nước, nhà ở và địa điểm sản xuất cho người dân.
Diện tích chỗ ở bình quân đầu người rất thấp chưa được 10 m
2
/người, nhất là ở các
khu phố cổ của Hà Nội, con số này chỉ đạt từ 5-6 m
2
/người. Điều kiện chỗ ở không
đảm bảo cho người dân bởi vậy tình trạng lấn chiếm, tranh chấp đất đai xẩy ra. Họ
cũng tìm mua những mảnh đất ở vùng ven đô, làm gây ra những cơn sốt đất. Dân
số tăng chủ yếu là do các luồng di cư từ nông thôn ra thành thị nhất là trong những
vụ nông nhàn. Người nông dân đổ xô ra thành phố để làm thêm, ngoài ra một số
lượng lớn sinh viên từ các tỉnh đổ về Hà Nội học. Phần lớn dòng người di cư này
đều cố gắng bám trụ ở lại Hà Nội bởi vậy làm cho dân số Hà Nội ngày càng đông
trong điều kiện diện tích đất đai chật hẹp. Vì vậy nhu cầu lương thực, thực phẩm
hàng ngày để đáp ứng cho cuộc sống của người dân là rất bức xúc và cần có nhiều
cơ sở xí nghiệp, địa điểm sản xuất kinh doanh để đáp ứng cho việc cung cấp lương
thực cho người dân. Hiện nay cơ cấu kinh tế của Hà Nội là dịch vụ- thương mại-
công nghiệp- nông nghiệp trong đó dịch vụ thương mại được ưu tiên phát triển
hàng đầu và cùng với quá trình đô thị hoá, loại hình cơ cấu kinh tế này ngày càng